Văn Hóa
Lược Sử Giáo Hội Công Giáo, Chương 2: Giáo hội lan rộng khắp đế quốc
Vũ Văn An
00:36 11/08/2026
Chương 2: GIÁO HỘI LAN RỘNG KHẮP ĐẾ QUỐC

Sự phục sinh của Chúa Giê-su là điểm khởi đầu của đức tin Ki-tô giáo. Ý niệm về sự phục sinh đã xuất hiện trong Do Thái giáo từ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, nhưng các Ki-tô hữu đã tìm thấy niềm tin vào sự phục sinh của họ được làm sáng tỏ và chắc chắn hơn thông qua đức tin vào sự phục sinh của Chúa Giê-su. Họ lần đầu tiên bày tỏ niềm tin này trong nhiều công thức ngắn gọn khác nhau, chẳng hạn như chúng ta tìm thấy trong Thư thứ nhất của Thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rin-tô: “Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta theo như Kinh Thánh… Người đã được chôn cất và, theo như Kinh Thánh, đã sống lại vào ngày thứ ba.”
Sách Công vụ các Tông đồ mô tả chính Giáo hội chỉ mới bắt đầu với sự hiện xuống của Thánh Linh trong ngày Lễ Ngũ Tuần—nghĩa là, sự kiện xảy ra vào ngày Lễ Ngũ Tuần của người Do Thái ngay sau sự phục sinh, khi những tín hữu đầu tiên được tràn đầy Thánh Linh, Đấng đã củng cố đức tin của họ và khơi dậy trong họ lòng nhiệt thành để làm chứng công khai và thúc giục người khác tin, ăn năn và chịu phép rửa. Họ chia sẻ một tình thân ái sâu sắc trong tình yêu thương và cầu nguyện, tập trung vào việc bẻ bánh Thánh Thể tại nhà của họ—vâng theo mệnh lệnh của Chúa tại Bữa Tiệc Ly là lặp lại lời nói và hành động của Người.
Cộng đồng tín hữu nhỏ bé này ở Giê-ru-sa-lem được dẫn dắt bởi mười hai người được cho là do chính Chúa Giê-su chọn lựa khi Người còn sống và sau này được gọi là tông đồ. Theo sách Công Vụ Các Tông Đồ, người lãnh đạo và phát ngôn viên của họ là Phê-rô (hay Kê-pha). Theo Thánh Phao-lô, Thánh Phê-rô là người đầu tiên nhìn thấy Chúa Giê-su phục sinh, trong khi sách Công Vụ mô tả ngài là vị tông đồ giảng bài thuyết giáo đầu tiên và thực hiện phép lạ đầu tiên. Hai người khác nổi bật trong giai đoạn này là Thánh Gio-an, người có mối liên hệ mật thiết với Thánh Phê-rô trong sách Công Vụ; và Thánh Gia-cô-bê, người dường như kế nhiệm Thánh Phê-rô làm người lãnh đạo cộng đồng Giê-ru-sa-lem sau khi Thánh Phê-rô rời đó để làm công tác truyền giáo.
Câu chuyện về việc cộng đồng tín hữu nhỏ bé này lan rộng đến nhiều thành phố của Đế quốc Rô-ma trong vòng chưa đầy một thế kỷ thực sự là một chương đáng chú ý trong lịch sử nhân loại. Khi cố gắng tìm hiểu câu chuyện này ở đây, chúng ta phải nhận ra rằng nguồn tư liệu của chúng ta có hạn và chúng ta phải chấp nhận nhiều khoảng trống trong thông tin. Tuy nhiên, vẫn có thể ghép lại câu chuyện cơ bản.
Chúng ta cần nhớ rằng các tông đồ đầu tiên đều là người Do Thái, và những người trở lại đạo đầu tiên của họ cũng vậy. Trong một thời gian, Giáo hội vẫn hoàn toàn là người Do Thái, một giáo phái trong Israel gồm những người tin vào sự phục sinh của Chúa Giê-su và coi Người là Đấng Mê-xi-a đã được hứa hẹn, người sắp trở lại để thiết lập vương quốc của Thiên Chúa một cách dứt khoát.
Đức tin mới của họ không đòi hỏi họ phải đoạn tuyệt với Đền thờ hay Lề luật. Thực thế, sách Công vụ các Tông đồ nhấn mạnh lòng trung thành của họ với việc cầu nguyện hằng ngày trong Đền thờ. Một số nhà lãnh đạo Do Thái, đặc biệt là phái Sa-đốc, coi các Ki-tô hữu là một nhóm người ngoại lai không tuân thủ và muốn đàn áp họ. Nhưng các nhà lãnh đạo Do Thái đã không thể làm được điều đó vì dư luận ủng hộ các Ki-tô hữu và ngưỡng mộ lòng mộ đạo sốt sắng và sự trung thành của họ với phong tục Do Thái.
