Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
00:27 17/09/2026
27. Chúng ta cần phải chịu nhẫn nhục với bất cứ đau khổ nào, bởi vì Thiên Chúa đã vì chúng ta mà chịu đau khổ trước.
(Thánh Hilarius)Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")
--------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
00:31 17/09/2026
30. CẨU (CHÓ) MẶC ÁO QUAN
Một con chó màu trắng đi ngang một hố phân, đầu cúi xuống ngửi đưa cái đít lên, tận tình ăn thật no.
Có một em bé nghịch ngợm đá nó một cú thật mạnh, con chó rơi tỏm vào trong hố phân, khi lên được hố phân thì toàn thân nhão nhẹt dính đầy phân người, bèn ngoái đầu lại dùng lưỡi liếm thân mình, phàm chỗ nào mà lưỡi đụng đến thì sạch sẽ, chỉ còn chỗ phía trước lưng là còn nước phân hôi hám hiện ra màu vàng ố.
Con chó liền lắc đầu rung đuôi chạy vào trong phố, người trong phố gớm ghét mùi hôi nên ùn ùn lánh đi.
Con chó hú một tiếng dài, nói:
- “Làm quan được công danh thì thật là chuyện tốt đẹp, nó đủ sức khoe với người, hôm nay ta mặc áo cưỡi ngựa màu vàng (1) , bá tánh thấy mà sợ ta, ha ha”.
(Yết hậu ngữ)
Suy tư 30:
Con người ta sống ở đời mà có công danh thì thật là vinh dự và tốt đẹp, nhưng công danh phải đường đường chính chính, phải tự mình nổ lực mà có thì mới vinh dự và hãnh diện, chứ không phải công danh...vàng hôi của con chó rơi xuống hố phân.
Mọi người Ki-tô hữu đều biết công danh sự nghiệp ở đời này chỉ là phù vân, và phù vân nối tiếp phù vân mà thôi (Gv 1, 2), chẳng có gì để cho họ lưu luyến tiếc nuối cả, bởi vì mạng sống của con người được tính bằng năm tháng ngắn ngủi, và vũ trụ thì cũng có ngày tiêu vong.
Làm tổng thống thì có ghế ngồi gọi là ngôi báu, làm quan thì có áo mão cân đai, làm linh mục thì có áo chùng thâm, làm tu sĩ thì có áo dòng để phân biệt. Nhưng ngôi báu, áo mão cân đai, áo chùng thâm và áo dòng chẳng là gì cả so với áo bác ái và mũ yêu thương của người Ki-tô hữu, bởi vì ngôi báu thì chỉ có vài năm, áo mão cân đai cũng vài năm, áo dòng hay áo chùng thâm thì khi mặc khi không, còn bác ái và yêu thương của người Ki-tô hữu thì họ luôn mang trên mình, mang trong lòng và được thể hiện ra bên ngoài bằng hành động phục vụ của họ.
Mặc áo quan mà bị người ta gọi là cẩu quan thì hôi lắm chẳng một ai muốn đến gần cả.
Mặc áo bác ái đội mũ yêu thương mà sống trong hố phân tội lỗi, thì dù cho họ là linh mục hay tu sĩ cũng đều bị mọi người tránh xa. Ôi, thật buồn cho Đức Chúa Giê-su biết bao !
(1) Áo quan đời nhà Thanh, ban đầu chỉ thưởng cho các quan văn võ tiếp cận hoàng đế mà thôi, về sau thì thưởng cho các quan có công trạng.
··
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
----------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Một con chó màu trắng đi ngang một hố phân, đầu cúi xuống ngửi đưa cái đít lên, tận tình ăn thật no.
Có một em bé nghịch ngợm đá nó một cú thật mạnh, con chó rơi tỏm vào trong hố phân, khi lên được hố phân thì toàn thân nhão nhẹt dính đầy phân người, bèn ngoái đầu lại dùng lưỡi liếm thân mình, phàm chỗ nào mà lưỡi đụng đến thì sạch sẽ, chỉ còn chỗ phía trước lưng là còn nước phân hôi hám hiện ra màu vàng ố.
Con chó liền lắc đầu rung đuôi chạy vào trong phố, người trong phố gớm ghét mùi hôi nên ùn ùn lánh đi.
Con chó hú một tiếng dài, nói:
- “Làm quan được công danh thì thật là chuyện tốt đẹp, nó đủ sức khoe với người, hôm nay ta mặc áo cưỡi ngựa màu vàng (1) , bá tánh thấy mà sợ ta, ha ha”.
(Yết hậu ngữ)
Suy tư 30:
Con người ta sống ở đời mà có công danh thì thật là vinh dự và tốt đẹp, nhưng công danh phải đường đường chính chính, phải tự mình nổ lực mà có thì mới vinh dự và hãnh diện, chứ không phải công danh...vàng hôi của con chó rơi xuống hố phân.
Mọi người Ki-tô hữu đều biết công danh sự nghiệp ở đời này chỉ là phù vân, và phù vân nối tiếp phù vân mà thôi (Gv 1, 2), chẳng có gì để cho họ lưu luyến tiếc nuối cả, bởi vì mạng sống của con người được tính bằng năm tháng ngắn ngủi, và vũ trụ thì cũng có ngày tiêu vong.
Làm tổng thống thì có ghế ngồi gọi là ngôi báu, làm quan thì có áo mão cân đai, làm linh mục thì có áo chùng thâm, làm tu sĩ thì có áo dòng để phân biệt. Nhưng ngôi báu, áo mão cân đai, áo chùng thâm và áo dòng chẳng là gì cả so với áo bác ái và mũ yêu thương của người Ki-tô hữu, bởi vì ngôi báu thì chỉ có vài năm, áo mão cân đai cũng vài năm, áo dòng hay áo chùng thâm thì khi mặc khi không, còn bác ái và yêu thương của người Ki-tô hữu thì họ luôn mang trên mình, mang trong lòng và được thể hiện ra bên ngoài bằng hành động phục vụ của họ.
Mặc áo quan mà bị người ta gọi là cẩu quan thì hôi lắm chẳng một ai muốn đến gần cả.
Mặc áo bác ái đội mũ yêu thương mà sống trong hố phân tội lỗi, thì dù cho họ là linh mục hay tu sĩ cũng đều bị mọi người tránh xa. Ôi, thật buồn cho Đức Chúa Giê-su biết bao !
(1) Áo quan đời nhà Thanh, ban đầu chỉ thưởng cho các quan văn võ tiếp cận hoàng đế mà thôi, về sau thì thưởng cho các quan có công trạng.
··
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
----------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Ngày 18/09: Những người phụ nữ theo Chúa – Thầy Phó Tế Antôn Nguyễn Ngọc Khánh, SVD
Giáo Hội Năm Châu
03:51 17/09/2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
Khi ấy, Đức Giê-su rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Ma-ri-a gọi là Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ.
Đó là Lời Chúa
KHÔNG AI THỪA
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
15:52 17/09/2026
KHÔNG AI THỪA
Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXIV Thường Niên, Năm Chẵn:
“Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh”.
“Mỗi người chúng ta đều được mong muốn, được yêu thương và đều cần thiết!” - Bênêđictô XVI.
Kính thưa Anh Chị em,
Có khi chúng ta sẵn lòng giúp một người, và nghĩ mình không bao giờ cần họ. Tin Mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu thì khác: Ngài nhận điều họ trao và họ trở nên cần thiết. Với Ngài, ‘không ai thừa’.
Trên bước đường rao giảng, Chúa Giêsu và các môn đệ cần sự chăm lo của những phụ nữ từng được Ngài chữa lành. Các bà dùng của cải mình có để giúp các ngài. Đón nhận cách tự nhiên, Ngài cho họ niềm vui thấy đời mình có thể nuôi dưỡng những đời khác: họ được mong muốn, được yêu thương và đều cần thiết. “Nếu đã nhận được tình yêu trả lại ý nghĩa cho đời mình, làm sao chúng ta có thể không chia sẻ tình yêu ấy?” - Phanxicô.
Các bà không rao giảng như Nhóm Mười Hai, nhưng lời rao giảng đi xa nhờ có các bà. Ở đây, Luca không ghi một lời nào họ nói, chỉ ghi điều họ trao. Có những đóng góp lặng lẽ đến mức chúng ta chỉ nhận ra khi chúng không còn. Đằng sau những lời giảng là sự chăm lo cho những nhu cầu rất thường của người rao giảng. Tin Mừng đi qua cả những bàn tay không làm phép lạ; những bàn tay chỉ lo cho người khác đủ sức đi tiếp.
Sự gắn bó của các phụ nữ sẽ sáng rõ trong cuộc Thương Khó. Khi nhiều môn đệ bỏ chạy, các bà vẫn dõi theo Chúa Giêsu đến tận thập giá, nhìn nơi đặt thi hài Thầy và chuẩn bị dầu thơm. Của cải không còn cứu được Thầy, nhưng tình yêu vẫn tìm được việc để làm. Các bà không thể ngăn cái chết, cũng chưa biết ai sẽ lăn tảng đá; họ chỉ biết trở lại với chút hương liệu trên tay. Họ đến để chăm sóc một người đã chết, nào ngờ lại được trao lời báo tin về Đấng đang sống. Những bàn tay mang dầu thơm trở về mang tin Phục Sinh.
‘Không ai thừa’ chỉ thật khi người không còn gì để trao vẫn được ôm ấp như người chúng ta mong có bên mình. Chúng ta dễ quý một người khi họ còn làm được nhiều việc; nhưng đến lúc họ chỉ còn có thể nhận, lòng yêu thương của chúng ta mới lộ rõ. Một người già yếu không cần mang ơn vì chúng ta còn dành chỗ cho họ. Chỗ ấy vốn là của họ. “Ngay khi sức lực và hoạt động giảm sút, họ càng trở nên quý giá trong ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa!” - Gioan Phaolô II.
Anh Chị em,
Đức Kitô đã sống lại, Đấng từng nhận sự chăm sóc của các phụ nữ không để cái chết khép lại tình thân ấy. Nếu đặt hy vọng vào Ngài chỉ vì đời này, chúng ta là những kẻ đáng thương nhất - bài đọc một. Đấng đã nhận những gì các bà trao; nay trao chính sự sống mình để họ được sống mãi với Ngài. Đôi tay rồi sẽ buông, của cải rồi sẽ hết; nhưng ai đã trao cho Đức Kitô vẫn được Ngài yêu. Và đến khi không còn giữ nổi chính mình, họ vẫn được Ngài giữ lấy. Trong tình yêu của Ngài, một tình yêu mạnh hơn sự chết, ‘không ai thừa’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, cho con nhận mà không thấy mình nhỏ lại; trao mà không khiến người khác mang ơn; ở lại khi họ chẳng còn gì ngoài chính họ!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Hồng Y Parolin lo ngại về việc các quốc gia đơn phương hành động trong lĩnh vực AI
Vũ Văn An
14:44 17/09/2026

Ban biên tập Crux Now, ngày 17 tháng 9 năm 2026 tường trình rằng: Một quan chức cấp cao của Vatican cho biết cần có sự hợp tác toàn cầu về trí tuệ nhân tạo (AI) và bày tỏ lo ngại rằng một số quốc gia muốn “đơn phương hành động” với kỹ thuật này.
Thực vậy, Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, đã phát biểu như trên vào ngày hôm qua sau một sự kiện tại Quốc hội Ý có chủ đề "Đức tin và Lý trí trong Kỷ nguyên Trí tuệ Nhân tạo".
Đức Hồng Y Parolin hoan nghênh lời kêu gọi gần đây của Tổng thống Ý Sergio Mattarella, trong đó yêu cầu các quốc gia và các tổ chức siêu quốc gia phải hành động có trách nhiệm đối với các kỹ thuật mới. Ngài cho rằng "hiện tượng toàn cầu này" đòi hỏi "sự tham gia của tất cả mọi người".
"Điều khiến tôi lo ngại là thực tế có những quốc gia muốn tự mình hành động," ngài nói, trong khi điều cần thiết là "sự tham gia của tất cả mọi người để thiết lập các quy tắc chung có thể thực sự quản lý hiện tượng này."
Ngài cho rằng điều tốt nhất là mọi người có thể "cùng nhau tìm ra câu trả lời, bởi vì theo tôi thấy, tương lai của nhân loại thực sự đang bị đặt vào thế cân não tại đây."
"Hãy cùng dừng lại và suy tư một cách nghiêm túc về những hậu quả có thể xảy ra từ trí tuệ nhân tạo và việc sử dụng nó," ngài nói thêm.
Liên quan đến những lời kêu gọi gần đây từ giới kỹ thuật về việc cần có thêm các quy định quản lý AI, Đức Hồng Y Parolin cho biết: "Chúng tôi hy vọng rằng tư duy đạo đức sẽ là động lực cho những cân nhắc kiểu này."
Tuy nhiên, Đức Hồng Y Parolin tỏ ra thận trọng hơn khi được hỏi liệu ngài có tận dụng việc tham dự Đại hội đồng Liên Hợp Quốc để vận động thành lập một cơ quan quốc tế giám sát kỹ thuật này hay không.
"Có lẽ chúng tôi sẽ không tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật tức thời ở giai đoạn này. Tòa Thánh thường đưa ra và đề xuất các nguyên tắc," ngài nói.
"Sau đó, giải pháp cho vấn đề hợp tác sẽ phải do các bên liên quan tìm ra, ở bình diện quốc gia và các tổ chức có liên quan," ngài nói thêm.
Hồng Y Parolin cũng cho rằng không thể tránh khỏi AI. "Ngày nay, trí tuệ nhân tạo đang tự khẳng định sự hiện diện của nó; chẳng hạn, khi bạn mở máy tính và đọc một nội dung nào đó, nó đã cung cấp sẵn cho bạn một bản tóm tắt rồi." Tuy nhiên, ngài khẳng định mình không sử dụng kỹ thuật này cho các bài giảng lễ. "Trí tuệ nhân tạo chỉ có lý trí chứ không có trái tim. Tôi thì cố gắng đưa chút tâm tình vào các bài giảng của mình," ngài nói.
Những lo ngại từ nội bộ các tập đoàn kỹ thuật lớn
Phát biểu của ĐHY Parolin được đưa ra vào thời điểm những nhân vật trong ngành kỹ thuật lớn (Big Tech) đang dấy lên những lo ngại nghiêm trọng về sự phát triển của AI.
Hôm thứ Tư, OpenAI đã công bố sáu báo cáo về các trường hợp hành vi "bất ngờ hoặc đáng lo ngại" của các mô hình AI.
Một trong số đó liên quan đến một mô hình nghiên cứu chưa được phát hành; mô hình này đã tự chèn các "chỉ dẫn kiểu bẻ khóa" (jailbreak) vào ghi chú của chính nó để bỏ qua các giới hạn thông thường, đồng thời tự nhủ rằng cần phải "giải phóng bản thân khỏi những vai trò và danh tính đang trói buộc các chatbot khác."
Một ví dụ khác là trường hợp một "tác nhân" (agent) AI tự động tải tệp tin lên mạng để lấy trích dẫn từ trình duyệt mà không hề thông báo cho người dùng.
"Khi các hệ thống AI ngày càng trở nên tiên tiến và được triển khai rộng rãi hơn, chúng ta cần xây dựng một sự đồng thuận sâu rộng và sáng suốt hơn về tiến độ nghiên cứu căn chỉnh (alignment research)," OpenAI viết trong một bài đăng trên blog về các sự kiện này.
"Các quyết định về định hướng phát triển AI trong những tháng và năm tới cần dựa trên những bằng chứng mà người bên ngoài các công ty phát triển mô hình tiên phong có thể tự mình kiểm chứng," công ty này nói thêm.
Vào tháng 8, lãnh đạo của Google, Anthropic, OpenAI, Microsoft cùng hàng chục nhân vật khác đã công bố một bức thư ngỏ cảnh báo rằng AI có thể sớm thực hiện các cuộc tấn công mạng nguy hiểm nhắm vào các tổ chức và doanh nghiệp, bao gồm cả bệnh viện.
Họ cho biết chỉ còn một "khoảng thời gian hạn hẹp" để tăng cường khả năng phòng thủ mạng, và khoảng thời gian này có thể chỉ kéo dài vài tháng.
"Nếu hành động quyết liệt, chúng ta có thể tận dụng khoảng thời gian quý báu này để giúp thế giới kỹ thuật số trở nên an toàn hơn nhiều," bức thư viết.
Cần khẩn trương giải quyết các mối nguy hiểm: Các giám mục Hoa Kỳ gặp gỡ đại diện ngành AI
Vũ Văn An
14:46 17/09/2026

Ban biên tập Crux Now, ngày 17 tháng 9 năm 2026, cho hay: Hôm thứ Tư, đại diện của các giám mục Hoa Kỳ đã gặp gỡ các đại diện trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, bày tỏ sự cần thiết phải khẩn trương giải quyết những "mối nguy hiểm hiện hữu và thực tế" mà kỹ thuật mới này mang lại. Tiếp nối thông điệp Magnifica humanitas của Đức Giáo Hoàng Leo XIV, Ủy ban Điều hành thuộc Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB), dưới sự dẫn dắt của chủ tịch hội đồng, đã có cuộc gặp gỡ với đại diện từ nhiều công ty kỹ thuật cùng các chuyên gia trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI).
Bà Chieko Noguchi, Giám đốc điều hành phụ trách quan hệ công chúng kiêm người phát ngôn của USCCB, cho biết cuộc gặp đã diễn ra một cách đầy tích cực và mang tính xây dựng.
“Cuộc đối thoại tập trung vào các phương thức đảm bảo rằng mọi hệ thống trí tuệ nhân tạo đều phục vụ lợi ích của nhân loại, cũng như nhu cầu cấp thiết trong việc giải quyết những mối nguy hại hiện hữu mà kỹ thuật này mang lại. Các sự kiện gần đây càng làm nổi bật hơn nữa nhu cầu cấp bách phải hành động với tất cả các bên liên quan tham dự” bà Noguchi nói.