Sự lan rộng của Giáo hội ra ngoài Giê-ru-sa-lem diễn ra rất dần dần khi các môn đệ mang thông điệp của mình đến nhiều cộng đồng Do Thái rải rác dọc bờ biển Địa Trung Hải. Ban đầu, họ chỉ tập trung vào việc truyền giáo cho những người Do Thái đồng hương, chắc chắn là theo đúng lời dạy của chính Chúa Giê-su, người đã nói rằng Người đến chỉ để rao giảng cho “những con chiên lạc của nhà Israel”. Nhóm đầu tiên phá vỡ phong tục này có lẽ là một số người Do Thái bất đồng chính kiến có mối liên hệ mật thiết với văn hóa Hy Lạp và quan điểm không chính thống về việc thờ phượng trong Đền thờ Do Thái. Người lãnh đạo của họ, Stê-pha-nô, một phó tế, đã bị bắt và bị tố cáo trước Tòa Công nghị vì tội chống lại Đền thờ. Khi bị thầy tế lễ thượng phẩm thẩm vấn, ngài đã kịch liệt phản bác những người Do Thái đồng hương, gọi họ là “những người cứng đầu, với… tấm lòng và đôi tai ngoại đạo”. (6) Stê-pha-nô bị ném đá đến chết, và sự tử đạo của ngài đã châm ngòi cho một cuộc bách hại chung; những người theo ngài tìm nơi nương náu ở những nơi khác và bắt đầu rao giảng Tin Mừng ở bất cứ nơi nào họ đến.
Có vẻ như chính tại An-ti-ô-kia, họ đã thực hiện bước đi mang tính cách mạng, điều sẽ có những hậu quả to lớn đối với sự lan rộng của Giáo hội và lịch sử thế giới. Tại đây, họ lần đầu tiên rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại và dám làm phép rửa cho họ. Và họ đã biến thành phố này thành trung tâm của công tác truyền giáo giữa những người ngoại đạo.
Sự đổi mới này chắc chắn đã gây khó chịu cho nhiều người mộ đạo, những người không tìm thấy chỗ trong đức tin của họ cho ý tưởng truyền giáo cho những người ngoại đạo. Nhưng ban đầu họ vẫn chấp nhận. Một thái độ tự do đối với những người ngoại đạo trở lại đạo dường như chiếm ưu thế trong Giáo hội: Họ không bắt buộc phải cắt bì hoặc tuân thủ Luật Do Thái. Nhưng khi số lượng người ngoại đạo gia nhập Giáo hội ngày càng tăng, những người có tư tưởng truyền thống hơn đã cảm thấy lo ngại, họ yêu cầu họ phải cắt bì và tuân theo Luật Do Thái. Chắc chắn có một nỗi sợ rằng Giáo hội sẽ bị nhấn chìm bởi những người ngoại đạo này, và đánh mất bản chất Do Thái của nó. Và vì vậy, Giáo hội đã bị cuốn vào cuộc tranh luận lớn đầu tiên, làm rung chuyển tận gốc rễ; về cơ bản, đó là câu hỏi liệu Giáo hội sẽ vẫn là một vấn đề độc quyền của người Do Thái hay sẽ mở rộng ra bao trùm toàn thể nhân loại.
Người đóng góp nhiều nhất vào việc giải quyết vấn đề này là Sao-lô thành Tác-sô, được biết đến với tên Rô-ma là Phao-lô. Chính Phao-lô đã loại bỏ phần lớn bản chất Do Thái khỏi Tin Mừng và điều chỉnh nó để thu hút toàn thể nhân loại.
Thực thế, đối với ngài, chính yếu tính của Tin Mừng đang bị đe dọa trong cuộc tranh luận về phép cắt bì; việc yêu cầu người ngoại đạo thực hành Luật Do Thái sẽ tương đương với việc nói rằng đức tin vào Chúa Giê-su phục sinh là chưa đủ để được cứu rỗi; việc tuân giữ Lề luật cũng là điều cần thiết.
Sự hiểu biết của Thánh Phao-lô về Tin Mừng như một sự giải phóng khỏi Lề luật không phải là một lý thuyết học thuật mà ngài đã nghiên cứu; nó nằm ở chính trung tâm của kinh nghiệm hoán cải đã biến ngài từ một người tận tụy với Lề luật thành một môn đệ nhiệt thành của Chúa Giê-su. Là một giáo sĩ nhiệt thành, học trò của Ga-ma-li-en vĩ đại ở Giê-ru-sa-lem và sau đó là một nhân vật quan trọng trong các hội đường ở đó, Thánh Phao-lô có thể nói: “Tôi nổi bật giữa những người Do Thái khác cùng thế hệ [về lòng nhiệt thành] đối với truyền thống của tổ tiên tôi” (phần trong ngoặc là lời diễn giải của tôi). (7) Ngài thậm chí còn trở thành người bách hại các môn đệ và có mặt tại vụ ném đá Stê-pha-nô.
Nhưng rồi một tia sét tâm linh ập đến! Ngài đã có một trải nghiệm tức thì về Chúa Giê-su phục sinh. Thế giới tâm linh của ngài đảo lộn; ngài nhận ra rằng với việc xuất hiện của Chúa Giê-su, thời đại của Lề luật đã qua. “Tôi coi mọi thứ như rác rưởi nếu tôi chỉ có thể có Đấng Ki-tô và được ban cho một chỗ trong Người. Tôi không còn cố gắng đạt đến sự hoàn hảo bằng nỗ lực của riêng mình, sự hoàn hảo đến từ Lề luật, mà tôi chỉ muốn sự hoàn hảo đến từ đức tin nơi Đấng Ki-tô, và đến từ Thiên Chúa và dựa trên đức tin.” (8) Trực giác cốt lõi này về ý nghĩa của việc Đấng Ki-tô xuất hiện từ đó về sau đã chi phối tất cả các bài giảng và bài viết của ngài.