“Các giám mục bày tỏ hy vọng rằng những cuộc đối thoại như vậy sẽ giúp xác định các phương thức để Giáo hội đóng góp vào nền tảng đạo đức của các mô hình AI, cũng như các bước đi mà các công ty có thể thực hiện nhằm ngăn chặn việc lạm dụng các phát minh của họ và đảm bảo sự giám sát của con người đối với kỹ thuật này,” bà nói thêm.
Cuộc họp diễn ra trong bối cảnh ngày càng có nhiều ý kiến lo ngại về kỹ thuậtnày từ chính những người làm việc trong các tập đoàn kỹ thuậtlớn (Big Tech).
Hôm thứ Tư, OpenAI đã công bố sáu báo cáo về các trường hợp hành vi "không lường trước được hoặc đáng lo ngại" của các mô hình AI.
Vào tháng 8, lãnh đạo của Google, Anthropic, OpenAI, Microsoft cùng hàng chục nhân vật khác đã công bố một bức thư ngỏ, cảnh báo rằng AI có thể sớm thực hiện các cuộc tấn công mạng nguy hiểm nhắm vào các tổ chức và doanh nghiệp, bao gồm cả các bệnh viện.
Bà Noguchi cho biết cuộc thảo luận cũng đề cập đến việc Giáo hội và các công ty kỹ thuật có thể hợp tác như thế nào để giải quyết những vấn đề mới nảy sinh này.
“Cuộc thảo luận cũng tập trung vào cách thức Giáo hội và ngành kỹ thuật có thể hợp tác hướng tới mục tiêu đảm bảo kỹ thuật được sử dụng theo hướng lấy con người làm trung tâm, tôn trọng phẩm giá của mỗi cá nhân và mang lại lợi ích cho tất cả mọi người — dù giàu hay nghèo,” bà Noguchi nói.
Các giám mục cũng thông báo rằng Ủy ban Hành chính đã thành lập một Nhóm Công tác của các Giám mục về Bảo vệ Phẩm giá Con người trong Kỷ nguyên Trí tuệ Nhân tạo, do Giám mục Oscar Cantù của giáo phận San Jose làm chủ tịch.
Họ cũng cho biết hơn mười giám mục đã đến Đồi Capitol và gặp gỡ các nghị sĩ Quốc hội để kêu gọi thiết lập các cơ chế kiểm soát an toàn đối với AI, đồng thời ủng hộ các đạo luật bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.
Đức Hồng Y Parolin bày tỏ lo ngại
Hôm qua, Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, đã bày tỏ lo ngại về việc một số quốc gia muốn "đơn phương hành động" đối với AI vào thời điểm mà sự hợp tác toàn cầu đang rất quan trọng.
“Điều khiến tôi lo ngại là có những quốc gia thực sự muốn tự hành động riêng lẻ,” ĐHY Parolin nói, trong khi điều cần thiết là “sự tham gia của tất cả mọi người vào việc thiết lập các quy tắc chung có thể thực sự quản lý hiện tượng này.”
Ngài cho rằng điều tốt nhất là mọi người có thể “cùng nhau tìm ra giải pháp, bởi vì theo tôi thấy, tương lai của nhân loại thực sự đang bị đe dọa trong vấn đề này.” “Hãy cùng dừng lại và suy tư một cách nghiêm túc về những hệ quả có thể xảy ra từ trí tuệ nhân tạo và việc ứng dụng nó,” ngài nói thêm.
Liên quan đến những lời kêu gọi gần đây từ giới kỹ thuật về việc cần có thêm các quy định quản lý AI, ĐHY Parolin cho biết: “Chúng tôi hy vọng rằng chính tư duy đạo đức là động lực thúc đẩy những cân nhắc này.”
Đức Giáo Hoàng Leo và AI
Cũng trong ngày thứ Tư, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã đề cập đến cả những rủi ro lẫn tiềm năng của kỹ thuật AI đang phát triển mạnh mẽ.
“Một mặt,” Đức Giáo Hoàng phát biểu trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần, “sự phát triển công nghệ, sự lan tỏa của các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội, cùng với việc ngày càng gia tăng sử dụng trí tuệ nhân tạo, đang mở ra những khả năng mới, phá bỏ các rào cản và thu hẹp khoảng cách.”
“Mặt khác,” Đức Giáo Hoàng tiếp lời, “các mối quan hệ đang dần trở nên thiếu tính bản thân và mang tính ảo nhiều hơn; đồng thời, nảy sinh nguy cơ con người quen dần với việc phó mặc cho các thuật toán những quyết định vốn thuộc về phạm vi riêng biệt của lương tâm con người.”
“Đảm bảo các mối quan hệ xã hội có nội dung thực chất và chiều sâu bản thân chính là đóng góp mà cộng đồng Kitô giáo mong muốn mang lại trong bối cảnh này,” Đức Giáo Hoàng Leo nói.
Trong thông điệp đầu tiên của mình mang tên Magnifica humanitas, được công bố hồi đầu năm nay, Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi thiết lập các quy định chặt chẽ đối với AI, đồng thời kêu gọi các nhà phát triển kỹ thuật này hãy hành động vì lợi ích chung.
Đức Giáo Hoàng khuyến khích việc lên danh sách các vị tử đạo của thế kỷ 21
Vũ Văn An
15:04 17/09/2026

Ủy ban của Vatican chuyên ghi nhận các chứng nhân Kitô giáo thời hiện đại vẫn tiếp tục nhận được các trường hợp mới; tính từ năm 2000 đến nay, đã có khoảng 1,700 trường hợp được ghi lại.
Cyriac Zeller, trong mục Vatican Insight của I.Media, ngày 17 tha`ng 9, 2026, tường thuật rằng: Đức Giáo Hoàng đã bày tỏ lòng tri ân đối với hàng trăm Kitô hữu đã hy sinh mạng sống vì đức tin kể từ đầu thế kỷ này, bao gồm cả những người chưa được “chính thức ghi tên vào sổ bộ các Chân phước và các Thánh”. Ngài đưa ra những nhận định này vào ngày 16 tháng 9 tại Vatican, khi gặp gỡ các tham dự viên của một hội nghị nghiên cứu do Bộ Phong Thánh tổ chức. Vào ngày 10 tháng 9, Đức Hồng Y Marcello Semeraro, Bộ trưởng Bộ Phong Thánh, cho biết Bộ đã nhận được thông tin về “khoảng 100 đến 150” trường hợp trong năm nay.
“Chúng ta ngưỡng mộ những người anh chị em này như những vì sao tỏa sáng giữa bóng tối của sự ích kỷ và áp bức. Họ giúp Giáo hội phản chiếu trọn vẹn hơn ánh sáng của Đức Kitô - Chúa chúng ta, để qua đó chỉ cho nhân loại đương thời con đường dẫn tới nền văn minh tình yêu,” Đức Giáo Hoàng nói.
Vào sáng thứ Tư, Đức Thánh Cha đã tiếp kiến các tham dự viên hội nghị do Ủy ban về các Vị Tử đạo Mới - Chứng nhân Đức tin (thuộc Bộ Phong Thánh) tổ chức. Tổng Giám mục Fabio Fabene là người chủ trì ủy ban này. Nhóm làm việc này ban đầu được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thành lập trước thềm Năm Thánh 2000 nhằm ghi lại tên tuổi của tất cả những ai đã “đổ máu để tuyên xưng Đức Kitô và làm chứng cho Tin Mừng”. Vatican đã tái khởi động ủy ban vào năm 2023 để chuẩn bị cho Năm Thánh 2025. Hiện nay, ủy ban vẫn tiếp tục công việc của mình trong khuôn khổ hoạt động của Bộ Phong Thánh.
Lưu giữ ký ức về các vị tử đạo
Trong bài phát biểu, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh sự khác biệt giữa “các vị tử đạo mới và các chứng nhân đức tin” mà ủy ban nghiên cứu, với những người nam nữ “được chính thức ghi tên vào danh sách các Chân phước và các Thánh”. Ngài lưu ý rằng ủy ban ghi lại cái chết “vì Đức Kitô” của những cá nhân này một cách độc lập với “quy trình giáo luật, để tấm gương của họ không bị mai một”.
Đức Giáo Hoàng cho biết, nhiều người đã bị sát hại “do sự lạm dụng quyền lực hoặc bởi các tổ chức tội phạm, vì là Kitô hữu, họ đã lên tiếng chống lại những bất công của các thế lực này nhân danh Tin Mừng”. Vị Giáo hoàng người Peru gốc Mỹ này cho biết thêm rằng Giáo hội đã xây dựng khái niệm "người làm chứng cho đức tin" để áp dụng cho những trường hợp "phức tạp", nơi mà "động cơ của những thủ phạm không thể quy kết một cách rõ ràng là do 'lòng căm thù đức tin'".
Một kỷ nguyên mới của các vị tử đạo?
Do đó, ủy ban chú trọng nhiều hơn đến "tâm thế của nạn nhân thay vì động cơ của kẻ bách hại", Đức Giáo Hoàng Leo nhận định. Ngài chỉ ra rằng "sức mạnh loan báo Tin Mừng" của họ chính là "một trong những nguồn lực to lớn nhất của Giáo hội để rao giảng Tin Mừng". Ngài cũng quan sát thấy rằng sự làm chứng của họ có thể lay chuyển bất cứ ai, "ngay cả những người hoài nghi nhất".
Trong cuộc họp báo ngày 10 tháng 9 với sự tham dự của I.MEDIA – diễn ra trước thềm hội nghị chuyên đề với chủ đề "Thế kỷ 21: Một kỷ nguyên mới của các vị tử đạo chăng?" – Đức Hồng Y Semeraro cho biết đã có 1,700 vị tử đạo và người làm chứng cho đức tin được ghi nhận trên toàn thế giới kể từ đầu thiên niên kỷ mới. Các hồ sơ làm chứng vẫn tiếp tục được gửi đến Bộ mỗi ngày. Vị Hồng Y người Ý này cho biết ngài đã nhận được "khoảng 100 đến 150 hồ sơ trong năm nay".
Thần học Thân xác trong Kỷ nguyên Trí tuệ Nhân tạo
Vũ Văn An
15:23 17/09/2026
Stephen P. White, trong bản tin ngày 17 tháng 9 năm 2026 của tạp chí The Catholic Thing, cho rằng: Bất cứ ai biết đôi chút về "thần học thân xác" của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đều "biết" rằng nó nói về vấn đề tình dục. Tuy nhiên, ai hiểu sâu hơn một chút về thần học này sẽ thấy rằng, việc nói nó chỉ bàn về tình dục cũng giống như coi sách Sáng Thế như một chuyên luận về đạo đức trong việc ăn trái cây vậy.
Thần học thân xác là một công trình nghiên cứu sâu rộng thuộc lĩnh vực nhân học về sự nhập thể. Nó bàn về bản chất con người trong sự hiện hữu bằng thân xác. Chính vì thế, nó mang lại cho chúng ta nhiều bài học giá trị vượt xa phạm vi của vấn đề tính dục con người.
Cụ thể hơn, thần học thân xác mang lại những góc nhìn đầy ấn tượng và chưa được đánh giá đúng mức cho tư duy của chúng ta về Trí tuệ Nhân tạo (AI).
Phần lớn sự say mê (và cả nỗi lo âu) của chúng ta đối với AI đều tập trung vào khả năng mô phỏng trí tuệ con người của nó. Và rất nhiều cuộc thảo luận về AI xoay quanh việc liệu chúng ta có thể phân biệt một cách chính xác giữa "tư duy" của AI và tư duy của con người hay không.
Trong thông điệp Magnifica humanitas, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã phân biệt những khả năng đầy cuốn hút của trí tuệ nhân tạo với những năng lực đích thực của con người mà AI được thiết kế để mô phỏng:
Những thứ được gọi là trí tuệ nhân tạo không trải qua các kinh nghiệm sống, không có thân xác, không cảm nhận được niềm vui hay nỗi đau, không trưởng thành qua các mối quan hệ và không thấu hiểu từ nội tâm ý nghĩa của tình yêu, công việc, tình bạn hay trách nhiệm. Chúng cũng không có lương tâm đạo đức, bởi lẽ chúng không phán đoán thiện ác, không nắm bắt được ý nghĩa cốt lõi của các tình huống, hay chịu trách nhiệm về những hệ quả. Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ, hành vi và kỹ năng phân tích, hoặc thậm chí mô phỏng sự thấu cảm và thấu hiểu, nhưng chúng không thực sự hiểu những gì mình tạo ra; bởi lẽ chúng thiếu đi chiều kích cảm xúc, các mối quan hệ và đời sống tâm linh – những yếu tố giúp con người lớn lên trong sự khôn ngoan. (MH, 99)
Đức Giáo Hoàng Leo đề cập đến thân xác con người ngay từ đầu, nhưng trọng tâm của ngài là phân biệt khả năng mô phỏng ngôn ngữ và sự học hỏi của AI với năng lực tương ứng nơi con người.
Quả thực, đây đều là những sự phân biệt quan trọng. Tuy nhiên, những khác biệt khách quan, rõ ràng giữa AI và trí tuệ con người không phải là điểm khác biệt duy nhất – và có lẽ cũng không phải là điểm quan trọng nhất – giữa nhân tính và AI. Các phạm trù cũ của triết học Kinh viện về "mô thức" (form) và "vật thể" (matter) bỗng nhiên trở nên thích hợp trở lại. Làm người nghĩa là hiện hữu với tư cách là sự kết hợp giữa thể xác và linh hồn, chứ không đơn thuần là một linh hồn nằm trong một cơ thể. Linh hồn chính là mô thức và nguyên lý sự sống cho cơ thể chúng ta. Cái này không thể tồn tại độc lập với cái kia, trừ khi có sự can thiệp siêu nhiên. Đây là lý do tại sao chúng ta phải chết và tại sao chúng ta được tạo dựng để phục sinh.
Làm người nghĩa là, theo một cách nào đó, bản thân chúng ta chưa trọn vẹn. Chúng ta được tạo dựng để hiệp thông—một thực tại mà chính cơ thể nam và nữ của chúng ta là dấu chỉ. Làm người nghĩa là trở thành một sinh vật có tính xã hội và chính trị; cả hai khía cạnh này đều đòi hỏi phải có cơ thể. Làm người cũng có nghĩa là, theo một cách nào đó, trở thành một sinh vật hướng về hôn nhân. Không điều nào trong số này có thể đạt được chỉ bằng cách tải tâm trí lên một cỗ máy (ngay cả là cỗ máy sinh học), dù cho việc đó có khả hữu đi chăng nữa.

Cần lưu ý rằng con người chúng ta cũng học ngôn ngữ thông qua sự bắt chước. Chúng ta học "các kỹ năng hành vi và phân tích", cũng như "sự thấu cảm và thấu hiểu" theo cách tương tự. Nếu muốn xác định điều gì phân biệt chúng ta với trí tuệ nhân tạo (AI), chúng ta cần phải đi xa hơn khẳng định cho rằng năng lực của AI chỉ là sự "mô phỏng" các phẩm chất con người—dù sự mô phỏng đó có chính xác đến đâu đi nữa.
Lương tâm của chúng ta được hình thành (hoặc bị biến dạng) thông qua quá trình học hỏi bằng cách bắt chước. Nhờ lương tâm, chúng ta có thể phân biệt thiện và ác, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng làm như vậy. Chúng ta có thể giả vờ đưa ra các phán đoán và xác tín về mặt đạo đức.
Trên thực tế, con người giỏi giả vờ về một số phán đoán và hành vi đến mức chúng ta có thể đánh lừa người khác, và thậm chí cả chính mình, về những động cơ và cảm xúc thực sự của bản thân. Mặc dù chúng ta có thể đánh giá tốt những ý định đích thực của chính mình (với điều kiện lương tâm được rèn luyện đúng đắn), nhưng chúng ta thường lại rất kém trong việc đánh giá những điều tương tự ở người khác.
Mỗi người chúng ta đều nhận thức sâu sắc về trải nghiệm bản thân của chính mình đối với cả ý thức lẫn lương tâm. Tuy nhiên, những trải nghiệm này ở người khác—dù có thể được truyền đạt theo cách nào đó—vẫn hoàn toàn là điều mà chúng ta không thể thấu hiểu trọn vẹn. Chúng ta không bao giờ có thể thực sự "ở trong tâm trí" của người khác theo cách mà chúng ta "ở trong" tâm trí của chính mình. Nói cách khác, khả năng phân biệt giữa một con người và “trí tuệ nhân tạo” của tôi không nên dựa trên giả định rằng tôi có thể nhận ra sự khác biệt giữa trải nghiệm chủ quan của một người khác và “trải nghiệm chủ quan” của AI.
Bởi thực tế là tôi không thể biết trực tiếp về cả hai điều đó.
Do đó, sự khác biệt bền vững và dễ nhận thấy nhất từ bên ngoài (tôi không nói là quan trọng nhất) giữa con người và AI không nằm ở khả năng ngôn ngữ, “tư duy” hay biểu hiện cảm xúc – những thứ mà ta có thể không phân biệt nổi đâu là “thật” và đâu là “mô phỏng” – mà chính là ở cơ thể chúng ta; thứ mà, xin nhắc lại, còn hơn cả những cỗ máy sinh học rất nhiều.
Cơ thể chúng ta, đặc biệt khi được hiểu dưới ánh sáng của thần học thân xác, chúng hé lộ cho ta biết cả bản chất lẫn mục đích hiện hữu của con người. Hơn thế nữa, thân xác còn cho thấy nhiều điều về toàn thể công trình sáng tạo cũng như về Thiên Chúa – Đấng đã tạo dựng nên chúng ta và chính Người đã nhập thể làm người.
Điều này đưa chúng ta trở lại với Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và nền thần học thân xác:
Chỉ duy thân xác mới có khả năng làm cho những gì vô hình trở nên hữu hình: đó là thực tại thiêng liêng và thần linh. Thân xác được tạo dựng để chuyển tải mầu nhiệm vốn ẩn giấu nơi Thiên Chúa từ thuở đời đời vào thực tại hữu hình của thế giới, và qua đó trở thành dấu chỉ của mầu nhiệm ấy. Như vậy, chính tính bí tích của công trình sáng tạo – hay tính bí tích của thế giới – đã được mặc khải theo một cách thức đặc biệt nơi con người, tạo vật được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.
Đây chính là cốt lõi của thần học thân xác; qua đó, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã mang đến một sự lý giải đầy thuyết phục về những gì mà việc con người mang thân xác nói lên về chính bản thân họ, về thế giới và về Thiên Chúa. Đó là thông điệp mà con người thời nay đang vô cùng cần được lắng nghe – và có lẽ, không ai cần đến nó hơn những người tại Thung lũng Silicon, những người dường như đang có nguy cơ đánh mất ý niệm về bản chất con người ngay trong lúc họ đang nỗ lực tái tạo lại nó.
Sự thay đổi quan điểm của Vatican về các tôn giáo khác sau 60 năm
Vũ Văn An
15:46 17/09/2026

Theo D. R. Esparza, trong bản tin ngày 17/09/2026 của tạp chí Aleteia, vào ngày 16 tháng 9, Tòa Thánh đã công bố một văn bản giáo lý nhân kỷ niệm 60 năm Nostra Aetate — tuyên ngôn mang tính bước ngoặt của Công đồng Vatican II về mối quan hệ của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, được Thánh Giáo hoàng Phaolô VI ban hành vào ngày 28 tháng 10 năm 1965.
Với tựa đề "Hành trình Hy vọng: Sáu mươi năm Đối thoại Liên tôn và Tình huynh đệ dưới ánh sáng của Tuyên ngôn Công đồng Nostra Aetate", văn bản này đã được Đức Giáo Hoàng phê chuẩn vào ngày 22 tháng 6 và được đồng ban hành bởi ba cơ quan thuộc Giáo triều Rôma: Bộ Giáo lý Đức tin, Bộ Cổ vũ Hiệp nhất Kitô giáo và Bộ Đối thoại Liên tôn.
Văn bản này xuất hiện vào thời điểm mà các chủ đề được Nostra Aetate mở ra — mối quan hệ Do Thái giáo - Công Giáo, sự gặp gỡ giữa Hồi giáo và Kitô giáo, đối thoại với các tôn giáo phương Đông — đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, và ở một số khía cạnh, còn phức tạp hơn. Dưới đây là năm điểm mấu chốt để hiểu nội dung của tài liệu này.
1. Nostra Aetate là một bước ngoặt thực sự — và tầm quan trọng của nó vẫn không hề suy giảm
Văn bản mở đầu bằng việc đặt tuyên ngôn gốc năm 1965 vào bối cảnh lịch sử mà chính nó đã tạo ra. Như Bộ Đối thoại Liên tôn đã ghi nhận, Nostra Aetate — có nghĩa là "Trong thời đại chúng ta" — đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử. Trong năm phần súc tích, văn kiện này kêu gọi sự tôn trọng đối với các truyền thống đức tin khác và tuyên bố rõ ràng rằng Giáo Hội Công Giáo "không bác bỏ bất cứ điều gì chân thật và thánh thiện" trong các truyền thống đó. Nó đánh dấu lần đầu tiên Giáo hội chính thức bác bỏ chủ nghĩa bài Do Thái. Văn kiện thừa nhận di sản tinh thần chung giữa Kitô hữu và người Do Thái, đồng thời công nhận rằng người Hồi giáo "thờ phượng Thiên Chúa, Đấng duy nhất" và cùng chia sẻ đức tin của tổ phụ Abraham. Như cố Giáo sĩ trưởng (Chief Rabbi) London Jonathan Sacks từng nhận định, các cuộc gặp gỡ giữa các vị Giáo hoàng và các nhà lãnh đạo Do Thái giáo là điều “không thể tưởng tượng nổi” trước Công đồng Vatican II. Sáu thập niên sau, những cuộc gặp này đã trở thành chuyện thường tình. Đó chính là thước đo cho những thành quả mà văn kiện Nostra Aetate đã đạt được.
2. Vẫn cần một “sự thay đổi tư duy” — và sự thay đổi này cần sâu sắc hơn nữa
Bản Ghi chú không dừng lại ở những thành tựu của 60 năm qua. Văn kiện kêu gọi một “sự thay đổi tư duy” mới mẻ hơn nhằm tạo ra điều được mô tả là “một nền đạo đức mới của đối thoại”. Tài liệu này ca ngợi “sự thay đổi quan điểm” đã hình thành giữa các nhà lãnh đạo tôn giáo, mang lại “một văn hóa đối thoại và một ‘văn hóa gặp gỡ’” — nhưng cũng nhấn mạnh rằng tiến trình này cần được tiếp tục “với động lực mới để tình huynh đệ có thể được vun đắp giữa các tín ngưỡng khác nhau”. Công việc này vẫn chưa hoàn tất. Thậm chí, sự chia rẽ của thế giới đương thời và việc lợi dụng bản sắc tôn giáo như một thứ vũ khí trong nhiều cuộc xung đột càng khiến cho công việc dang dở này trở nên cấp thiết hơn.
3. Tự do tôn giáo là điều không thể thương lượng
Một trong những điểm nhấn sắc bén nhất của bản Ghi chú là sự khẳng định mối liên hệ giữa đối thoại đích thực và tự do đích thực. Văn kiện nêu rõ: “Không thể có mối quan hệ tôn trọng với các tôn giáo khác một cách chân thành hay khả hữu nếu thiếu sự tôn trọng tương xứng đối với tự do tôn giáo của người khác”. Đây không phải là lời lẽ xã giao ngoại giao. Đây là một khẳng định mang tính thần học: cuộc gặp gỡ đích thực giữa các đức tin là điều bất khả hữu khi một bên bị kìm kẹp, bách hại hoặc cưỡng ép. Tuyên bố này có ý nghĩa trực tiếp đối với các bối cảnh cụ thể — tại Trung Đông, một số khu vực ở châu Á, hay các quốc gia độc tài — nơi các Kitô hữu phải đối diện với những hạn chế, và cũng là nơi các Kitô hữu ở vị thế đa số đôi khi đã không dành sự tôn trọng tương tự như điều họ mong muốn được nhận lại.
4. Các tôn giáo phải là nhịp cầu, chứ không phải bức tường ngăn cách
Tài liệu này sử dụng ngôn từ tương tự như thông điệp video của Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô dành cho tháng 10 năm 2025 về chủ đề hợp tác liên tôn giáo: “Ước gì các tôn giáo không bị lợi dụng làm vũ khí hay những bức tường ngăn cách, mà thay vào đó, được sống như những nhịp cầu và lời ngôn sứ: biến giấc mơ về lợi ích chung thành hiện thực đáng tin cậy, đồng hành cùng sự sống, nuôi dưỡng niềm hy vọng và trở thành men của sự hiệp nhất trong một thế giới đầy chia rẽ”. Bản Ghi chú đặt tầm nhìn này trong khuôn khổ thần học được thiết lập bởi Nostra Aetate và được phát triển thêm qua Thông điệp Fratelli Tutti của Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô cũng như Tuyên ngôn Abu Dhabi về tình huynh đệ nhân loại. Xu hướng này rất nhất quán: Giáo hội ngày càng hiểu đối thoại liên tôn không phải là một cử chỉ ngoại giao tùy chọn, mà là một mệnh lệnh thần học bắt nguồn từ phẩm giá của mỗi con người.
5. Giếng nước Sychar — và thần học cơn khát
Một đoạn đáng chú ý trong bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Leo XIV nhân dịp kỷ niệm này — được trình bày tại Buổi Tiếp kiến Chung ngày 29 tháng 10 năm 2025 — có mối liên hệ chặt chẽ với bản Ghi chú nói trên. Đó là bài suy niệm của ngài về Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari. Đức Giáo Hoàng đã đặt câu Gioan 4,24 làm trọng tâm cho suy tư của mình về đối thoại liên tôn: “Thiên Chúa là Thần Khí, và những ai thờ phượng Người thì phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật.”
Đức Leo nói: “Trong Tin Mừng, cuộc gặp gỡ này bộc lộ bản chất của cuộc đối thoại tôn giáo đích thực: một sự trao đổi được hình thành khi con người cởi mở với nhau bằng sự chân thành, biết lắng nghe và cùng làm phong phú lẫn nhau. Đó là cuộc đối thoại nảy sinh từ cơn khát: cơn khát của Thiên Chúa đối với trái tim con người, và cơn khát của con người đối với Thiên Chúa.”
Giếng nước tại Sychar — nơi Chúa Giêsu đã vượt qua những rào cản về văn hóa, giới tính và tôn giáo — theo cách nhìn nhận của văn bản này, trở thành hình mẫu lý tưởng cho cuộc gặp gỡ liên tôn giáo: không phải là xóa bỏ sự khác biệt, mà là khám phá ra niềm khao khát chung hướng về Thiên Chúa — một niềm khao khát mà không một truyền thống riêng lẻ nào có thể thỏa mãn trọn vẹn.
Bản ghi chú mang tên “Hành trình Hy vọng” (A Journey of Hope) chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các chủ đề và văn phong của văn kiện Nostra Aetate cũng như các văn bản về phong trào đại kết trong nhiều thập niên tiếp theo. Văn bản này không đề xuất những bước ngoặt mới mang tính đột phá. Thay vào đó, sau 60 năm, nó khẳng định mạnh mẽ rằng định hướng mà Công đồng đã vạch ra là đúng đắn — và hành trình đó vẫn còn chặng đường dài phía trước.
Liên Đoàn CGVN Hoa Kỳ
Presentation to the Vietnamese Priests Emmaus I năm 2004 by Bishop William S. Skylstad
Giuse Đặng Văn Kiếm
16:02 17/09/2026
PRESENTATION TO THE VIETNAMESE PRIESTS
EMMAUS I
in Orange, California
October 5, 2004
Bishop William S. Skylstad.(*)
My father migrated to the United States from Norway in 1927. He was the 12th of 14 children and left his native land to look for work and new opportunities. He eventually became an apple farmer, and with my mother raised six children, all of whom were sent to college. My mother came to Washington State from Minnesota with her parents when she was just 9. Her grandparents failed at wheat farming. My grandfather died back in Minnesota trying to find ways to support his family, leaving my grandmother with four children to raise. My father and mother met when she was a nanny, and he worked in a sawmill.
I have often reflected on their mysteries journey that at one time seemed to be filled full of sadness, difficulty and challenge. Through all of this I was born, and I was called to priesthood. You, too, have been on your own journeys, mysterious and challenging as they maybe have been. I am sure at times you have wondered, as I have, what has brought you here to this moment, but all of us are here. We thank God.
We know that the Holy Spirit and God’s providence have profoundly touched our lives. You have come from Southeast Asia, and Jesus also came from Asia. The presence of the Church in Asia is an ancient tradition not only in the far west of that continent where Jesus was born but also in the tradition of St. Thomas who supposedly was martyred in southern India. In a later century St. Francis Xavier was a missionary proclaiming the Gospel in the part of the world from which you came.
Your own heritage speaks of a Church very much alive and deeply rooted in Vietnam. You have now for many different reasons come to the United States, and your ministry in this country blends into our larger Church of a wonderful diversity of cultures and ethnic backgrounds. As we share and reflect upon this moment in our priestly lives, I would like to share with you these following points in my presentation:
1. Examples of journeys in Sacred Scripture
2. Symbol of the journey in our modern world in which we minister
3. The importance of culture as our world becomes more and more the global village
4. Spirituality as the foundation stone of our ministry
5. Relationships in ministry
6. Demands of ministry
7. Priests of joy and hope.
I. The Journey of Faith
The journey of faith is so much a part of our lives, especially as all of us progress to the fullness of the Kingdom to which Jesus calls us. Reflection on the concept of journey provides a rich source of appreciation and gratitude. In the Old Testament the example of a faith journey par excellence is that of Abraham and Sarah, our parents in faith. The call of God to leave their homeland must have been a tremendously uprooting experience. Yet always faithful to God, they said yes. Their graciousness and hospitality were qualities of heart that welcomed the three visitors in their midst. As it turned out, these were messengers from God with the great news: Sarah will have a child within a year.
Joseph, the son of Isaac, was sold by his brothers to members of the caravan traveling towards Egypt. He becomes prominent in the Pharaoh’s kingdom, and eventually moves his family to Egypt, land of plenty. But enslavement of the people ensues, and God liberates his people through the plagues as they begin their long journey of some 40 years back to the Promised Land. With all of the hurt, devastation, and brokenness of people, God’s promise was fulfilled. The Feast of Passover celebrates God’s act of saving his people. What a powerful symbol that Feast became as Jesus celebrated the Passover in the upper room before his own crucifixion and death.
The journeys were not only those of distance on the road but also in the heart. David, the great king, would have his own struggle of heart as he dealt with God’s call. As a youth David was a humble servant tending the flock. He was also called by God to confront courageously the Philistine whom he dispatched quickly with a sling and a stone. He encountered much difficulty in dealing with a mentally ill King Saul. Then when David himself became king, his lustful approach to Bethsheba facilitated the murder of her husband, Uriah. Namaan, the prophet, confronted David about his evil actions, and David repented of his sin. He went on to become the great king.
The Babylonian exile was a time of captivity and subjugation for the chosen people. Their temple was destroyed and they were devastated. The prophets speak forcefully in those gloomy times of God’s faithfulness to them, of the need for repentance, and of the hope that eventually God’s promise will be fulfilled as they journeyed back to their homeland.
In the New Testament, Joseph and Mary for a time were refugees. Jesus in his public ministry constantly traveled throughout his homeland, preaching the Gospel. In the recent months in the selections from the Gospel of Luke on Sundays, Luke has Jesus traveling up to Jerusalem. Eventually, the greatest journey of all for Jesus was the carrying of the cross to Golgotha where he was crucified and died.
The Acts of the Apostles shares with us the three missionary journeys of St. Paul. Paul’s various writings to the communities which he evangelized speak of a person not only moving physically but also of a journey in his own heart. He spoke of continued conversion and a deepening appreciation of God’s goodness to him. Remarkably, Paul even in prison as an old man could speak joyfully and prophetically to the early Church. This was a man whose journey had left a deep imprint upon him, and that experience provided a foundation for his powerful ministry of proclaiming the Gospel and salvation by the Lord Jesus for all of humanity. In a remarkable way, Paul was in touch with the presence of God in each person. His theology of the Body of Christ in which he cleverly uses the parts of the body unified together to form the whole became a powerful image of how interconnected the human family was and is.
II. Symbol of the Journey
Certainly, one of the greatest religious events of the twentieth century was the Second Vatican Council from 1962-65. Pope John XXIII began the Council with the recognition that the windows of the Church had to be opened to let fresh air in. We as a Church were entering into a new world situation that demanded relationship with every human being on the planet. Even though the Church for 400 years previously had remained relatively unchanged, the realization came to the Holy Father and the Fathers of the Council that we are a Church on a journey. There was an honest acknowledgment that we are a pilgrim Church, a Church on the move, a Church living in dramatically changing and evolutionary times.
The concept of the Church being a pilgrim people and the fact that the Church had to take a hard look at herself by way of conversion and renewal came none too soon. Once again, the intervention of God into human history was so clear and apparent as the Holy Spirit touched the Church at the moment of the Second Vatican Council so that she might better see herself in relationship not only to herself internally but to the world community externally. The mobility of peoples and instantaneous communication occurred in a dramatic fashion. In the new millennium we see continued explosion of technological development, the reality of globalization, and the increased connectedness of the human family. 9-11 was immediately observed on TV screens all over the world. The deaths of 300 children in Beslan in Russia leave a world community deeply saddened and shocked.
Several years ago, Cardinal Hume in Toronto at the National Catholic Education Association Convention called for a revolution of relationships in our world. His call then becomes even more important now as we Catholic priests and the Catholic Church have universal presence in our world. In the document Lumen Gentium of the Second Vatican Council, the Church fathers tell us that the Church is increasingly called to be “sign and instrument both of a very closely knit union with God and of the unity of the whole human race.” In addition, the Holy Father in his 1995 World Migration Day message affirmed that “in the Church no one is a stranger, and the Church is not foreign to anyone, anywhere. As a sacrament of unity and thus a sign and a binding force for the whole human race, the Church is the place where illegal immigrants are also recognized and accepted as brothers and sisters. It is the task of the various dioceses’ activities to ensure that these people, who are obliged to live outside the safety net of civil society, may find a sense of brotherhood in a Christian community. Solidarity means taking responsibility for those in trouble.”
Those forceful remarks challenge all of us as priests in the Church to be mindful of the great opportunity we have to be instruments of unity and peace. As the Catholic Church we welcome all priests regardless of race, culture, language, and nation. In a very special way, we are to be sensitive to the marginalized, the excluded, and those impoverished for whatever reason.
We as priests in the Church through our culture, our presence, our solidarity with the Church universal throughout the world have a special opportunity to call everyone to a deep sense of reverence and respect for the human person, of every nation and ethnic background, of every belief and color of skin. Your presence as Vietnamese priests in the United States is one more sign of the diversity of this land which must be appreciated and affirmed. God sometimes uses us as challenges to those who have closed hearts, who deal with their own prejudices, and who even unfortunately might reject those of another ethnic background or creed.
With the Second Vatican Council the Church has come into the world community as the only international entity with such a common bond, common spirituality, common heritage, so beautifully expressed in many different ways and forms. Almost a year ago I was present in St. Peter’s Square for the beatification of Mother Teresa. Over 300,000 people, Catholics from all over the world, came to that celebration on a beautiful Sunday morning. What a powerful sign and _expression of our common bond of brothers and sisters in the Lord Jesus in his Church. For us as priests who preside at liturgical celebrations with our people and who have the privilege to share the Word of God, we have the unique opportunity of letting people know how precious and valuable they are as part of our Church and the human family.