Vì vậy, khi Thánh Phao-lô nghe những người theo truyền thống nói rằng người ngoại phải chịu phép cắt bì, ngài nhấn mạnh: “Điều làm cho một người trở nên công chính không phải là sự vâng phục Lề luật, mà là đức tin nơi Chúa Giê-su Ki-tô… nếu Lề luật có thể biện minh cho chúng ta, thì cái chết của Chúa Ki-tô chẳng có ý nghĩa gì… Khi Chúa Ki-tô giải phóng chúng ta, Người muốn chúng ta được tự do mãi mãi. Vậy nên, hãy đứng vững và đừng để mình bị đặt dưới ách nô lệ nữa.” (9)
Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc xung đột trở nên gay gắt và cay đắng, và sự hiệp nhất của Giáo hội bị căng thẳng nghiêm trọng, đặc biệt là tại An-ti-ô-ki-a, nơi cộng đồng Ki-tô giáo phần lớn là người ngoại. Những anh em Ki-tô hữu Do Thái của họ, những người trước đây không hề ngần ngại tham gia các bữa ăn chung tham dự cùng với Thánh Thể, giờ đây đã rút lui do áp lực từ những người muốn duy trì mối liên hệ với Do Thái giáo. Ngay cả Thánh Phê-rô, người cùng quan điểm với Thánh Phao-lô, cũng đã dao động trong giây lát và rời bỏ bàn ăn chung. Thánh Phao-lô rất phẫn nộ và khiển trách ngài trước mặt mọi người.
Việc giải quyết vấn đề không thể trì hoãn vô thời hạn, vì vậy một hội nghị đã được tổ chức tại Giê-ru-sa-lem, có lẽ vào năm 49. Chắc chắn đó là một phiên họp dài và đầy sóng gió. Cuối cùng, Thánh Phê-rô lập luận ủng hộ sự tự do cho người ngoại, viện dẫn kinh nghiệm cho thấy những người ngoại không chịu phép cắt bì cũng sở hữu Thánh Linh. Thánh Phê-rô kết luận: “Chúng ta tin rằng chúng ta được cứu rỗi giống như họ: nhờ ân sủng của Chúa Giê-su.” (10)
Tuy nhiên, chính Thánh Gia-cô-bê là người đã tóm tắt cuộc tranh luận và đưa ra phán quyết: Phép cắt bì sẽ không bắt buộc đối với người ngoại. Nhưng để xoa dịu sự nhạy cảm của những người theo truyền thống và bảo toàn sự hiệp nhất trong việc cùng ăn uống, một thỏa hiệp đã được dàn xếp: Tất cả mọi người sẽ phải tuân theo một số luật lệ của người Do Thái; phải kiêng cữ bất cứ thức ăn nào được dâng tế lễ cho ngẫu thần; quan hệ tình dục bất chính bị cấm, và một số quy định về ăn uống của người Do Thái được áp đặt, đặc biệt là những quy định cấm ăn thịt còn máu (máu được coi là nơi ở của sự sống và do đó thuộc về Thiên Chúa). Thịt của những con vật bị siết cổ đến chết—nghĩa là những con vật không bị giết theo nghi lễ Do Thái—cũng bị cấm.
Điều này không ngay lập tức giải quyết được mọi bất đồng; một số người ngoan cố từ chối tuân theo và sau đó đã gây khó dễ cho Thánh Phao-lô bằng cách đến thăm các hội thánh của ngài để dẫn dắt họ trở lại với việc tuân thủ nghiêm ngặt các nghi lễ Do Thái. Nhưng những người theo truyền thống này đang chiến đấu một trận chiến vô vọng; các trụ cột của Giáo hội đã quyết định chống lại họ trong một cuộc tranh luận công khai tại một phiên họp toàn thể. Sự hiểu biết của Thánh Phao-lô về Tin Mừng đã được Giáo hội chấp nhận như của riêng mình. Giáo hội chính thức từ bỏ đặc điểm Do Thái độc quyền của mình và trở thành Giáo hội của toàn nhân loại. Đó là một bước ngoặt lớn trong lịch sử Giáo hội và của thế giới.
Tương lai của Giáo hội nằm ở những người ngoại đạo và giờ đây cánh cửa đã rộng mở, Thánh Phao-lô không chậm trễ trong việc đi ra để quy tụ họ lại. Tham vọng của ngài là mang Tin Mừng đến cho tất cả mọi người. Toàn thế giới; những chuyến truyền giáo kéo dài đã đưa ngài đi khắp Tiểu Á và đến Hy Lạp, nơi ngài để lại các hội thánh ở I-cô-ni-ô, Lýt-ra, Cô-lô-sê, Phi-líp-phê, Tes-sa-lô-ni-ca, Bê-roi-a, A-thê-na, Cô-rin-tô, Ê-phê-sô và nhiều nơi khác.