Like all journeys at the present moment for us in priesthood, the journey at times may be difficult and challenging. As one looks at the images from Sacred Scripture and as we are mindful of some of the great Church leaders of today, their journeys were not particularly easy either. Specifically, I remember reading recently the book of Five Loaves and Two Fish by your brother countrymen, Cardinal Francis Xavier Van Thuan. His journey in prison for many years in your homeland, his deep sense of connecting the harshness of the moment in his spiritual journey, and his deeply felt connection not only with his native land but with all of God’s people, stand as a tremendous monument to a holy man, a wonderful servant of the Church. I had the privilege of meeting him briefly shortly before he died in Rome. You yourselves know what a man of inspiration he is. He fostered a sense of unity, spiritual connectedness, and appreciation of a journey and a struggle, as difficult and as challenging as it might have been. The cross of Jesus was exemplified in his own life, and he accepted it with graciousness and humility. Truly, he was a man of God deeply in touch with his Savior.
We need that inspiration today as we live in unusual times of pain and hurt in the Church. The sexual abuse scandal has left us shocked and dismayed. How could the image of the Church be so damaged in such a short period of time? And yet it has. Trust in the Church has been greatly weakened. We have been humbled. This was not the journey we had expected. Somehow, I strongly believe that God will use this tragic moment for renewal, for grace, for new opportunity, and perhaps even a positive sign for our society which must also deal with the same issue. But even more importantly, we must be sensitive to those who have been wounded, who have been deeply hurt. One can only imagine their trauma and their struggle. How can we help them? How can we be instruments of healing and reconciliation on their own journey? Especially now we have the opportunity for heartfelt compassion and patience for brothers and sisters who have been affected by brokenness and sin.
Finally, as we think about the symbol of journey, we are mindful that one of the longest journeys in our lives is not one necessarily of distance, although almost all of you have experienced that. It’s the journey from the head to the heart. Perhaps that is the most difficult and challenging of all. Our ministry as priests is to support one another in our mutual internal journey, but also to help every person appreciate that journey and the need to connect the two.
III. The Importance of Culture as Our World Becomes More and More the Global Village
Our world community is rich in its cultural diversity. The Church also embracing every land and culture has within herself various cultural expressions of faith. Culture addresses the ethnicity of people and their customs. Culture can also be an expression of a particular part of the country. For example, I suspect that our culture in the northwestern part of the United States is different from here in California. Our culture here on the West Coast is different than that of the East Coast of the United States. You as Vietnamese priests come from a land of rich culture and tradition. You have brought that culture here to the United States in your communities of faith, and I personally experience that richness of culture every year as I celebrate with the Vietnamese community in Spokane on the Feast of the Holy Family. Your food, your deep sense of devotion, your music, and dancing are all part of your cultural background.
As we well know, culture is never static. It is never cast in concrete. It is always dynamic, always changing, especially so today impacted by so many influences. You have the wonderful opportunity as priests in the Church of helping others to bridge cultures. Your coming here has demanded a coming to know the culture in the United States. In addition, your presence here has assisted people in coming to know of the richness of your own tradition.
Fortunately, we have come to a far deeper realization here in the United States of the value of culture. Decades ago, we took some pride in the fact we were a melting pot of peoples in the world community. Gradually we as Church came to the realization that if peoples were to come together as a kind of melting pot, then their individuality and diversity would be lost in that mix. Indeed, we have come from some very painful experiences in which we, for example, have forced the culture of Anglos on our Native peoples. We derided their costumes, their language, their native ways of doing things.
Now we have come much more to the realization where the mixture of people coming together is like a stew or like a salad on a table. Each vegetable keeps its own identity but flavors the whole. Would not that be wonderful if we could live that reality in the Church in a vibrant way!
As we begin this new third millennium, a teachable moment gives us the opportunity of increasing our welcoming spirit to which we are called as Church. In a recent pastoral statement Welcoming The Stranger Among Us: Unity and Diversity, the Catholic bishops of the United States called us to “offer a genuine and suitable welcome, to share together as brothers and sisters at the same table, and to work side by side to improve the quality of life of society’s marginalized members.” One of the strong images used more recently in the Church is a place at the table. We are a Church of hospitality, a warm heart, and a lived-out _expression of affection for and esteem of every person and culture.
Frankly, people in general have not always been as accepting of diversity of culture, especially in language, even in our own Church. Language accents of brothers can be criticized or rejected. The attitude that “you become one of us when you are like us” expresses a blindness of heart and lack of appreciation of the diversity within our Church and, indeed, in the human family. Attitudes of rejection, criticism, and de-humanizing attitudes are not easy to experience, but neither is the carrying of the cross of Christ easy. We never know how the Lord Jesus uses us as instruments of growth, deepening appreciation, or challenge to closed hearts.
The tradition of our Church is clear, and the call of Jesus is unambiguous. Cultural _expression adds richness to how faith is lived and expressed in our modern world. I have often heard the sentiment from Anglos here in the United States of how deeply touched and inspired they are by the Hispanic community who celebrates with great fervor and joy the Feast of Our Lady of Guadalupe. People are amazed at the fervor and the deep commitment to truly make this a day of celebration and remembrance. You also in your own culture from Vietnam have your own special days of celebration and remembrance.
In the pastoral statement, Asian and Pacific Presence—Harmony in Faith, the U.S. Catholic bishops quote Pope John Paul II: “The test of true inculturation is whether people become more committed to their Christian faith because they perceive it more clearly with the eyes of their own culture…. [Furthermore,] through inculturation the Church, for her part, becomes a more intelligible sign of what she is, and a more effective instrument of mission.”
IV. Spirituality is the Foundation Stone of Our Ministry
We live in a world of many images and cultural pressures. The advertising media very often appeals to misplaced values in the human heart. The perfect figure, the perfect complexion of skin, the color of hair, or a remedy to immediately reduce pain are all values oftentimes strongly promoted in ways we know so well. In our very complex world and certainly in a very complex ministry in which we are engaged in serving God’s people as priests, we must stay grounded in relationship to the Lord Jesus. Oftentimes our ministry takes place with very busy schedules and tremendous demands of our time and presence. Yet, we must take time to be present to our God in a spirit of prayer.
Several years ago, I heard a retreat master say that if we try to wrap our prayer around the day, we will not be very successful. We need to wrap the day around our prayer. Such an effort demands commitment and discipline. For me personally that has meant my setting aside time for prayer at the beginning of my day. I strive to spend at least an hour of prayer each day before the Blessed Sacrament. I also well recognize that ideal is not always possible, so perhaps it’s an hour in prayer in the car as I turn off the radio or as I sit in an airplane closing my eyes and focusing on the presence of the Lord. Even the beauty of the earth below from a plane window can spark a powerful meditation on the beauty of God’s creation.
One of the aspects with regard to prayer is that a prayerful person becomes very obvious to another. Not so long ago I came across an article written by a lay person who made the comment: “Allow me to listen to the homily of a priest for ten minutes, and I will tell you whether or not he prays.” Consistent prayer and a reflective spirit unmistakably leave its mark on us.
Our spirituality also calls us to a sense of humility in relationship to other people. We priests have places of honor as presiders of Eucharist, as leaders of our parish community. Perhaps that is even truer for us bishops. The real danger is to assume this self-importance as part of our identity and our manner of relationship with others. We are servants of the Lord. We are called to be the modern-day John the Baptists. You know John’s spirit very well as he spoke about Jesus: “He must increase. I must decrease.” Arrogance and inordinate pride become quickly observed personal characteristics that leave their negative impact upon others. For us as priests, we must appreciate the power of service and truly and remarkably the power of humility in our lives.
Simplicity of life along with humility gives vibrant witness of being “poor in spirit.” We live in a land of tremendous plenty. Walk into any supermarket or Circuit City store and you know the many products available. Too often people’s identity is wrapped up in what they have. I remember some years ago Archbishop Thomas Murphy, the former Archbishop of the Archdiocese of Seattle, who made the comment in a talk he gave when he was chair of the Stewardship Committee for United States Conference of Catholic Bishops: “What do I own, and what owns me?” What owns me? That’s a very good question. Am I into the latest gadgets, the nicest of things, the best restaurants, the most expensive clothing? In the example of Jesus, we are to be simple of heart and generous with what we have and what we receive. Our treasure in life is in relationship with the Lord and the people whom we serve. We remember always the words of Jesus: “Where your treasure is, that is where you heart is also.” People see very quickly where our heart is. Narcissism is so contrary to the Gospel and to a credible witness of priesthood.
As I have mentioned earlier, these are unusual days in the Church. Jesus invites us to carry our cross each day. We find crosses difficult to carry, but they are life-giving, humbling, and yes, they can be joy-filled. For years now, I have returned again and again to the beginning of the Letter of James: “Consider it complete joy when you become involved in all sorts of trials.” The cross of Jesus is always before us as we live our ministry faithful to Him. In mysterious and powerful ways, the cross lived in our lives points to the Lord Jesus. May you and I embrace our crosses of life with gratitude!
Internet allows wonderful opportunities of learning and of growth. The increasing availability of web sites can be of assistance to our preaching, to our increased knowledge about Church, and a way of keeping in contact with friends, family, and loved ones. However, having said this, I urge you to be extremely cautious of the potential of becoming addicted to pornography on the internet. In our houses of treatment for addictions of priests and religious, one of the most difficult addictions to treat is that of addiction to pornography on the internet. Given the tragedy of sexual abuse in our nation and some of the stories that continue to unfold in this area, we know how easy it is to give in to the temptation of this destructive enticement.
Finally, as we talk about our spirituality, let’s look to the stewardship of ourselves from a physical standpoint. Rest and exercise are very important for a balanced ministry. You remember the _expression, “Grace builds on nature.” Rest and exercise help to give us energy and vibrancy to our ministry. In terms of who you are, I would encourage you to have broad interests in life. There are so many areas about which to learn which have great potential for invigorating our minds and hearts, which help us to discover anew ourselves and the creation of the world about us. For example, I find astronomy to be a wonderful world of constant new discovery and admiration of the mystery of the universe about us. I look at a web site on the internet in which each day a picture of new galaxy taken by a telescope is presented. I am also an amateur radio operator and a beekeeper. I find bees fascinating and mysterious. Amateur radio helps me to contact people the world over, almost all of whom I would never meet face to face but yet have the relationship however brief it may be. Hobbies can be rejuvenating and refreshing.
V. Relationships and Ministry
Jesus in his ministry demonstrated how to live out relationships with others. He was in a relationship with saint and sinner, with the angry and the devastated, with his critics and those who killed him. Jesus’ mission expressed in and through us gives us the opportunity to love everyone. That is one of the great roles for us in priesthood – to love neighbor, to love one another, to love those who don’t like us, or even to love those who hate us. Priests have a tremendous opportunity to express this love for all people. I am amazed how again and again people who see me in a collar almost automatically expect a relationship. They have a right to that expectation. That includes the poorest of the poor, the street folks, people who struggle with their own brokenness and sinfulness. We love everyone.
Also, we must ask ourselves; how do we love one another as priests? If I am jealous of my brother who has a better position in pastoral ministry than I do, do I still love him? Envy and jealousy dehumanize our human spirit, and they are contradictory to our witness of the life of Jesus. We must be about supporting one another and helping each brother to be the best person he can be no matter his position in ministry or how gifted or lack of gifts he may have. How can I love my brother into fuller life and into the greater gift that God has given to him? That approach takes a special skill and a deep spirituality.
In the last few years, relationships between bishops and priests have suffered. We bishops must work hard at building up a sense of fraternity with the presbyterates we serve. We are brothers together in our priestly ministry. I would encourage you to also take initiative in relationship with your bishop. We are all human, and every bishop struggles with his challenge to be holy as does every priest and every person we serve.
You no doubt have heard the old story of a priest who joyfully kept repeating the phrase, “The bishop has died!” May we together take one another’s interests to heart and truly recognize and appreciate one another as brothers.
Our relationships with other people call us to be very mindful of the necessary boundaries that provide protection and a way of assisting others to grow in their own goodness and spirituality. We must be very careful of physical boundaries with people so that we don’t violate God’s commands of respect for the human person and our respective sexualities. How tragically we have learned from bitter experience in the Church these past few years of boundaries that have been violated, to the significant damage inflicted upon victims of sexual abuse, and the dehumanization of those who abuse.
Just as importantly we must be very frank and honest about the emotional boundaries we must have with others as well. Oftentimes people who come to us are vulnerable and needy. If we are not well integrated ourselves with regard to our personhood and sexuality, then we minister with risk to other people. We must be deadly honest about our motivation and be extremely cautious that we do not allow ourselves to be manipulated or to be gripped by our own self-deception. Every person to whom we minister represents the presence of Jesus. We must live our boundaries with responsibility and profound respect for the other.
In this area of respect for one another, we also must mention our respect for women. I am not quite so aware in your own Vietnamese culture of your attitude towards women and acceptance of their gifts. We must be careful about using other people as objects either for our own control or enjoyment. We can abuse people both in body and in our own hearts. Jesus is very clear about this in the Gospel when he tells us: “Anyone who looks lustfully at a woman has already committed adultery with her in his thoughts.” Matthew 5:28.
Today especially with women who have been abused by the power of men, we priests have a special opportunity of relating to them in a way that does not dehumanize but builds up their own sense of worth and dignity. We must treat them with respect or we greatly weaken the effectiveness of our ministry? They are valuable collaborators in witnessing to the Gospel, vibrant witnesses of faith. Do we not recognize women as the primary carriers of faith in our society? My own mother has affirmed that gift in me.
Finally in our relationships, one of the great changes that has occurred in the United States and much of the world is the education of our laity in general. Long gone is the day when only the priests are the educated people of the community. So many of our laity are well educated and oftentimes just as well educated if not better than we ourselves. We have the unusual opportunity of using those gifts in service to building up the Church and the Body of Christ.
Frankly, in my own ministry as bishop, I could not begin to do my work as well without the laity. Their wisdom and their eagerness to generously serve the Church have been for me a great source of inspiration and gratitude. Sometimes we find our temptation to control others or to do it alone. To control others is wrong and dehumanizes the other. Although using the gifts of all of our people may be more demanding and take greater skill, we as priests will bring about using the gifts of our lay people a more vibrant, enthusiastic, and rich community of faith. A controlling spirit serves far more my own perceived needs than that of community. I challenge you as I challenge myself to be a collaborative priest in service to God’s people. Please allow the gifts of others to surface in the community of faith you serve. Sometimes the laity calls for greater “democratization.” We listen with respect, strive to widen their vision, involve them in finding solutions and directions for the future, affirm their concern and good intentions, and be patient as we continue to improve the consultative process within the Church and assist them in appreciating authoritative roles.
VI. The Demands of Priestly Ministry
Priestly Ministry today has become increasingly complex. Expectations of people in the community of faith are high. They rightfully demand of us accountability of our position as a presider of a community of faith, and they expect of us to be a holy man and a lover of all. So much of our ministry is taken up with the ministry of presence. A ministry of presence is demanding and takes much energy. It is also a ministry that is powerful. Visits to hospitals, to those experiencing terminal illness or death in the family, or to those who experience tragedy or calamity in their own lives are all opportunities for us to be present to others. In addition, parish functions, and there are so many of them, demand our presence. We should be the first one to come and the last one to leave.
I remember some years ago a person who called me late in the evening as I was about to go to bed. I had a long and tiring day, but the person who called me was in desperate need. After a long conversation, I hung up and went to bed wishing that he had called at another time. A few days later I received a note expressing gratitude and an acknowledgment that he knew I was tired at the time. I was embarrassed by my pickiness. That was one episode in my own life, but we have all experienced them again and again. I recall to mind frequently the scene of Jesus after a long day when parents brought their little children to him. The disciples were upset with the presence of the parents bringing their children, but Jesus’ response was: “Let the little children come to me.” May that attitude be also a sign of our own ministry.
The task of priestly ministry today has been greatly complicated by fewer priests with increasing demands for priestly ministry. Given this reality, we are challenged to keep our priorities in order, to make sure that increased workloads do not lead to burn out or to lack of enthusiasm and vigor in our ministry. Fr. Ronald Rolheiser, OMI, one of the great spiritual writers of our day, speaks of the necessity to combine wisdom and fire in our lives. Sometimes a person may have a lot of fire but not a lot of wisdom. Or a person may have a lot of wisdom but not a lot of fire. He reflects that seldom is the person who can combine both in a balanced manner. Even with busy schedules we can be priests very much alive if we keep our lives in balance with prayer, ministry, rest, and relaxation.
We are servants of the Lord. Jesus tells us: “I have come not to be served, but to serve.” The Second Vatican Council has emphasized this reality for us and, indeed, a spirit of loving service has its own powerful witness and example. We are here to serve others, not to be primarily focused on ourselves. In this time of alienation and polarity in our society, we priests have an unusual opportunity of being ministers of unity and reconciliation. In the United States we have been deeply touched by an increasing anger and broken relationships among so many people. We as priests must continue to call for forgiveness, love of neighbor, and reconciliation. We are peace-makers and peace-builders. Pope John Paul II in his visit to Coventry, England, many years ago expressed the sentiment that peace is built like a fine cathedral. I like that image. We must be about the building patiently, carefully, and hopefully.
Finally with regard to our ministry as priests, we can never forget the tremendous opportunity we have in presiding carefully and well in the celebration of the sacraments, especially Eucharist. Eucharist is a moment when we interact most with our people each weekend. Good preaching and good presiding are very important. They are also very effective in affirming people and helping them to come into contact with their God and with the community of faith and to process their lives. We must constantly look to continuing growth and development as good presiders of sacraments and of good preaching. The treasure of our sacramental tradition is too valuable and precious to allow the celebrations to be weakened by sloppiness, unprepared ness, or indifference.
VII. Priests of Joy and Hope
We priests live in a world of alienation and brokenness We live in times of darkness and violence. The cross of Jesus as experienced in people’s lives is very apparent. Yet, we heard Jesus shortly before he died tell his disciples: “All this I tell you that my joy may be yours and your joy may be complete.” John 15:11. Joy is integral to our lives as priests. Cardinal Martini, the former Archbishop of Milan, once said, “Joy is the mother of communication.” A joyful priest helps others to be joyful and is a sign of keeping even the harshness and trials of life in perspective as we all journey to the fullness of the Kingdom of God. Such a priest is truly a light to the world and salt of the earth.
We as priests certainly know that God has entrusted us to his care. We are called to be priests of hope as we look to the future. We deal with challenges of culture in the secular world in which we live. We don’t have all of the answers and probably don’t even ask all of the right questions. But we are called to be people of hope who trust deeply in God’s providence. As we look to the future, we don’t know the way for sure except the way of Jesus. We trust in the guidance of the Spirit who constantly teaches us and touches us. As St. Paul reminds us: if the object of hope is seen, how can we be a hope-filled people?
We are priests of the Lord. We have been blessed, and yet we have great challenges and opportunities before us. The Lord is with us. The Holy Spirit guides us. We are hope-filled and we are joyful. Most assuredly God’s Holy Spirit will continue to work amongst the people whom we serve. God’s promise will be fulfilled. We rejoice and thank God.
The End.
*At the time Bishop Skylstad was Vice-president of the USCCB. He later became its President.
PS: I sent a copy of this original in English and to Bishop Khảm Jan. 30, 2026 via Mr. Ng Tấn Dũng, CT CĐCGVN Spokane. [Fr. Jo Hien]
EMMAUS I
in Orange, California
October 5, 2004
Bishop William S. Skylstad.(*)
My father migrated to the United States from Norway in 1927. He was the 12th of 14 children and left his native land to look for work and new opportunities. He eventually became an apple farmer, and with my mother raised six children, all of whom were sent to college. My mother came to Washington State from Minnesota with her parents when she was just 9. Her grandparents failed at wheat farming. My grandfather died back in Minnesota trying to find ways to support his family, leaving my grandmother with four children to raise. My father and mother met when she was a nanny, and he worked in a sawmill.
I have often reflected on their mysteries journey that at one time seemed to be filled full of sadness, difficulty and challenge. Through all of this I was born, and I was called to priesthood. You, too, have been on your own journeys, mysterious and challenging as they maybe have been. I am sure at times you have wondered, as I have, what has brought you here to this moment, but all of us are here. We thank God.
We know that the Holy Spirit and God’s providence have profoundly touched our lives. You have come from Southeast Asia, and Jesus also came from Asia. The presence of the Church in Asia is an ancient tradition not only in the far west of that continent where Jesus was born but also in the tradition of St. Thomas who supposedly was martyred in southern India. In a later century St. Francis Xavier was a missionary proclaiming the Gospel in the part of the world from which you came.
Your own heritage speaks of a Church very much alive and deeply rooted in Vietnam. You have now for many different reasons come to the United States, and your ministry in this country blends into our larger Church of a wonderful diversity of cultures and ethnic backgrounds. As we share and reflect upon this moment in our priestly lives, I would like to share with you these following points in my presentation:
1. Examples of journeys in Sacred Scripture
2. Symbol of the journey in our modern world in which we minister
3. The importance of culture as our world becomes more and more the global village
4. Spirituality as the foundation stone of our ministry
5. Relationships in ministry
6. Demands of ministry
7. Priests of joy and hope.
I. The Journey of Faith
The journey of faith is so much a part of our lives, especially as all of us progress to the fullness of the Kingdom to which Jesus calls us. Reflection on the concept of journey provides a rich source of appreciation and gratitude. In the Old Testament the example of a faith journey par excellence is that of Abraham and Sarah, our parents in faith. The call of God to leave their homeland must have been a tremendously uprooting experience. Yet always faithful to God, they said yes. Their graciousness and hospitality were qualities of heart that welcomed the three visitors in their midst. As it turned out, these were messengers from God with the great news: Sarah will have a child within a year.
Joseph, the son of Isaac, was sold by his brothers to members of the caravan traveling towards Egypt. He becomes prominent in the Pharaoh’s kingdom, and eventually moves his family to Egypt, land of plenty. But enslavement of the people ensues, and God liberates his people through the plagues as they begin their long journey of some 40 years back to the Promised Land. With all of the hurt, devastation, and brokenness of people, God’s promise was fulfilled. The Feast of Passover celebrates God’s act of saving his people. What a powerful symbol that Feast became as Jesus celebrated the Passover in the upper room before his own crucifixion and death.
The journeys were not only those of distance on the road but also in the heart. David, the great king, would have his own struggle of heart as he dealt with God’s call. As a youth David was a humble servant tending the flock. He was also called by God to confront courageously the Philistine whom he dispatched quickly with a sling and a stone. He encountered much difficulty in dealing with a mentally ill King Saul. Then when David himself became king, his lustful approach to Bethsheba facilitated the murder of her husband, Uriah. Namaan, the prophet, confronted David about his evil actions, and David repented of his sin. He went on to become the great king.
The Babylonian exile was a time of captivity and subjugation for the chosen people. Their temple was destroyed and they were devastated. The prophets speak forcefully in those gloomy times of God’s faithfulness to them, of the need for repentance, and of the hope that eventually God’s promise will be fulfilled as they journeyed back to their homeland.
In the New Testament, Joseph and Mary for a time were refugees. Jesus in his public ministry constantly traveled throughout his homeland, preaching the Gospel. In the recent months in the selections from the Gospel of Luke on Sundays, Luke has Jesus traveling up to Jerusalem. Eventually, the greatest journey of all for Jesus was the carrying of the cross to Golgotha where he was crucified and died.
The Acts of the Apostles shares with us the three missionary journeys of St. Paul. Paul’s various writings to the communities which he evangelized speak of a person not only moving physically but also of a journey in his own heart. He spoke of continued conversion and a deepening appreciation of God’s goodness to him. Remarkably, Paul even in prison as an old man could speak joyfully and prophetically to the early Church. This was a man whose journey had left a deep imprint upon him, and that experience provided a foundation for his powerful ministry of proclaiming the Gospel and salvation by the Lord Jesus for all of humanity. In a remarkable way, Paul was in touch with the presence of God in each person. His theology of the Body of Christ in which he cleverly uses the parts of the body unified together to form the whole became a powerful image of how interconnected the human family was and is.
II. Symbol of the Journey
Certainly, one of the greatest religious events of the twentieth century was the Second Vatican Council from 1962-65. Pope John XXIII began the Council with the recognition that the windows of the Church had to be opened to let fresh air in. We as a Church were entering into a new world situation that demanded relationship with every human being on the planet. Even though the Church for 400 years previously had remained relatively unchanged, the realization came to the Holy Father and the Fathers of the Council that we are a Church on a journey. There was an honest acknowledgment that we are a pilgrim Church, a Church on the move, a Church living in dramatically changing and evolutionary times.
The concept of the Church being a pilgrim people and the fact that the Church had to take a hard look at herself by way of conversion and renewal came none too soon. Once again, the intervention of God into human history was so clear and apparent as the Holy Spirit touched the Church at the moment of the Second Vatican Council so that she might better see herself in relationship not only to herself internally but to the world community externally. The mobility of peoples and instantaneous communication occurred in a dramatic fashion. In the new millennium we see continued explosion of technological development, the reality of globalization, and the increased connectedness of the human family. 9-11 was immediately observed on TV screens all over the world. The deaths of 300 children in Beslan in Russia leave a world community deeply saddened and shocked.
Several years ago, Cardinal Hume in Toronto at the National Catholic Education Association Convention called for a revolution of relationships in our world. His call then becomes even more important now as we Catholic priests and the Catholic Church have universal presence in our world. In the document Lumen Gentium of the Second Vatican Council, the Church fathers tell us that the Church is increasingly called to be “sign and instrument both of a very closely knit union with God and of the unity of the whole human race.” In addition, the Holy Father in his 1995 World Migration Day message affirmed that “in the Church no one is a stranger, and the Church is not foreign to anyone, anywhere. As a sacrament of unity and thus a sign and a binding force for the whole human race, the Church is the place where illegal immigrants are also recognized and accepted as brothers and sisters. It is the task of the various dioceses’ activities to ensure that these people, who are obliged to live outside the safety net of civil society, may find a sense of brotherhood in a Christian community. Solidarity means taking responsibility for those in trouble.”
Those forceful remarks challenge all of us as priests in the Church to be mindful of the great opportunity we have to be instruments of unity and peace. As the Catholic Church we welcome all priests regardless of race, culture, language, and nation. In a very special way, we are to be sensitive to the marginalized, the excluded, and those impoverished for whatever reason.
We as priests in the Church through our culture, our presence, our solidarity with the Church universal throughout the world have a special opportunity to call everyone to a deep sense of reverence and respect for the human person, of every nation and ethnic background, of every belief and color of skin. Your presence as Vietnamese priests in the United States is one more sign of the diversity of this land which must be appreciated and affirmed. God sometimes uses us as challenges to those who have closed hearts, who deal with their own prejudices, and who even unfortunately might reject those of another ethnic background or creed.
With the Second Vatican Council the Church has come into the world community as the only international entity with such a common bond, common spirituality, common heritage, so beautifully expressed in many different ways and forms. Almost a year ago I was present in St. Peter’s Square for the beatification of Mother Teresa. Over 300,000 people, Catholics from all over the world, came to that celebration on a beautiful Sunday morning. What a powerful sign and _expression of our common bond of brothers and sisters in the Lord Jesus in his Church. For us as priests who preside at liturgical celebrations with our people and who have the privilege to share the Word of God, we have the unique opportunity of letting people know how precious and valuable they are as part of our Church and the human family.
Like all journeys at the present moment for us in priesthood, the journey at times may be difficult and challenging. As one looks at the images from Sacred Scripture and as we are mindful of some of the great Church leaders of today, their journeys were not particularly easy either. Specifically, I remember reading recently the book of Five Loaves and Two Fish by your brother countrymen, Cardinal Francis Xavier Van Thuan. His journey in prison for many years in your homeland, his deep sense of connecting the harshness of the moment in his spiritual journey, and his deeply felt connection not only with his native land but with all of God’s people, stand as a tremendous monument to a holy man, a wonderful servant of the Church. I had the privilege of meeting him briefly shortly before he died in Rome. You yourselves know what a man of inspiration he is. He fostered a sense of unity, spiritual connectedness, and appreciation of a journey and a struggle, as difficult and as challenging as it might have been. The cross of Jesus was exemplified in his own life, and he accepted it with graciousness and humility. Truly, he was a man of God deeply in touch with his Savior.
We need that inspiration today as we live in unusual times of pain and hurt in the Church. The sexual abuse scandal has left us shocked and dismayed. How could the image of the Church be so damaged in such a short period of time? And yet it has. Trust in the Church has been greatly weakened. We have been humbled. This was not the journey we had expected. Somehow, I strongly believe that God will use this tragic moment for renewal, for grace, for new opportunity, and perhaps even a positive sign for our society which must also deal with the same issue. But even more importantly, we must be sensitive to those who have been wounded, who have been deeply hurt. One can only imagine their trauma and their struggle. How can we help them? How can we be instruments of healing and reconciliation on their own journey? Especially now we have the opportunity for heartfelt compassion and patience for brothers and sisters who have been affected by brokenness and sin.
Finally, as we think about the symbol of journey, we are mindful that one of the longest journeys in our lives is not one necessarily of distance, although almost all of you have experienced that. It’s the journey from the head to the heart. Perhaps that is the most difficult and challenging of all. Our ministry as priests is to support one another in our mutual internal journey, but also to help every person appreciate that journey and the need to connect the two.
III. The Importance of Culture as Our World Becomes More and More the Global Village
Our world community is rich in its cultural diversity. The Church also embracing every land and culture has within herself various cultural expressions of faith. Culture addresses the ethnicity of people and their customs. Culture can also be an expression of a particular part of the country. For example, I suspect that our culture in the northwestern part of the United States is different from here in California. Our culture here on the West Coast is different than that of the East Coast of the United States. You as Vietnamese priests come from a land of rich culture and tradition. You have brought that culture here to the United States in your communities of faith, and I personally experience that richness of culture every year as I celebrate with the Vietnamese community in Spokane on the Feast of the Holy Family. Your food, your deep sense of devotion, your music, and dancing are all part of your cultural background.
As we well know, culture is never static. It is never cast in concrete. It is always dynamic, always changing, especially so today impacted by so many influences. You have the wonderful opportunity as priests in the Church of helping others to bridge cultures. Your coming here has demanded a coming to know the culture in the United States. In addition, your presence here has assisted people in coming to know of the richness of your own tradition.
Fortunately, we have come to a far deeper realization here in the United States of the value of culture. Decades ago, we took some pride in the fact we were a melting pot of peoples in the world community. Gradually we as Church came to the realization that if peoples were to come together as a kind of melting pot, then their individuality and diversity would be lost in that mix. Indeed, we have come from some very painful experiences in which we, for example, have forced the culture of Anglos on our Native peoples. We derided their costumes, their language, their native ways of doing things.
Now we have come much more to the realization where the mixture of people coming together is like a stew or like a salad on a table. Each vegetable keeps its own identity but flavors the whole. Would not that be wonderful if we could live that reality in the Church in a vibrant way!
As we begin this new third millennium, a teachable moment gives us the opportunity of increasing our welcoming spirit to which we are called as Church. In a recent pastoral statement Welcoming The Stranger Among Us: Unity and Diversity, the Catholic bishops of the United States called us to “offer a genuine and suitable welcome, to share together as brothers and sisters at the same table, and to work side by side to improve the quality of life of society’s marginalized members.” One of the strong images used more recently in the Church is a place at the table. We are a Church of hospitality, a warm heart, and a lived-out _expression of affection for and esteem of every person and culture.
Frankly, people in general have not always been as accepting of diversity of culture, especially in language, even in our own Church. Language accents of brothers can be criticized or rejected. The attitude that “you become one of us when you are like us” expresses a blindness of heart and lack of appreciation of the diversity within our Church and, indeed, in the human family. Attitudes of rejection, criticism, and de-humanizing attitudes are not easy to experience, but neither is the carrying of the cross of Christ easy. We never know how the Lord Jesus uses us as instruments of growth, deepening appreciation, or challenge to closed hearts.
The tradition of our Church is clear, and the call of Jesus is unambiguous. Cultural _expression adds richness to how faith is lived and expressed in our modern world. I have often heard the sentiment from Anglos here in the United States of how deeply touched and inspired they are by the Hispanic community who celebrates with great fervor and joy the Feast of Our Lady of Guadalupe. People are amazed at the fervor and the deep commitment to truly make this a day of celebration and remembrance. You also in your own culture from Vietnam have your own special days of celebration and remembrance.
In the pastoral statement, Asian and Pacific Presence—Harmony in Faith, the U.S. Catholic bishops quote Pope John Paul II: “The test of true inculturation is whether people become more committed to their Christian faith because they perceive it more clearly with the eyes of their own culture…. [Furthermore,] through inculturation the Church, for her part, becomes a more intelligible sign of what she is, and a more effective instrument of mission.”
IV. Spirituality is the Foundation Stone of Our Ministry
We live in a world of many images and cultural pressures. The advertising media very often appeals to misplaced values in the human heart. The perfect figure, the perfect complexion of skin, the color of hair, or a remedy to immediately reduce pain are all values oftentimes strongly promoted in ways we know so well. In our very complex world and certainly in a very complex ministry in which we are engaged in serving God’s people as priests, we must stay grounded in relationship to the Lord Jesus. Oftentimes our ministry takes place with very busy schedules and tremendous demands of our time and presence. Yet, we must take time to be present to our God in a spirit of prayer.
Several years ago, I heard a retreat master say that if we try to wrap our prayer around the day, we will not be very successful. We need to wrap the day around our prayer. Such an effort demands commitment and discipline. For me personally that has meant my setting aside time for prayer at the beginning of my day. I strive to spend at least an hour of prayer each day before the Blessed Sacrament. I also well recognize that ideal is not always possible, so perhaps it’s an hour in prayer in the car as I turn off the radio or as I sit in an airplane closing my eyes and focusing on the presence of the Lord. Even the beauty of the earth below from a plane window can spark a powerful meditation on the beauty of God’s creation.
One of the aspects with regard to prayer is that a prayerful person becomes very obvious to another. Not so long ago I came across an article written by a lay person who made the comment: “Allow me to listen to the homily of a priest for ten minutes, and I will tell you whether or not he prays.” Consistent prayer and a reflective spirit unmistakably leave its mark on us.
Our spirituality also calls us to a sense of humility in relationship to other people. We priests have places of honor as presiders of Eucharist, as leaders of our parish community. Perhaps that is even truer for us bishops. The real danger is to assume this self-importance as part of our identity and our manner of relationship with others. We are servants of the Lord. We are called to be the modern-day John the Baptists. You know John’s spirit very well as he spoke about Jesus: “He must increase. I must decrease.” Arrogance and inordinate pride become quickly observed personal characteristics that leave their negative impact upon others. For us as priests, we must appreciate the power of service and truly and remarkably the power of humility in our lives.
Simplicity of life along with humility gives vibrant witness of being “poor in spirit.” We live in a land of tremendous plenty. Walk into any supermarket or Circuit City store and you know the many products available. Too often people’s identity is wrapped up in what they have. I remember some years ago Archbishop Thomas Murphy, the former Archbishop of the Archdiocese of Seattle, who made the comment in a talk he gave when he was chair of the Stewardship Committee for United States Conference of Catholic Bishops: “What do I own, and what owns me?” What owns me? That’s a very good question. Am I into the latest gadgets, the nicest of things, the best restaurants, the most expensive clothing? In the example of Jesus, we are to be simple of heart and generous with what we have and what we receive. Our treasure in life is in relationship with the Lord and the people whom we serve. We remember always the words of Jesus: “Where your treasure is, that is where you heart is also.” People see very quickly where our heart is. Narcissism is so contrary to the Gospel and to a credible witness of priesthood.
As I have mentioned earlier, these are unusual days in the Church. Jesus invites us to carry our cross each day. We find crosses difficult to carry, but they are life-giving, humbling, and yes, they can be joy-filled. For years now, I have returned again and again to the beginning of the Letter of James: “Consider it complete joy when you become involved in all sorts of trials.” The cross of Jesus is always before us as we live our ministry faithful to Him. In mysterious and powerful ways, the cross lived in our lives points to the Lord Jesus. May you and I embrace our crosses of life with gratitude!