Ngài chỉ đến những thị trấn mà Tin Mừng chưa được rao giảng, và phương pháp thường lệ của ngài là bắt đầu từ hội đường, nơi ngài cố gắng chứng tỏ cho người Do Thái và những người trở lại đạo tụ họp lại để dự lễ rằng Chúa Ki-tô là sự ứng nghiệm của những lời hứa trong Cựu Ước. Thường thì, như ở Cô-rin-tô, kết quả khá rắc rối. Khi họ chống lại ngài trong hội đường Cô-rin-tô và bắt đầu sỉ nhục ngài, ngài nói: “Máu của các ngươi sẽ đổ trên đầu các ngươi… từ nay trở đi tôi sẽ hướng về dân ngoại.” Và như thường lệ, ngài thành công hơn với người Cô-rin-tô ngoại đạo, nhiều người trong số họ đã nghe ngài và trở thành tín hữu và chịu phép rửa. Bằng cách này, ngài đã để lại những hội thánh nơi việc phân biệt giữa người Do Thái và dân ngoại không còn quan trọng.
Những bức thư của ngài gửi cho các cộng đồng non trẻ cho thấy Thánh Phao-lô là người đầu tiên và vĩ đại nhất trong hàng ngũ những người định hình lịch sử Giáo hội: những người kết hợp chiều sâu kinh nghiệm tôn giáo sâu sắc với khả năng tổ chức phi thường — những người như Au-gus-ti-nô, Bernard, Loyola, Luther và Wesley. Những bức thư của Thánh Phao-lô chứa đựng những hiểu biết thần học sâu sắc, đặt nền móng cho sự phát triển của thần học trong tương lai, đồng thời cũng cho thấy sự quan tâm đáng kể của ngài đến từng chi tiết nhỏ trong đời sống của các hội thánh.
Nhờ quyết định của Giê-ru-sa-lem cho phép tự do cho dân ngoại và nhờ những nỗ lực phi thường của Thánh Phao-lô và các nhà truyền giáo khác, Giáo hội đã lan rộng với tốc độ đáng kinh ngạc. Chúng ta biết rằng, chẳng hạn, vào năm 59, Thánh Phao-lô cảm thấy rằng ngài đã cạn kiệt khả năng của mình ở phía đông Địa Trung Hải. “Suốt dọc đường, từ Giê-ru-sa-lem đến I-ly-ri (Illyricum), tôi đã rao giảng Tin Mừng của Chúa Ki-tô hết sức mình.” (11) Và chúng ta có thể suy luận một cách hợp lý rằng những vùng đất được đề cập mà chính ngài chưa truyền giáo thì đã được những người khác truyền giáo.
Thánh Phao-lô giờ đây hướng tầm nhìn đến Tây Ban Nha, tỉnh Rô-ma cổ nhất và là trung tâm chính của nền văn minh Rô-ma ở phía tây Địa Trung Hải. Nhưng trước khi có thể dong buồm đến phương Tây, có một vấn đề vô cùng quan trọng cần phải giải quyết. Ngài phải đến thăm Giê-ru-sa-lem một lần nữa để trao khoản quyên góp cho người nghèo mà ngài đã thu được trong các hội thánh của ngài. Ngài cũng hy vọng rằng điều này sẽ tạo cơ hội để đạt được sự đồng thuận hoàn toàn với Giáo hội ở đó khi ngài bước vào một giai đoạn mới trong nỗ lực truyền giáo của ngài. Chính vì lẽ đó mà ngài đã viết bức thư quan trọng gửi cho người Rô-ma, mà ngài dự định gửi cho cả Giê-ru-sa-lem lẫn Rô-ma, và chứa đựng những suy tư chín chắn của ngài về vấn đề trọng tâm giữa Lề luật và Tin Mừng. Hy vọng rằng nó sẽ làm sáng tỏ bất cứ nghi ngờ nào còn sót lại mà các tín hữu Do Thái vẫn còn giữ về vấn đề này. Toàn bộ bức thư phản ánh mối quan tâm to lớn của Thánh Phao-lô đối với sự hiệp nhất của Giáo hội, điều mà ngài cũng ám ảnh không kém gì việc truyền bá Tin Mừng trên toàn thế giới. “Một Chúa, một đức tin, một phép rửa”, đó là cách ngài diễn đạt. Do đó, ngài đã cố gắng giữ liên lạc với Giê-ru-sa-lem – được công nhận là mẹ của tất cả các hội thánh – và với các nhà lãnh đạo ở đó.
Khi Thánh Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem, ngài được Gia-cô-bê và các trưởng lão khác khuyên nên thể hiện lòng tôn kính Lề luật bằng cách thực hiện nghi lễ thanh tẩy trong Đền thờ. Trong khi ở đó, ngài bị một số người Do Thái gốc Á nhận ra và la hét phản đối ngài, gọi ngài là kẻ phản bội khét tiếng. Cuộc cãi lộn ầm ĩ sau đó suýt chút nữa đã cướp đi mạng sống của ngài; ngài được viên quan Rô-ma cứu thoát nhưng bị giam giữ để chờ xét xử. Cuối cùng, sau hai năm trong doanh trại ở Xê-da-rê – một khoảng thời gian dài đằng đẵng đối với một người khao khát truyền bá Tin Mừng – ngài đã kháng cáo lên Hoàng đế Nê-rông và được đưa đến Rô-ma, bị quản thúc tại gia hai năm để chờ xét xử.