Internet allows wonderful opportunities of learning and of growth. The increasing availability of web sites can be of assistance to our preaching, to our increased knowledge about Church, and a way of keeping in contact with friends, family, and loved ones. However, having said this, I urge you to be extremely cautious of the potential of becoming addicted to pornography on the internet. In our houses of treatment for addictions of priests and religious, one of the most difficult addictions to treat is that of addiction to pornography on the internet. Given the tragedy of sexual abuse in our nation and some of the stories that continue to unfold in this area, we know how easy it is to give in to the temptation of this destructive enticement.
Finally, as we talk about our spirituality, let’s look to the stewardship of ourselves from a physical standpoint. Rest and exercise are very important for a balanced ministry. You remember the _expression, “Grace builds on nature.” Rest and exercise help to give us energy and vibrancy to our ministry. In terms of who you are, I would encourage you to have broad interests in life. There are so many areas about which to learn which have great potential for invigorating our minds and hearts, which help us to discover anew ourselves and the creation of the world about us. For example, I find astronomy to be a wonderful world of constant new discovery and admiration of the mystery of the universe about us. I look at a web site on the internet in which each day a picture of new galaxy taken by a telescope is presented. I am also an amateur radio operator and a beekeeper. I find bees fascinating and mysterious. Amateur radio helps me to contact people the world over, almost all of whom I would never meet face to face but yet have the relationship however brief it may be. Hobbies can be rejuvenating and refreshing.
V. Relationships and Ministry
Jesus in his ministry demonstrated how to live out relationships with others. He was in a relationship with saint and sinner, with the angry and the devastated, with his critics and those who killed him. Jesus’ mission expressed in and through us gives us the opportunity to love everyone. That is one of the great roles for us in priesthood – to love neighbor, to love one another, to love those who don’t like us, or even to love those who hate us. Priests have a tremendous opportunity to express this love for all people. I am amazed how again and again people who see me in a collar almost automatically expect a relationship. They have a right to that expectation. That includes the poorest of the poor, the street folks, people who struggle with their own brokenness and sinfulness. We love everyone.
Also, we must ask ourselves; how do we love one another as priests? If I am jealous of my brother who has a better position in pastoral ministry than I do, do I still love him? Envy and jealousy dehumanize our human spirit, and they are contradictory to our witness of the life of Jesus. We must be about supporting one another and helping each brother to be the best person he can be no matter his position in ministry or how gifted or lack of gifts he may have. How can I love my brother into fuller life and into the greater gift that God has given to him? That approach takes a special skill and a deep spirituality.
In the last few years, relationships between bishops and priests have suffered. We bishops must work hard at building up a sense of fraternity with the presbyterates we serve. We are brothers together in our priestly ministry. I would encourage you to also take initiative in relationship with your bishop. We are all human, and every bishop struggles with his challenge to be holy as does every priest and every person we serve.
You no doubt have heard the old story of a priest who joyfully kept repeating the phrase, “The bishop has died!” May we together take one another’s interests to heart and truly recognize and appreciate one another as brothers.
Our relationships with other people call us to be very mindful of the necessary boundaries that provide protection and a way of assisting others to grow in their own goodness and spirituality. We must be very careful of physical boundaries with people so that we don’t violate God’s commands of respect for the human person and our respective sexualities. How tragically we have learned from bitter experience in the Church these past few years of boundaries that have been violated, to the significant damage inflicted upon victims of sexual abuse, and the dehumanization of those who abuse.
Just as importantly we must be very frank and honest about the emotional boundaries we must have with others as well. Oftentimes people who come to us are vulnerable and needy. If we are not well integrated ourselves with regard to our personhood and sexuality, then we minister with risk to other people. We must be deadly honest about our motivation and be extremely cautious that we do not allow ourselves to be manipulated or to be gripped by our own self-deception. Every person to whom we minister represents the presence of Jesus. We must live our boundaries with responsibility and profound respect for the other.
In this area of respect for one another, we also must mention our respect for women. I am not quite so aware in your own Vietnamese culture of your attitude towards women and acceptance of their gifts. We must be careful about using other people as objects either for our own control or enjoyment. We can abuse people both in body and in our own hearts. Jesus is very clear about this in the Gospel when he tells us: “Anyone who looks lustfully at a woman has already committed adultery with her in his thoughts.” Matthew 5:28.
Today especially with women who have been abused by the power of men, we priests have a special opportunity of relating to them in a way that does not dehumanize but builds up their own sense of worth and dignity. We must treat them with respect or we greatly weaken the effectiveness of our ministry? They are valuable collaborators in witnessing to the Gospel, vibrant witnesses of faith. Do we not recognize women as the primary carriers of faith in our society? My own mother has affirmed that gift in me.
Finally in our relationships, one of the great changes that has occurred in the United States and much of the world is the education of our laity in general. Long gone is the day when only the priests are the educated people of the community. So many of our laity are well educated and oftentimes just as well educated if not better than we ourselves. We have the unusual opportunity of using those gifts in service to building up the Church and the Body of Christ.
Frankly, in my own ministry as bishop, I could not begin to do my work as well without the laity. Their wisdom and their eagerness to generously serve the Church have been for me a great source of inspiration and gratitude. Sometimes we find our temptation to control others or to do it alone. To control others is wrong and dehumanizes the other. Although using the gifts of all of our people may be more demanding and take greater skill, we as priests will bring about using the gifts of our lay people a more vibrant, enthusiastic, and rich community of faith. A controlling spirit serves far more my own perceived needs than that of community. I challenge you as I challenge myself to be a collaborative priest in service to God’s people. Please allow the gifts of others to surface in the community of faith you serve. Sometimes the laity calls for greater “democratization.” We listen with respect, strive to widen their vision, involve them in finding solutions and directions for the future, affirm their concern and good intentions, and be patient as we continue to improve the consultative process within the Church and assist them in appreciating authoritative roles.
VI. The Demands of Priestly Ministry
Priestly Ministry today has become increasingly complex. Expectations of people in the community of faith are high. They rightfully demand of us accountability of our position as a presider of a community of faith, and they expect of us to be a holy man and a lover of all. So much of our ministry is taken up with the ministry of presence. A ministry of presence is demanding and takes much energy. It is also a ministry that is powerful. Visits to hospitals, to those experiencing terminal illness or death in the family, or to those who experience tragedy or calamity in their own lives are all opportunities for us to be present to others. In addition, parish functions, and there are so many of them, demand our presence. We should be the first one to come and the last one to leave.
I remember some years ago a person who called me late in the evening as I was about to go to bed. I had a long and tiring day, but the person who called me was in desperate need. After a long conversation, I hung up and went to bed wishing that he had called at another time. A few days later I received a note expressing gratitude and an acknowledgment that he knew I was tired at the time. I was embarrassed by my pickiness. That was one episode in my own life, but we have all experienced them again and again. I recall to mind frequently the scene of Jesus after a long day when parents brought their little children to him. The disciples were upset with the presence of the parents bringing their children, but Jesus’ response was: “Let the little children come to me.” May that attitude be also a sign of our own ministry.
The task of priestly ministry today has been greatly complicated by fewer priests with increasing demands for priestly ministry. Given this reality, we are challenged to keep our priorities in order, to make sure that increased workloads do not lead to burn out or to lack of enthusiasm and vigor in our ministry. Fr. Ronald Rolheiser, OMI, one of the great spiritual writers of our day, speaks of the necessity to combine wisdom and fire in our lives. Sometimes a person may have a lot of fire but not a lot of wisdom. Or a person may have a lot of wisdom but not a lot of fire. He reflects that seldom is the person who can combine both in a balanced manner. Even with busy schedules we can be priests very much alive if we keep our lives in balance with prayer, ministry, rest, and relaxation.
We are servants of the Lord. Jesus tells us: “I have come not to be served, but to serve.” The Second Vatican Council has emphasized this reality for us and, indeed, a spirit of loving service has its own powerful witness and example. We are here to serve others, not to be primarily focused on ourselves. In this time of alienation and polarity in our society, we priests have an unusual opportunity of being ministers of unity and reconciliation. In the United States we have been deeply touched by an increasing anger and broken relationships among so many people. We as priests must continue to call for forgiveness, love of neighbor, and reconciliation. We are peace-makers and peace-builders. Pope John Paul II in his visit to Coventry, England, many years ago expressed the sentiment that peace is built like a fine cathedral. I like that image. We must be about the building patiently, carefully, and hopefully.
Finally with regard to our ministry as priests, we can never forget the tremendous opportunity we have in presiding carefully and well in the celebration of the sacraments, especially Eucharist. Eucharist is a moment when we interact most with our people each weekend. Good preaching and good presiding are very important. They are also very effective in affirming people and helping them to come into contact with their God and with the community of faith and to process their lives. We must constantly look to continuing growth and development as good presiders of sacraments and of good preaching. The treasure of our sacramental tradition is too valuable and precious to allow the celebrations to be weakened by sloppiness, unprepared ness, or indifference.
VII. Priests of Joy and Hope
We priests live in a world of alienation and brokenness We live in times of darkness and violence. The cross of Jesus as experienced in people’s lives is very apparent. Yet, we heard Jesus shortly before he died tell his disciples: “All this I tell you that my joy may be yours and your joy may be complete.” John 15:11. Joy is integral to our lives as priests. Cardinal Martini, the former Archbishop of Milan, once said, “Joy is the mother of communication.” A joyful priest helps others to be joyful and is a sign of keeping even the harshness and trials of life in perspective as we all journey to the fullness of the Kingdom of God. Such a priest is truly a light to the world and salt of the earth.
We as priests certainly know that God has entrusted us to his care. We are called to be priests of hope as we look to the future. We deal with challenges of culture in the secular world in which we live. We don’t have all of the answers and probably don’t even ask all of the right questions. But we are called to be people of hope who trust deeply in God’s providence. As we look to the future, we don’t know the way for sure except the way of Jesus. We trust in the guidance of the Spirit who constantly teaches us and touches us. As St. Paul reminds us: if the object of hope is seen, how can we be a hope-filled people?
We are priests of the Lord. We have been blessed, and yet we have great challenges and opportunities before us. The Lord is with us. The Holy Spirit guides us. We are hope-filled and we are joyful. Most assuredly God’s Holy Spirit will continue to work amongst the people whom we serve. God’s promise will be fulfilled. We rejoice and thank God.
The End.
*At the time Bishop Skylstad was Vice-president of the USCCB. He later became its President.
PS: I sent a copy of this original in English and to Bishop Khảm Jan. 30, 2026 via Mr. Ng Tấn Dũng, CT CĐCGVN Spokane. [Fr. Jo Hien]
Tài Liệu - Sưu Khảo
BÌNH AN THẬT KHÔNG LƠ LỬNG TRÊN MÂY, MÀ BÁM RỄ VÀO LỚP ĐẤT BỤI BẶM CỦA HÀNH ĐỘNG.
Vong Sinh
15:50 17/09/2026
BÌNH AN THẬT KHÔNG LƠ LỬNG TRÊN MÂY, MÀ BÁM RỄ VÀO LỚP ĐẤT BỤI BẶM CỦA HÀNH ĐỘNG.
Người con nào trong ta cũng cần một lần quay xe. Đừng thưa “vâng” trên đầu môi.
Có một người thanh niên, lòng nặng trĩu, tìm đến một vị linh mục để trút nỗi lòng. Anh nói, thưa cha, con tin Chúa, con đi lễ đều đặn, nhưng trong lòng con lúc nào cũng bồn chồn, bất an, không tìm được một chút bình an nào cả. Đó không phải là chuyện riêng của một mình anh. Rất có thể, ngay lúc này, giữa những dòng chữ này, cũng có người đang mang một nỗi bồn chồn y hệt, dù bên ngoài vẫn giữ trọn mọi thói quen đạo đức, vẫn quỳ đúng giờ, đọc đúng kinh, làm đúng dấu thánh giá mỗi tối trước khi ngủ.
Chúng ta vẫn hay mặc định một phương trình rất đơn giản: cứ có niềm tin thì tự động sẽ có bình an, giống như mua một gói bảo hiểm nhân thọ, đóng phí đều đặn rồi cứ thế mà yên tâm kê cao gối ngủ. Nhưng phương trình màu hồng ấy vỡ tan ngay trong câu trả lời của vị linh mục hôm đó. Ngài không đưa ra một lời an ủi sáo rỗng nào. Ngài chỉ mỉm cười, rồi hỏi một câu sắc như lưỡi dao phẫu thuật đi thẳng vào vết thương: con có điều gì đang giấu Chúa không, có đang sống ngược lại với tiếng nói của lương tâm mình không. Người thanh niên cúi đầu, và bắt đầu thú nhận những khuất tất trong công việc làm ăn mà anh vẫn giấu kín bấy lâu, đằng sau vẻ ngoài đạo đức của mình.
Câu chuyện tưởng như chỉ là một cuộc trò chuyện riêng tư ấy lại chính là cánh cửa mở vào bài Tin Mừng Chúa Nhật XXVI Thường Niên năm A, trích đoạn Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, chương 21, từ câu 28 đến 32. Đó là dụ ngôn về một người cha có hai người con, sai cả hai ra vườn nho làm việc. Nghe qua tưởng chỉ là một mẩu chuyện gia đình vụn vặt. Nhưng Giáo Hội không đưa dụ ngôn này ra để răn dạy suông giữa một buổi sáng Chúa Nhật. Giáo Hội đang mời mỗi người trong chúng ta, giữa vòng xoáy cơm áo gạo tiền của đời thường, dừng lại một phút để tự soi vào chính mình, xem trong hai người con ấy, mình đang là ai, và có khi nào tiếng thưa vâng của mình cũng chỉ dừng lại trên đầu môi.
1. NGƯỜI CON THỨ HAI VÀ TẤM DANH THIẾP MẠ VÀNG
Trong xã hội Trung Đông hai ngàn năm trước, danh dự và thể diện trước đám đông là chuyện sống còn. Người con thứ hai, khi cha sai đi làm vườn nho, đã đáp lại bằng một tiếng “thưa ngài” rất mực cung kính. Chữ được dùng trong bản gốc Hy Lạp là Kyrie, một tước hiệu chỉ dành cho sự phục tùng tuyệt đối. Nghe quen thuộc lạ lùng, như một ứng viên đi phỏng vấn xin việc thời nay, hồ sơ bọc kính, phong thái lịch thiệp, miệng nói lời ngọt như mía lùi: em cam kết cống hiến hết mình, công ty là nhà. Nhưng nhận việc xong thì lãng công, không tạo ra một chút giá trị thực nào.
Các nhà chú giải Kinh Thánh chỉ ra rằng người con thứ hai này chính là bức chân dung châm biếm sâu cay mà Chúa Giêsu dành cho giới lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ, những kinh sư, thượng tế, người Pharisêu. Họ nghiên cứu lề luật đến từng dấu chấm dấu phẩy, bận rộn với vô số nghi thức công khai đến mức khó ai dám nói họ không đi làm vườn nho. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ khác: họ đang cày cấy trên vườn nho của chính họ, không phải vườn nho của Thiên Chúa. Những luật lệ khắt khe họ tuân giữ, xét cho cùng, chỉ là công cụ để củng cố quyền lực, giữ vững địa vị, nuôi lớn lòng kiêu hãnh tâm linh của riêng mình. Một sự bận rộn mang tính biểu diễn.
Nên khi Gioan Tẩy Giả kêu gọi họ làm công việc thật sự, là sám hối và đón nhận lòng thương xót, họ lập tức quay lưng. Sự bận rộn bề ngoài chỉ là màn sương che đậy một sự lười biếng rất sâu, lười biếng hoán cải nội tâm.
Hai ngàn năm sau, cái vỏ bọc ấy vẫn còn nguyên, chỉ đổi hình dạng. Ăn mặc chỉnh tề đi lễ Chúa Nhật, đọc kinh dâng gia đình theo thói quen, chẳng phải đó chính là tiếng “thưa vâng, con đi” ngọt ngào của người con thứ hai hay sao. Nhưng vừa bước ra khỏi cửa nhà thờ, đối diện với đối tác làm ăn hay một đồng nghiệp mình không ưa, lại chọn không bước vào vườn nho. Có người xưng mình là con Chúa, miệng đọc kinh chăm chỉ, nhưng vào thương trường lại sẵn sàng chà đạp lẽ công bằng, gian lận sổ sách, ngoại tình, lừa dối lòng tin của người khác. Đạo Kitô chưa bao giờ là một hệ thống lý thuyết để người ta hứa hẹn suông. Nó đòi những vết chai sạn thật trên đôi tay, do dấn thân thật. Giáo Hội không phải một hãng bảo hiểm nhân thọ vô điều kiện, và các bí tích cũng không phải một loại bùa hộ mệnh. Không ai có thể đến nhà thờ quẹt thẻ điểm danh rồi yên tâm rằng mình đã chắc một chỗ trên thiên đàng, trong khi đời sống thật chẳng có một chút biến đổi nào.
Có một câu chuyện cũ, kể về Tăng Tử. Vợ ông sắp đi chợ, đứa con nhỏ khóc đòi theo. Để dỗ cho xong chuyện, bà hứa bừa, con ở nhà ngoan, mẹ về sẽ làm thịt con lợn cho con ăn. Chỉ là một câu nói dối vô hại để dỗ trẻ con. Nhưng khi bà về đến nhà, thấy chồng đang mài dao thật để giết lợn. Bà hoảng hốt, bảo tôi chỉ nói đùa thôi mà. Tăng Tử đáp lại, đừng khinh trẻ thơ không biết gì, nay mình nói dối nó, chẳng phải mình đang dạy nó nói dối hay sao. Mẹ lừa con một lần, con sẽ không còn tin mẹ nữa. Một lời hứa nhỏ bé với một đứa trẻ, nếu chỉ là lời chót lưỡi đầu môi, cũng đủ làm sứt mẻ cả một sợi dây tín nhiệm. Vậy nếu thái độ ấy được đem áp dụng với những lời khấn hứa trước Đấng Tạo Hóa, hậu quả tâm linh sẽ còn nặng nề đến mức nào. Con cái trong nhà nhìn thấy cha mẹ sốt sắng nơi cung thánh nhưng gian dối ngoài đời, niềm tin của chúng vào những giá trị tốt đẹp sẽ sụp đổ trước, còn sớm hơn cả niềm tin của chúng vào chính chúng ta.