Ngài bị buộc tội gì? Rõ ràng Rô-ma coi ngài là kẻ cầm đầu một giáo phái rao giảng một hình thức Do Thái giáo quốc tế mang tính cách mạng, có thể làm suy yếu trật tự xã hội. Liệu ngài đã bị xét xử và hành quyết ngay lập tức, hay điều này xảy ra vài năm sau đó, vào năm 64? Hầu hết các học giả đều cho rằng giả thuyết thứ hai là đúng hơn. Dù sao thì có lẽ ngài cũng không bao giờ đạt được tham vọng truyền bá Tin Mừng ở Tây Ban Nha. Nhưng khi ngài qua đời, giấc mơ về một Giáo hội rộng lớn như chính nhân loại của ngài đã gần như trở thành hiện thực—phần lớn nhờ vào tầm nhìn sáng suốt và kỹ năng tổ chức tuyệt vời của ngài.
Dĩ nhiên, có nhiều nhà truyền giáo khác vào thời đó có kinh nghiệm tương tự như Thánh Phao-lô. Thật không may, chúng ta biết rất ít về họ. Ngay cả sự nghiệp của Thánh Phê-rô sau khi rời Giê-ru-sa-lem cũng phần lớn là một chương bị thất lạc, mặc dù chúng ta có thể dễ dàng tin vào truyền thống Ki-tô giáo nhất trí chứng thực rằng ngài đã chết ở Rome dưới thời Nê-rông. Chúng ta cũng không biết nhiều về các tông đồ khác, mặc dù truyền thuyết thế kỷ thứ hai sẵn sàng lấp đầy những khoảng trống trong kiến thức của chúng ta: Nó cho chúng ta biết rằng Thánh Tô-ma đã truyền giáo cho người Par-thi-a, Thánh An-rê cho người Scy-thi-a, Thánh Bar-thô-lô-mê-ô đã đi xa tận Ấn Độ và có lẽ cả miền nam Ả Rập, trong khi Tháp Phi-líp qua đời tại Hi-ê-ra-pô-li ở Phy-ghia-a (Prygia). Chúng ta chỉ biết chắc chắn rằng nhiều nhà truyền giáo lưu động đã đi khắp thế giới Rô-ma để rao giảng Tin Mừng với nhiều thành công, đến nỗi vào cuối thế kỷ thứ nhất, Ki-tô giáo đã được thiết lập vững chắc ở đó.
Sự thành công lớn lao của Tin Mừng giữa các dân ngoại trái ngược hoàn toàn với số phận của nó giữa người Do Thái. Những người Do Thái theo Ki-tô giáo cố gắng hoán cải những người Do Thái đồng hương của họ đã gặp phải sự thù địch và từ chối liên tục; khoảng năm 85 Công nguyên, một lời nguyền rủa họ cách chính thức đã được đưa vào nghi lễ của hội đường. Tình hình cũng không được cải thiện bởi thái độ của những người Do Thái theo Ki-tô giáo, những người tố cáo người Do Thái là những kẻ bội giáo cứng đầu đáng bị Chúa trừng phạt khi người Rô-ma phá hủy Giê-ru-sa-lem và đốt cháy đền thờ của họ vào năm 70 Công nguyên. Một giai đoạn quan trọng đã đạt đến trong Thư gửi người Do Thái, trong đó việc từ bỏ Do Thái giáo là điều thiết yếu đối với người Ki-tô hữu và coi việc quay trở lại Do Thái giáo là sự bội giáo. Bị bỏ lại một mình và không được hỗ trợ, những người Do Thái theo Ki-tô giáo dần dần rơi vào quên lãng.
Mặt khác, sự lan truyền nhanh chóng của Tin Mừng trong số những người ngoại đạo đã tạo nên cuộc phục hưng tôn giáo vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Làm thế nào chúng ta giải thích hiện tượng này? Chắc chắn lời giải thích của chúng ta sẽ khác nhau tùy thuộc vào quan điểm triết học hoặc tôn giáo riêng, nhưng chắc chắn tất cả đều đồng ý rằng sự bành trướng của Ki-tô giáo phần lớn là nhờ vào các xu hướng chính trị, xã hội và văn hóa tổng quát.
Trước hết, đó là những điều kiện vật chất thuận lợi do sự thống trị của Rô-ma đối với thế giới Địa Trung Hải mang lại. Sau bốn thế kỷ bành trướng, Đế quốc Rô-ma lúc này đã bao quanh hoàn toàn Địa Trung Hải và trải dài từ sông Euphrates ở Syria đến sông Thames ở Anh, từ sông Rhine và sông Danube đến sa mạc Sahara. Và nó đã kết nối sự pha trộn rộng lớn của các dân tộc thuộc nhiều chủng tộc và ngôn ngữ này bằng hệ thống đường sá và vận tải biển tuyệt vời của mình. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho công việc của các nhà truyền giáo Ki-tô giáo, những người có thể đi khắp chiều dài và chiều rộng của Đế quốc một cách tương đối dễ dàng. Hơn nữa, người Rô-ma đã thúc đẩy sự lan rộng của một nền văn hóa chung bắt nguồn từ Hy Lạp cổ thời. Điều này có nghĩa là các nhà truyền giáo có thể rao giảng Tin Mừng bằng tiếng Hy Lạp ở hầu hết các thành phố lớn và được hiểu.

Thứ hai, thế giới phần lớn đang trong hòa bình, nhờ vào công lao của Hoàng đế Oc-ta-vi-a-nô Au-gus-tô, người trị vì vào thời điểm Chúa Giê-su ra đời và thời niên thiếu. Là người thừa kế được chỉ định của Ju-li-ô Xê-da bị ám sát, ông đã có thể vượt qua các đối thủ tranh giành quyền lực khác, và cuối cùng vào năm 31 TCN, bằng cách đánh bại An-tôn và Clê-ô-pa-tra, giành được quyền chỉ huy tối cao của Đế quốc Rô-ma. Với chủ nghĩa hiện thực chính trị sắc sảo, ông đã tạo ra một hệ thống mới—chế độ nguyên thủ [principate]—tập trung phần lớn quyền lực vào tay mình trong khi bề ngoài vẫn duy trì các hình thức Cộng hòa truyền thống. Hiến pháp mới do ông soạn thảo đã cho phép ông cai trị không bị thách thức trong hơn bốn mươi năm và tồn tại lâu hơn ông trong vài thế kỷ, cung cấp cho Đế quốc một hình thức chính phủ ổn định, cho phép nó đẩy lùi mối đe dọa từ các bộ lạc man rợ và mang lại hòa bình cho thế giới trong gần hai trăm năm. Điều kiện an ninh mà nền hòa bình Rô-ma mang lại cho những người du hành rất có lợi cho các nhà truyền giáo Ki-tô giáo.
Thứ ba, về mặt tinh thần, đó là thời kỳ bất ổn đặc biệt. Mặc dù sự thịnh vượng ngày càng tăng và những khả năng hưởng thụ được nâng cao ở các thành phố nơi các nhà hát, sân vận động, đấu trường và nhà tắm cung cấp nguồn giải trí liên tục cho cư dân, nhưng vẫn có một sự khao khát tinh thần ngày càng tăng. Sự thay đổi xã hội nhanh chóng đi kèm với sự tiến bộ đã làm xáo trộn nhiều người, trong khi bầu không khí chính trị lại vô cùng ảm đạm. Việc mất tự do chính trị đã đủ tồi tệ, nhưng những người kế vị Au-gus-tô lại chính là những kẻ kỳ lạ. Ti-bê-ri-ô (mất năm 37), Gai-ô Ca-li-gu-la (mất năm 41), Clau-đi-ô (mất năm 54) và Nê-rông (mất năm 68) là những vị Hoàng đế có đời sống cá nhân bị bao phủ bởi những sự kiện và tội ác kỳ lạ, rùng rợn: Bầu không khí trong triều đình của họ nặng trĩu mưu mô và nghi ngờ thối nát. Ti-bê-ri-ô, người dưới thời trị vì Chúa Ki-tô bị đóng đinh trên thập giá, là một vị tướng tài giỏi nhưng là một vị Hoàng đế bất hạnh—bị suy sụp khi phát hiện ra con trai mình, Dru-sô, đã bị chính cố vấn thân tín nhất của mình, Sê-ja-nô, sát hại. Tinh thần suy sụp, Ti-bê-ri-ô lui về Ca-pri, nơi ông trải qua những năm cuối đời. Ca-li-gu-la là một kẻ cuồng vọng điên loạn và bị ám sát. Clau-đi-ô, yếu đuối cả về thể chất lẫn ý chí, bị vợ mình, A-grip-pi-na, chi phối, người cuối cùng đã đầu độc ông để nhường chỗ cho con trai mình, Nê-rông. Sau đó, Nê-rông đã giết bà ta và bắt đầu một triều đại khủng bố cướp đi sinh mạng của nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc của Rome trước khi chính ông ta bị buộc phải tự sát.
Phản ứng của những người nhạy cảm trước tất cả những điều này, cùng với tâm trạng u ám và bi quan của họ, được phản ánh trong nhiều khía cạnh của văn học và nghệ thuật thời đó—trong các tác phẩm của Petronius, Martial, Juvenal, Seneca, Pliny, và có lẽ đáng nhớ nhất là trong các tác phẩm của Tacitus, nhà sử học nghiêm nghị và u ám của thời đại.
Tình trạng này đã tạo ra một cơ hội tuyệt vời cho một tôn giáo có thể giúp lấp đầy khoảng trống tâm linh mà rất nhiều người trải qua. Và chính Ki-tô giáo đã tận dụng tối đa cơ hội này.
Không phải người tìm kiếm sự cứu rỗi nhất thiết phải hướng đến tôn giáo. Một số người tìm thấy sự an ủi trong triết học. Ví dụ, các triết gia Khắc kỷ đã thu hút được nhiều tín hữu bằng học thuyết cho rằng người ta có thể hòa hợp với vũ trụ bằng cách chú ý đến tính hợp lý tiềm ẩn của các quy luật của nó; họ cũng nhấn mạnh sự cần thiết của kỷ luật tự giác để đạt được sự bình an nội tâm và cân bằng tâm hồn giữa những biến cố khó chịu của cuộc sống. Tuy nhiên, triết học, như mọi khi, chỉ là nơi nương náu cho tầng lớp thượng lưu. Người bình thường tìm kiếm sự bình an tâm linh trong một số hình thức tôn giáo, chiêm tinh học hoặc ma thuật.