Có lẽ nên tự hỏi mình một lần, thật lòng: tiếng “vâng” mình thưa với Chúa mỗi Chúa Nhật, khi bước ra khỏi cửa nhà thờ vào sáng thứ Hai, có còn giữ nguyên hình dạng hay đã lặng lẽ biến thành một tờ giấy khác.
2. NGƯỜI CON THỨ NHẤT VÀ CÁNH CỬA KHÔNG BAO GIỜ KHÓA
Người con thứ nhất thì ngược lại hoàn toàn. Anh từ chối thẳng thừng ngay trước mặt cha, con không đi. Trong một nền văn hóa trọng danh dự, đó là một cái tát công khai vào mặt cả gia đình. Anh chính là hình ảnh của những người bị xã hội và giới tinh hoa tôn giáo khinh rẻ nhất thời đó, những người thu thuế làm việc cho ngoại bang, những cô gái điếm, những kẻ bằng lối sống công khai tội lỗi của mình đã thốt ra một tiếng không phũ phàng, đầy tai tiếng, với chính lề luật của Thiên Chúa.
Và đây là khoảnh khắc gây sốc nhất của cả dụ ngôn. Chúa Giêsu nhìn thẳng vào những nhà lãnh đạo tôn giáo quyền uy, nói một câu chắc hẳn khiến cả đám đông lặng người: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Chữ “trước” ở đây, theo các nhà chú giải, không đơn thuần mang nghĩa thứ tự trước sau về mặt thời gian, như kiểu ai xếp hàng sớm thì vào trước. Nó mang một hàm ý mạnh hơn nhiều: thay thế chỗ ngồi. Những con người từng bị coi là cặn bã của xã hội được cất nhắc lên chiếm lấy chính vị trí vinh dự của những kẻ tự xưng là đạo đức và công chính. Một đòn giáng thẳng vào lòng kiêu hãnh của giới thượng lưu tôn giáo lúc bấy giờ.
Nhưng điều đáng nói không phải chỉ là cú lật ngược trật tự đó. Điều đáng nói là diễn biến tâm lý phía sau tiếng “không” của người con thứ nhất: nhưng sau đó nó hối hận, nên lại đi. Hối hận, và lập tức chuyển hóa thành hành động, không có một tấm đệm biện minh nào chen vào giữa. Để hiểu sâu hơn sự hối hận ấy, có thể nhìn về một lời của ngôn sứ Êdêkien, người đã công bố một chân lý giải phóng: Thiên Chúa không bao giờ nhốt con người vào quá khứ tội lỗi hay những thất bại đã qua của họ. Quá khứ dĩ nhiên góp phần định hình con người hôm nay, nhưng chính giây phút hiện tại mới là thứ mang tính quyết định. Cho đến hơi thở cuối cùng, bàn ngã của một đời người chưa bao giờ là một khối bê tông đã đông cứng. Không có tội lỗi nào bị khóa chặt đến mức ân sủng không còn bẻ gãy nổi.
Có một hình ảnh rất đời để hiểu sự mỏng giòn hay đổi ý này của con người: một cậu bé ba tuổi, bị mẹ mắng, giận dỗi thu dọn đồ chơi, gom vài bộ quần áo nhét vào ba lô, hùng hồn tuyên bố sẽ bỏ nhà đi cho mẹ biết tay. Cha mẹ cố nhịn cười, hỏi vặn lại, thế bỏ đi rồi đói thì làm sao, hết tiền thì sống bằng gì. Cậu bé khựng lại một giây, rồi hồn nhiên đáp, lúc đó con sẽ về nhà ăn cơm, rồi mang quần áo dơ về cho mẹ giặt. Một tâm lý trẻ thơ rất nguyên thủy, mà lại phản chiếu chính xác đến lạ lùng tình trạng tâm linh của người lớn chúng ta trước mặt Đấng Tối Cao. Đôi khi bốc đồng, kiêu ngạo, hùng hồn tuyên bố không, muốn nổi loạn vứt bỏ mọi lề luật. Nhưng chỉ đi được vài bước, va vấp vài cú trong đời, lại nhận ra mình hoàn toàn bất lực nếu thiếu vắng mái nhà của Cha. Và điều kỳ diệu, điều mà cả người con thứ nhất lẫn cậu bé ba tuổi đều được thừa hưởng, là cánh cửa của ngôi nhà đó thì không bao giờ khóa.
Có người sẽ hỏi, vậy có phải cứ sống ngang tàng, nói không thoải mái, rồi đợi đến lúc hối hận mới quay đầu cũng chẳng sao. Không phải vậy. Dụ ngôn không ca ngợi việc nói không, nó ca ngợi việc dám quay xe ngay khi nhận ra mình sai, không đợi một cơ hội thuận tiện hơn, không chờ một lý do chính đáng hơn để biện minh cho sự chần chừ. Sự khác biệt giữa người con thứ nhất và người con thứ hai không nằm ở việc ai từng phạm lỗi nặng hơn ai, mà nằm ở khoảng cách giữa lời nói và việc làm cuối cùng ai thu hẹp lại, ai để nó giãn rộng ra mãi.
3. CON TRÂU, CON CỌP, VÀ ẢO TƯỞNG VỀ QUYỀN KIỂM SOÁT
Có một hình ảnh dân gian rất gần gũi để nói về sự khác nhau giữa vâng phục và ngạo mạn: con trâu và con cọp. Con trâu, dù to lớn, vẫn nhận ra sức mạnh và trí tuệ của con người, nên chấp nhận được thuần hóa, đổi lại được cho ăn, được che chở trong chuồng trại an toàn. Con cọp thì ngược lại, tự mãn với móng vuốt và răng nanh của mình, từ chối mọi sự khuất phục, không nhận ra giới hạn của bản thân. Kết cục, nó bị săn lùng, hoặc chịu cảnh tù túng trong lồng sắt.
Con cọp trong câu chuyện chạm đúng vào một căn bệnh rất thời đại của chúng ta: ảo tưởng về quyền kiểm soát. Chúng ta bám víu vào chức vụ, địa vị, vào những con số trong tài khoản ngân hàng, và nghĩ mình bất khả chiến bại. Chúng ta tự mãn nói không với những nguyên tắc đạo đức, vì tin rằng mình đủ sức kiểm soát luồng chảy của cuộc đời mình. Cho đến khi một biến cố ập đến, một cơn bệnh hiểm nghèo, một cuộc khủng hoảng tài chính, một sự đổ vỡ trong gia đình, thì ảo tưởng ấy vỡ vụn ngay tức khắc, và người ta mới nhận ra sức mạnh hoang dã của mình chẳng có nghĩa lý gì trước những giới hạn của kiếp người.
Vậy phải sống đạo thực tế thế nào giữa một xã hội đầy nhiễu nhương. Sống đạo không phải là mơ mộng về một trạng thái vô nhiễm, nơi ta không bao giờ vấp ngã. Không một ai bước đi trên mặt đất này mà chưa từng vấp ngã cả. Trọng tâm của việc sống đạo nằm ở khả năng nhận ra sự yếu đuối của chính mình, và thực hiện những quyết định rất nhỏ, mỗi ngày, để không đóng khung mình vào một trong hai cực đoan của dụ ngôn hôm nay, không nổi loạn cực đoan như con cọp, cũng không giả hình như người con thứ hai.
Bước một, khi cơn nóng giận sắp bùng lên với người bạn đời, với con cái, với một nhân viên làm sai việc, hãy tập dừng lại đúng một hơi thở, trước khi buông ra câu nói có thể làm tổn thương cả tuần sau đó. Bước hai, khi trước mặt là một cơ hội gian lận béo bở, một khoản chênh lệch dễ dàng bỏ túi mà không ai hay biết, hãy để lương tâm được lên tiếng trước khi bàn tay kịp ký vào bất cứ điều gì. Bước ba, khi biết mình vừa xúc phạm một ai đó, dù là người thân trong nhà hay một người khách quen, đừng để sĩ diện giữ chân mình lại, hãy chủ động quay xe đi xin lỗi ngay trong ngày, đừng đợi đến khi mọi chuyện đã nguội lạnh và lời xin lỗi hóa thành vô nghĩa. Không có quyết định nào trong ba điều ấy làm rung chuyển cả thế giới. Nhưng chính sự lặp lại của chúng, ngày này qua ngày khác, mới là thứ khắc nên khuôn mặt thật của một tâm hồn, chứ không phải những lời tuyên xưng hùng hồn ngày Chúa Nhật.
4. NGƯỜI CON THỨ BA – ĐẤNG KHÔNG TỪ CHỐI, CŨNG CHẲNG HỨA SUÔNG
Nếu dừng lại ở đây, dụ ngôn để lại một câu hỏi khá phũ phàng. Một người con từ chối thẳng thừng, rồi miễn cưỡng đi làm. Một người con hứa hẹn ngọt ngào, rồi tàn nhẫn bỏ trốn. Cả hai, ít nhiều, đều làm tổn thương người cha. Chẳng lẽ bản chất con người chỉ có thể giao động giữa sự nổi loạn và sự giả hình, không còn một hình mẫu nào khác đáng để noi theo.
Dụ ngôn này vốn không được kể ra để mang lại một cảm giác thỏa mãn dễ chịu cho người nghe. Nó cố tình để lại một khoảng trống, một sự hụt hẫng trong nhận thức, tước đi mọi lý lẽ bao biện, buộc chúng ta phải nhìn nhận rằng hành động thực tế mới là thước đo cuối cùng. Nhưng đồng thời, chính khoảng trống ấy lại khơi lên trong lòng người đọc một khao khát rất mãnh liệt về một người con thứ ba, người không hề xuất hiện trên những dòng chữ của dụ ngôn, nhưng sự hiện diện của Ngài lại bao trùm lên toàn bộ câu chuyện.
Người con thứ ba ấy, khi nghe thánh ý Chúa Cha, đã không phản nghịch nói không, cũng chẳng buông lời thưa vâng suông sẻ cho xong chuyện. Người đã thưa vâng bằng cả sinh mệnh mình, lập tức bước xuống thế gian, xắn tay áo, đi vào chính khu vườn nho đầy gai góc của phận người. Người đã đổ cả mồ hôi trộn lẫn máu, lao động không ngừng nghỉ, vâng phục cho đến tận cùng, vâng phục cho đến cái chết trần trụi trên thập giá. Đó là Đức Giêsu Kitô. Nơi Người, ngôn từ và hành động không còn là hai thực tại tách rời để cân đo, so sánh, mà hòa quyện làm một. Lời thưa vâng của Người, chính là hành động cứu chuộc. Người không chỉ là hình mẫu vâng phục trọn hảo nhất, mà còn là nguồn sức để những con người mỏng giòn như chúng ta có thể bám vào mà đổi thay.
Nhớ lại người thanh niên đến gặp vị linh mục ở đầu bài. Anh cứ mãi đi tìm bình an qua những công thức máy móc, những lời cầu xin suông, mà quên mất rằng xắn tay áo lên, đối diện với những góc tối trong lương tâm, và bắt đầu sống ngay thẳng, mới chính là chiếc chìa khóa duy nhất. Bởi bình an đích thực không lơ lửng trên chín tầng mây. Nó bám rễ sâu vào lớp đất bụi bặm của hành động. Nó nằm ở việc chúng ta thật sự bước chân ra vườn nho, chứ không chỉ đứng ở cổng vườn mà cúi đầu thưa vâng cho có lệ.
Khép lại bài chia sẻ này, có một suy nghĩ nhỏ muốn gửi lại. Giữa những bộn bề lo toan của cuộc sống, giữa muôn vàn áp lực khiến chúng ta dễ thỏa hiệp để chọn cách sống ngôn hành bất nhất, hãy thử chậm lại một nhịp, và tự hỏi lòng mình: những quyết định rất nhỏ của tôi hôm nay, một lời nói chân thật, một hành động công bằng dù phải chịu thiệt, một sự kiên nhẫn đầy yêu thương với người thân, có đang giúp tôi từng nét, từng nét một, họa lại khuôn mặt của người con thứ ba ấy hay không. Suy cho cùng, giá trị của một cây không được đo bằng tiếng xào xạc của lá, mà bằng chính những trái ngọt nó sinh ra trong khu vườn.
Ước gì mỗi người chúng ta, khi rời trang Tin Mừng hôm nay, không mang về thêm một tiếng thưa vâng nữa trên đầu môi, mà mang về một đôi tay sẵn sàng lấm lem bụi đất, để thật sự bước vào khu vườn của Cha, dù đã từng một lần, hay nhiều lần, nói không.
Vọng Sinh.
Nội dung này được đúc kết và khai triển dựa trên:
-https://www.gracelife.org/resources/grr/?id=32
-https://bangiaolyhangbot.wordpress.com/2017/09/09/461/
-https://giaophanphucuong.org/bai-viet/goc-nhin/bon-phuong-phap-giup-ban-tre-xet-minh
-https://giaophanlongxuyen.org/tin-tuc/cac-bai-suy-niem-chua-nhat-26-tn-nam-a.html
-https://giaophanhunghoa.org/vi/suy-niem-suy-tu/cn-va-le-trong/cac-bai-suy-niem-chua-nhat-xxviii-thuong-nien-nam-a-o81E02E4C.html
-https://tgpsaigon.net/bai-viet/chua-nhat-16-thuong-nien-nam-b-chanh-long-thuong-mc-6-30-34-36407
-https://danvienphuocly.com/gdkt/chua-nhat-xxvi-tn-nam-a-mt-21-28-32-du-ngon-hai-nguoi-con-3069.html
-https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-ly-cho-bai-giang-chua-nhat-19-thuong-nien-nam-c
-https://tgpsaigon.net/bai-viet/hiep-song-tin-mung-chua-nhat-26-thuong-nien-nam-a-61107
-https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hoc-hoi-phuc-am-chua-nhat-26-thuong-nien-nam-a-52696
-https://www.hoasen.edu.vn/khxh/hoc-triet-nhu-the-nao-ts-duong-ngoc-dung/
-https://www.catholicmom.com/articles/2018/07/02/the-parable-of-the-two-sons-is-relevant-to-us/
-https://longchuathuongxot.vn/v2/tong-do-giao-dan-trong-the-gioi-hom-nay/
-https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-christifideles-laici-kito-huu-giao-dan-ve-on-goi-va-su-mang-cua-giao-dan-trong-giao-hoi-va-the-gioi-55844
-https://www.gotquestions.org/parable-two-sons.html
Người con nào trong ta cũng cần một lần quay xe. Đừng thưa “vâng” trên đầu môi.
Có một người thanh niên, lòng nặng trĩu, tìm đến một vị linh mục để trút nỗi lòng. Anh nói, thưa cha, con tin Chúa, con đi lễ đều đặn, nhưng trong lòng con lúc nào cũng bồn chồn, bất an, không tìm được một chút bình an nào cả. Đó không phải là chuyện riêng của một mình anh. Rất có thể, ngay lúc này, giữa những dòng chữ này, cũng có người đang mang một nỗi bồn chồn y hệt, dù bên ngoài vẫn giữ trọn mọi thói quen đạo đức, vẫn quỳ đúng giờ, đọc đúng kinh, làm đúng dấu thánh giá mỗi tối trước khi ngủ.
Chúng ta vẫn hay mặc định một phương trình rất đơn giản: cứ có niềm tin thì tự động sẽ có bình an, giống như mua một gói bảo hiểm nhân thọ, đóng phí đều đặn rồi cứ thế mà yên tâm kê cao gối ngủ. Nhưng phương trình màu hồng ấy vỡ tan ngay trong câu trả lời của vị linh mục hôm đó. Ngài không đưa ra một lời an ủi sáo rỗng nào. Ngài chỉ mỉm cười, rồi hỏi một câu sắc như lưỡi dao phẫu thuật đi thẳng vào vết thương: con có điều gì đang giấu Chúa không, có đang sống ngược lại với tiếng nói của lương tâm mình không. Người thanh niên cúi đầu, và bắt đầu thú nhận những khuất tất trong công việc làm ăn mà anh vẫn giấu kín bấy lâu, đằng sau vẻ ngoài đạo đức của mình.
Câu chuyện tưởng như chỉ là một cuộc trò chuyện riêng tư ấy lại chính là cánh cửa mở vào bài Tin Mừng Chúa Nhật XXVI Thường Niên năm A, trích đoạn Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, chương 21, từ câu 28 đến 32. Đó là dụ ngôn về một người cha có hai người con, sai cả hai ra vườn nho làm việc. Nghe qua tưởng chỉ là một mẩu chuyện gia đình vụn vặt. Nhưng Giáo Hội không đưa dụ ngôn này ra để răn dạy suông giữa một buổi sáng Chúa Nhật. Giáo Hội đang mời mỗi người trong chúng ta, giữa vòng xoáy cơm áo gạo tiền của đời thường, dừng lại một phút để tự soi vào chính mình, xem trong hai người con ấy, mình đang là ai, và có khi nào tiếng thưa vâng của mình cũng chỉ dừng lại trên đầu môi.
1. NGƯỜI CON THỨ HAI VÀ TẤM DANH THIẾP MẠ VÀNG
Trong xã hội Trung Đông hai ngàn năm trước, danh dự và thể diện trước đám đông là chuyện sống còn. Người con thứ hai, khi cha sai đi làm vườn nho, đã đáp lại bằng một tiếng “thưa ngài” rất mực cung kính. Chữ được dùng trong bản gốc Hy Lạp là Kyrie, một tước hiệu chỉ dành cho sự phục tùng tuyệt đối. Nghe quen thuộc lạ lùng, như một ứng viên đi phỏng vấn xin việc thời nay, hồ sơ bọc kính, phong thái lịch thiệp, miệng nói lời ngọt như mía lùi: em cam kết cống hiến hết mình, công ty là nhà. Nhưng nhận việc xong thì lãng công, không tạo ra một chút giá trị thực nào.