Tôn giáo Rô-ma cổ đại hầu như không cạnh tranh được với Ki-tô giáo. Niềm tin vào các vị thần cổ đại không thể được khôi phục, như Au-gus-tô và các Hoàng đế khác đã nhận thấy trong sự thất vọng của họ. Mà người dân bình thường cũng không thể tìm thấy nhiều sự an ủi trong các nghi lễ và nghi thức dành riêng cho các Hoàng đế được thần thánh hóa.
Mạnh mẽ hơn nhiều so với Ki-tô giáo là các tôn giáo huyền bí, vốn rất nhiều và lan rộng nhanh chóng trong thời kỳ này. Chúng là những loại tín ngưỡng pha trộn, kết hợp tư tưởng Hy Lạp và phương Đông. Quan trọng nhất là các huyền bí Di-ô-ny-si-ô và Orphic của Thrace; Ê-leu-si-ni-ô từ Eleusis, gần Athens; tôn giáo của Nữ thần Mẹ vĩ đại, Cybele, từ Anatolia ở Tiểu Á; tôn giáo Mithra của Ba Tư và giáo phái Isis và Osiris của Ai Cập. Chúng được gọi là huyền bí [mysterius] vì các nghi lễ trung tâm của chúng được giữ bí mật với tất cả mọi người trừ những người được khai tâm. Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, tất cả chúng đều có một số đặc điểm chung: một cái nhìn cao cả về thần thánh, một cảm giác sâu sắc về sự phân tách giữa tinh thần và thể xác, và một khát vọng lớn lao về một đấng cứu thế sẽ giải thoát các tín hữu khỏi mọi tội lỗi và ban cho họ sự sống vĩnh cửu.
Một trong những tôn giáo huyền bí nổi tiếng nhất là tôn giáo của Cybele, Nữ thần Mẹ Vĩ đại. Giống như những tôn giáo khác, nó cho thấy nguồn gốc từ các nghi lễ sinh sản gắn liền với nhịp điệu sinh trưởng của thiên nhiên—cái chết vào mùa đông và sự hồi sinh vào mùa xuân. Cybele, mẹ của tất cả các vị thần và loài người, có người bạn đời là Attis, một á thần, người đã phản bội bà và sau đó vì hối hận đã tự thiến mình và chết. Tuy nhiên, Nữ thần Mẹ Vĩ đại đã hồi sinh và phong thần cho ông, khiến ông bất tử. Truyền thuyết này được tôn vinh trong hai nghi lễ chính: Trong nghi lễ taurobolium, những người tín ngưỡng tái hiện cái chết của Attis bằng cách giết một con bò đực, sau đó tự rửa tội bằng máu của nó—bôi máu lên người và thậm chí uống máu; trong lễ hội mùa xuân kỷ niệm sự hồi sinh của Attis, họ tham gia vào những điệu nhảy điên cuồng trong khi tự rạch mình và rắc máu lên một cây thông tượng trưng cho Attis, cho đến khi trong trạng thái xuất thần cuối cùng, một số người đàn ông sẽ tự thiến mình để bắt chước vị thần của họ. Bằng cách tham gia vào những nghi lễ như vậy, tín hữu tin rằng mình được tái sinh, giải thoát khỏi tội lỗi và được sinh ra thành một con người mới, được chia sẻ sự thần thánh và bất tử của các vị thần của họ.
Tuy nhiên, tôn giáo huyền bí được chứng minh là đối thủ đáng gờm nhất của Ki-tô giáo là Mithra giáo, một tôn giáo chỉ dành cho nam giới và rất phổ biến trong giới binh lính. Có nguồn gốc từ Ba Tư, nó dường như được truyền bá khắp Địa Trung Hải bởi binh lính của Alexander Đại đế. Mithra là một vị thần mặt trời của Ba Tư, người đã giết chết con bò đực vũ trụ mà máu của nó là nguồn gốc của mọi sự sống. Hình ảnh của ông luôn cho thấy ông chiến đấu vì lẽ phải chống lại cái ác - một ý tưởng hấp dẫn đối với binh lính. Giáo phái này hứa hẹn sự bất tử cho những người được khai tâm. Các đền thờ của nó đã được khai quật ở nhiều nơi, một đền thờ lớn gần đây ở London.
Một số điểm tương đồng về giáo lý và nghi lễ đã khiến một số học giả cho rằng Ki-tô giáo thuộc cùng một loại với các tôn giáo huyền bí và trên thực tế, có nguồn gốc ở một mức độ nào đó từ chúng. Tuy nhiên, bằng chứng không ủng hộ những lý thuyết như vậy. Việc cả các giáo phái huyền bí và Giáo hội Ki-tô giáo đều sử dụng một số nghi lễ nhất định như rửa tội, xức dầu và các bữa ăn thánh không nhất thiết cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau. Những biểu tượng nguyên thủy như vậy rất cơ bản đối với nhân loại đến nỗi bất cứ người theo tôn giáo nào cũng có thể sử dụng chúng để diễn tả một trải nghiệm vượt lên trên thế giới này.
Hơn nữa, quan niệm về sự cứu rỗi của Ki-tô giáo khác xa với quan niệm của các giáo phái huyền bí. Những người sùng bái Cybele hoặc Mithra coi sự cứu rỗi của họ như một sự giải thoát kỳ diệu khỏi xác thịt. Mặt khác, người Ki-tô hữu thừa nhận sự tồn tại của tội lỗi và ý chí tự do, và quan niệm sự cứu chuộc là sự tha thứ tội lỗi. Họ rao giảng về tội lỗi và sự ăn năn với một sự nghiêm túc đáng sợ, hoàn toàn không có điểm chung nào với các nghi lễ trụy lạc, đầy dục vọng của các giáo phái huyền bí. Như Thánh Phao-lô đã nói, “Anh em đã đoạn tuyệt với việc thờ ngẫu thần khi anh em quy phục Thiên Chúa và trở thành tôi tớ của Thiên Chúa hằng sống và chân thật và hiện đang chờ đợi Chúa Giê-su, Con của Người, Đấng mà Người đã cho sống lại từ cõi chết, từ trời xuống để cứu chúng ta khỏi sự trừng phạt.” (12)
Một lần nữa, không giống như các tôn giáo huyền bí với những huyền thoại vượt thời gian gắn liền với nhịp điệu của thiên nhiên, Ki-tô giáo được thành lập trên một nhân vật lịch sử và được kết nối với các sự kiện có thể xác định niên đại.
Về những yêu cầu đạo đức đặt ra cho người mới khai tâm, không có sự so sánh nào giữa Ki-tô giáo và các tôn giáo huyền bí. Ở mức tốt nhất, các tôn giáo huyền bí thể hiện những khát vọng mơ hồ về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mặt khác, Giáo hội đã đặt ra những chuẩn mực hành vi rõ ràng và chính xác cho một Ki-tô hữu. Việc nhấn mạnh vào sự kiểm soát tình dục là một lý tưởng đặc trưng của Giáo hội, phân biệt nó với thế giới ngoại giáo; Giáo hội nhấn mạnh vào chế độ một vợ một chồng và tính chất bất khả phân ly của hôn nhân, đồng thời nghiêm cấm phá thai và giết trẻ sơ sinh. Giáo hội lên án mọi hình thức tham lam và bất lương trong kinh doanh, mọi chủ nghĩa khoái lạc vật chất, sự lừa đảo và dối trá. Tóm lại, một Ki-tô hữu phải là một người trong sạch, không bám víu vào của cải, không ích kỷ, trung thực và dũng cảm. Và quan trọng nhất, Giáo hội dạy cá nhân không dựa vào sức mạnh của chính mình trong cuộc đấu tranh đạo đức mà dựa vào sức mạnh của ân sủng Thiên Chúa.
Cuối cùng, một sự khác biệt quan trọng nhất và là nguyên nhân mạnh mẽ tạo nên sự ưu việt của Ki-tô giáo là sự chứng tỏ hữu hiệu sức mạnh của tình yêu thương trong chính cuộc sống của các tín hữu; nó đã chứng tỏ là một thỏi nam châm không thể cưỡng lại đối với nhiều tâm hồn và khiến những người ngoại đạo phải thốt lên: “Hãy xem họ yêu thương nhau biết bao!” Tình yêu này tìm được biểu thức qua vô số hoạt động.
Các tín hữu Ki-tô giáo đã chăm lo cho các thầy cô giáo và quan chức, cho các góa phụ và trẻ mồ côi, cho người ốm yếu và tàn tật. Họ tận tâm với tù nhân và những người đang chịu khổ trong hầm mỏ, với những người bị ảnh hưởng bởi những thảm họa lớn và chăm sóc những người nghèo cần được chôn cất; họ cung cấp việc làm cho người thất nghiệp, chăm sóc anh em trên những chuyến đi và quan tâm đến nhu cầu của các nhà thờ đang nghèo khó hoặc gặp nguy hiểm. (13) Quả thực không còn nghi ngờ gì nữa rằng Tin Mừng Ki-tô giáo đã dẫn dắt thế giới đến một giai đoạn đạo đức cao hơn. Động lực xã hội và đạo đức của nó đã tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến những người có tiềm năng trở lại đạo. Ví dụ, hai trong số những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của Ki-tô giáo trong thế kỷ thứ hai, Tatian và Gius-ti-nô, đã trở lại đạo, như họ thừa nhận, bởi sức hấp dẫn đạo đức của những tín hữu Ki-tô mà họ biết.
Tóm lại, sự bành trướng đáng kể của Ki-tô giáo trong thế kỷ thứ nhất phần lớn là nhờ vào các xu hướng chính trị, xã hội và văn hóa nói chung. Nhưng lý do chính cho sự thành công của Ki-tô giáo là vì nó đã cung cấp những câu trả lời tốt nhất cho những câu hỏi tôn giáo cơ bản của tâm hồn đau khổ: truyền bá sự thờ phượng Thiên Chúa. Thiên Chúa duy nhất, Đấng tạo hóa muôn loài, đối lập với sự thờ cúng ngẫu thần thô thiển của thời đại. Qua việc rao giảng về Chúa Giê-su, Đấng cứu thế thần thiêng, đã sống lại và sắp trở lại để phán xét, Ki-tô giáo mang đến sự bảo đảm về sự giải thoát khỏi tội lỗi, sự phục sinh vĩnh cửu, và động lực để sống một cuộc đời đức tin, thánh thiện, tự chủ, yêu thương và bác ái.