Các nhà chú giải Kinh Thánh chỉ ra rằng người con thứ hai này chính là bức chân dung châm biếm sâu cay mà Chúa Giêsu dành cho giới lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ, những kinh sư, thượng tế, người Pharisêu. Họ nghiên cứu lề luật đến từng dấu chấm dấu phẩy, bận rộn với vô số nghi thức công khai đến mức khó ai dám nói họ không đi làm vườn nho. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ khác: họ đang cày cấy trên vườn nho của chính họ, không phải vườn nho của Thiên Chúa. Những luật lệ khắt khe họ tuân giữ, xét cho cùng, chỉ là công cụ để củng cố quyền lực, giữ vững địa vị, nuôi lớn lòng kiêu hãnh tâm linh của riêng mình. Một sự bận rộn mang tính biểu diễn.
Nên khi Gioan Tẩy Giả kêu gọi họ làm công việc thật sự, là sám hối và đón nhận lòng thương xót, họ lập tức quay lưng. Sự bận rộn bề ngoài chỉ là màn sương che đậy một sự lười biếng rất sâu, lười biếng hoán cải nội tâm.
Hai ngàn năm sau, cái vỏ bọc ấy vẫn còn nguyên, chỉ đổi hình dạng. Ăn mặc chỉnh tề đi lễ Chúa Nhật, đọc kinh dâng gia đình theo thói quen, chẳng phải đó chính là tiếng “thưa vâng, con đi” ngọt ngào của người con thứ hai hay sao. Nhưng vừa bước ra khỏi cửa nhà thờ, đối diện với đối tác làm ăn hay một đồng nghiệp mình không ưa, lại chọn không bước vào vườn nho. Có người xưng mình là con Chúa, miệng đọc kinh chăm chỉ, nhưng vào thương trường lại sẵn sàng chà đạp lẽ công bằng, gian lận sổ sách, ngoại tình, lừa dối lòng tin của người khác. Đạo Kitô chưa bao giờ là một hệ thống lý thuyết để người ta hứa hẹn suông. Nó đòi những vết chai sạn thật trên đôi tay, do dấn thân thật. Giáo Hội không phải một hãng bảo hiểm nhân thọ vô điều kiện, và các bí tích cũng không phải một loại bùa hộ mệnh. Không ai có thể đến nhà thờ quẹt thẻ điểm danh rồi yên tâm rằng mình đã chắc một chỗ trên thiên đàng, trong khi đời sống thật chẳng có một chút biến đổi nào.
Có một câu chuyện cũ, kể về Tăng Tử. Vợ ông sắp đi chợ, đứa con nhỏ khóc đòi theo. Để dỗ cho xong chuyện, bà hứa bừa, con ở nhà ngoan, mẹ về sẽ làm thịt con lợn cho con ăn. Chỉ là một câu nói dối vô hại để dỗ trẻ con. Nhưng khi bà về đến nhà, thấy chồng đang mài dao thật để giết lợn. Bà hoảng hốt, bảo tôi chỉ nói đùa thôi mà. Tăng Tử đáp lại, đừng khinh trẻ thơ không biết gì, nay mình nói dối nó, chẳng phải mình đang dạy nó nói dối hay sao. Mẹ lừa con một lần, con sẽ không còn tin mẹ nữa. Một lời hứa nhỏ bé với một đứa trẻ, nếu chỉ là lời chót lưỡi đầu môi, cũng đủ làm sứt mẻ cả một sợi dây tín nhiệm. Vậy nếu thái độ ấy được đem áp dụng với những lời khấn hứa trước Đấng Tạo Hóa, hậu quả tâm linh sẽ còn nặng nề đến mức nào. Con cái trong nhà nhìn thấy cha mẹ sốt sắng nơi cung thánh nhưng gian dối ngoài đời, niềm tin của chúng vào những giá trị tốt đẹp sẽ sụp đổ trước, còn sớm hơn cả niềm tin của chúng vào chính chúng ta.
Có lẽ nên tự hỏi mình một lần, thật lòng: tiếng “vâng” mình thưa với Chúa mỗi Chúa Nhật, khi bước ra khỏi cửa nhà thờ vào sáng thứ Hai, có còn giữ nguyên hình dạng hay đã lặng lẽ biến thành một tờ giấy khác.
2. NGƯỜI CON THỨ NHẤT VÀ CÁNH CỬA KHÔNG BAO GIỜ KHÓA
Người con thứ nhất thì ngược lại hoàn toàn. Anh từ chối thẳng thừng ngay trước mặt cha, con không đi. Trong một nền văn hóa trọng danh dự, đó là một cái tát công khai vào mặt cả gia đình. Anh chính là hình ảnh của những người bị xã hội và giới tinh hoa tôn giáo khinh rẻ nhất thời đó, những người thu thuế làm việc cho ngoại bang, những cô gái điếm, những kẻ bằng lối sống công khai tội lỗi của mình đã thốt ra một tiếng không phũ phàng, đầy tai tiếng, với chính lề luật của Thiên Chúa.
Và đây là khoảnh khắc gây sốc nhất của cả dụ ngôn. Chúa Giêsu nhìn thẳng vào những nhà lãnh đạo tôn giáo quyền uy, nói một câu chắc hẳn khiến cả đám đông lặng người: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Chữ “trước” ở đây, theo các nhà chú giải, không đơn thuần mang nghĩa thứ tự trước sau về mặt thời gian, như kiểu ai xếp hàng sớm thì vào trước. Nó mang một hàm ý mạnh hơn nhiều: thay thế chỗ ngồi. Những con người từng bị coi là cặn bã của xã hội được cất nhắc lên chiếm lấy chính vị trí vinh dự của những kẻ tự xưng là đạo đức và công chính. Một đòn giáng thẳng vào lòng kiêu hãnh của giới thượng lưu tôn giáo lúc bấy giờ.
Nhưng điều đáng nói không phải chỉ là cú lật ngược trật tự đó. Điều đáng nói là diễn biến tâm lý phía sau tiếng “không” của người con thứ nhất: nhưng sau đó nó hối hận, nên lại đi. Hối hận, và lập tức chuyển hóa thành hành động, không có một tấm đệm biện minh nào chen vào giữa. Để hiểu sâu hơn sự hối hận ấy, có thể nhìn về một lời của ngôn sứ Êdêkien, người đã công bố một chân lý giải phóng: Thiên Chúa không bao giờ nhốt con người vào quá khứ tội lỗi hay những thất bại đã qua của họ. Quá khứ dĩ nhiên góp phần định hình con người hôm nay, nhưng chính giây phút hiện tại mới là thứ mang tính quyết định. Cho đến hơi thở cuối cùng, bàn ngã của một đời người chưa bao giờ là một khối bê tông đã đông cứng. Không có tội lỗi nào bị khóa chặt đến mức ân sủng không còn bẻ gãy nổi.
Có một hình ảnh rất đời để hiểu sự mỏng giòn hay đổi ý này của con người: một cậu bé ba tuổi, bị mẹ mắng, giận dỗi thu dọn đồ chơi, gom vài bộ quần áo nhét vào ba lô, hùng hồn tuyên bố sẽ bỏ nhà đi cho mẹ biết tay. Cha mẹ cố nhịn cười, hỏi vặn lại, thế bỏ đi rồi đói thì làm sao, hết tiền thì sống bằng gì. Cậu bé khựng lại một giây, rồi hồn nhiên đáp, lúc đó con sẽ về nhà ăn cơm, rồi mang quần áo dơ về cho mẹ giặt. Một tâm lý trẻ thơ rất nguyên thủy, mà lại phản chiếu chính xác đến lạ lùng tình trạng tâm linh của người lớn chúng ta trước mặt Đấng Tối Cao. Đôi khi bốc đồng, kiêu ngạo, hùng hồn tuyên bố không, muốn nổi loạn vứt bỏ mọi lề luật. Nhưng chỉ đi được vài bước, va vấp vài cú trong đời, lại nhận ra mình hoàn toàn bất lực nếu thiếu vắng mái nhà của Cha. Và điều kỳ diệu, điều mà cả người con thứ nhất lẫn cậu bé ba tuổi đều được thừa hưởng, là cánh cửa của ngôi nhà đó thì không bao giờ khóa.
Có người sẽ hỏi, vậy có phải cứ sống ngang tàng, nói không thoải mái, rồi đợi đến lúc hối hận mới quay đầu cũng chẳng sao. Không phải vậy. Dụ ngôn không ca ngợi việc nói không, nó ca ngợi việc dám quay xe ngay khi nhận ra mình sai, không đợi một cơ hội thuận tiện hơn, không chờ một lý do chính đáng hơn để biện minh cho sự chần chừ. Sự khác biệt giữa người con thứ nhất và người con thứ hai không nằm ở việc ai từng phạm lỗi nặng hơn ai, mà nằm ở khoảng cách giữa lời nói và việc làm cuối cùng ai thu hẹp lại, ai để nó giãn rộng ra mãi.
3. CON TRÂU, CON CỌP, VÀ ẢO TƯỞNG VỀ QUYỀN KIỂM SOÁT
Có một hình ảnh dân gian rất gần gũi để nói về sự khác nhau giữa vâng phục và ngạo mạn: con trâu và con cọp. Con trâu, dù to lớn, vẫn nhận ra sức mạnh và trí tuệ của con người, nên chấp nhận được thuần hóa, đổi lại được cho ăn, được che chở trong chuồng trại an toàn. Con cọp thì ngược lại, tự mãn với móng vuốt và răng nanh của mình, từ chối mọi sự khuất phục, không nhận ra giới hạn của bản thân. Kết cục, nó bị săn lùng, hoặc chịu cảnh tù túng trong lồng sắt.
Con cọp trong câu chuyện chạm đúng vào một căn bệnh rất thời đại của chúng ta: ảo tưởng về quyền kiểm soát. Chúng ta bám víu vào chức vụ, địa vị, vào những con số trong tài khoản ngân hàng, và nghĩ mình bất khả chiến bại. Chúng ta tự mãn nói không với những nguyên tắc đạo đức, vì tin rằng mình đủ sức kiểm soát luồng chảy của cuộc đời mình. Cho đến khi một biến cố ập đến, một cơn bệnh hiểm nghèo, một cuộc khủng hoảng tài chính, một sự đổ vỡ trong gia đình, thì ảo tưởng ấy vỡ vụn ngay tức khắc, và người ta mới nhận ra sức mạnh hoang dã của mình chẳng có nghĩa lý gì trước những giới hạn của kiếp người.
Vậy phải sống đạo thực tế thế nào giữa một xã hội đầy nhiễu nhương. Sống đạo không phải là mơ mộng về một trạng thái vô nhiễm, nơi ta không bao giờ vấp ngã. Không một ai bước đi trên mặt đất này mà chưa từng vấp ngã cả. Trọng tâm của việc sống đạo nằm ở khả năng nhận ra sự yếu đuối của chính mình, và thực hiện những quyết định rất nhỏ, mỗi ngày, để không đóng khung mình vào một trong hai cực đoan của dụ ngôn hôm nay, không nổi loạn cực đoan như con cọp, cũng không giả hình như người con thứ hai.
Bước một, khi cơn nóng giận sắp bùng lên với người bạn đời, với con cái, với một nhân viên làm sai việc, hãy tập dừng lại đúng một hơi thở, trước khi buông ra câu nói có thể làm tổn thương cả tuần sau đó. Bước hai, khi trước mặt là một cơ hội gian lận béo bở, một khoản chênh lệch dễ dàng bỏ túi mà không ai hay biết, hãy để lương tâm được lên tiếng trước khi bàn tay kịp ký vào bất cứ điều gì. Bước ba, khi biết mình vừa xúc phạm một ai đó, dù là người thân trong nhà hay một người khách quen, đừng để sĩ diện giữ chân mình lại, hãy chủ động quay xe đi xin lỗi ngay trong ngày, đừng đợi đến khi mọi chuyện đã nguội lạnh và lời xin lỗi hóa thành vô nghĩa. Không có quyết định nào trong ba điều ấy làm rung chuyển cả thế giới. Nhưng chính sự lặp lại của chúng, ngày này qua ngày khác, mới là thứ khắc nên khuôn mặt thật của một tâm hồn, chứ không phải những lời tuyên xưng hùng hồn ngày Chúa Nhật.
4. NGƯỜI CON THỨ BA – ĐẤNG KHÔNG TỪ CHỐI, CŨNG CHẲNG HỨA SUÔNG
Nếu dừng lại ở đây, dụ ngôn để lại một câu hỏi khá phũ phàng. Một người con từ chối thẳng thừng, rồi miễn cưỡng đi làm. Một người con hứa hẹn ngọt ngào, rồi tàn nhẫn bỏ trốn. Cả hai, ít nhiều, đều làm tổn thương người cha. Chẳng lẽ bản chất con người chỉ có thể giao động giữa sự nổi loạn và sự giả hình, không còn một hình mẫu nào khác đáng để noi theo.
Dụ ngôn này vốn không được kể ra để mang lại một cảm giác thỏa mãn dễ chịu cho người nghe. Nó cố tình để lại một khoảng trống, một sự hụt hẫng trong nhận thức, tước đi mọi lý lẽ bao biện, buộc chúng ta phải nhìn nhận rằng hành động thực tế mới là thước đo cuối cùng. Nhưng đồng thời, chính khoảng trống ấy lại khơi lên trong lòng người đọc một khao khát rất mãnh liệt về một người con thứ ba, người không hề xuất hiện trên những dòng chữ của dụ ngôn, nhưng sự hiện diện của Ngài lại bao trùm lên toàn bộ câu chuyện.
Người con thứ ba ấy, khi nghe thánh ý Chúa Cha, đã không phản nghịch nói không, cũng chẳng buông lời thưa vâng suông sẻ cho xong chuyện. Người đã thưa vâng bằng cả sinh mệnh mình, lập tức bước xuống thế gian, xắn tay áo, đi vào chính khu vườn nho đầy gai góc của phận người. Người đã đổ cả mồ hôi trộn lẫn máu, lao động không ngừng nghỉ, vâng phục cho đến tận cùng, vâng phục cho đến cái chết trần trụi trên thập giá. Đó là Đức Giêsu Kitô. Nơi Người, ngôn từ và hành động không còn là hai thực tại tách rời để cân đo, so sánh, mà hòa quyện làm một. Lời thưa vâng của Người, chính là hành động cứu chuộc. Người không chỉ là hình mẫu vâng phục trọn hảo nhất, mà còn là nguồn sức để những con người mỏng giòn như chúng ta có thể bám vào mà đổi thay.
Nhớ lại người thanh niên đến gặp vị linh mục ở đầu bài. Anh cứ mãi đi tìm bình an qua những công thức máy móc, những lời cầu xin suông, mà quên mất rằng xắn tay áo lên, đối diện với những góc tối trong lương tâm, và bắt đầu sống ngay thẳng, mới chính là chiếc chìa khóa duy nhất. Bởi bình an đích thực không lơ lửng trên chín tầng mây. Nó bám rễ sâu vào lớp đất bụi bặm của hành động. Nó nằm ở việc chúng ta thật sự bước chân ra vườn nho, chứ không chỉ đứng ở cổng vườn mà cúi đầu thưa vâng cho có lệ.
Khép lại bài chia sẻ này, có một suy nghĩ nhỏ muốn gửi lại. Giữa những bộn bề lo toan của cuộc sống, giữa muôn vàn áp lực khiến chúng ta dễ thỏa hiệp để chọn cách sống ngôn hành bất nhất, hãy thử chậm lại một nhịp, và tự hỏi lòng mình: những quyết định rất nhỏ của tôi hôm nay, một lời nói chân thật, một hành động công bằng dù phải chịu thiệt, một sự kiên nhẫn đầy yêu thương với người thân, có đang giúp tôi từng nét, từng nét một, họa lại khuôn mặt của người con thứ ba ấy hay không. Suy cho cùng, giá trị của một cây không được đo bằng tiếng xào xạc của lá, mà bằng chính những trái ngọt nó sinh ra trong khu vườn.
Ước gì mỗi người chúng ta, khi rời trang Tin Mừng hôm nay, không mang về thêm một tiếng thưa vâng nữa trên đầu môi, mà mang về một đôi tay sẵn sàng lấm lem bụi đất, để thật sự bước vào khu vườn của Cha, dù đã từng một lần, hay nhiều lần, nói không.
Vọng Sinh.
Nội dung này được đúc kết và khai triển dựa trên:
-https://www.gracelife.org/resources/grr/?id=32
-https://bangiaolyhangbot.wordpress.com/2017/09/09/461/
-https://giaophanphucuong.org/bai-viet/goc-nhin/bon-phuong-phap-giup-ban-tre-xet-minh
-https://giaophanlongxuyen.org/tin-tuc/cac-bai-suy-niem-chua-nhat-26-tn-nam-a.html
-https://giaophanhunghoa.org/vi/suy-niem-suy-tu/cn-va-le-trong/cac-bai-suy-niem-chua-nhat-xxviii-thuong-nien-nam-a-o81E02E4C.html
-https://tgpsaigon.net/bai-viet/chua-nhat-16-thuong-nien-nam-b-chanh-long-thuong-mc-6-30-34-36407
-https://danvienphuocly.com/gdkt/chua-nhat-xxvi-tn-nam-a-mt-21-28-32-du-ngon-hai-nguoi-con-3069.html
-https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-ly-cho-bai-giang-chua-nhat-19-thuong-nien-nam-c
-https://tgpsaigon.net/bai-viet/hiep-song-tin-mung-chua-nhat-26-thuong-nien-nam-a-61107
-https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hoc-hoi-phuc-am-chua-nhat-26-thuong-nien-nam-a-52696
-https://www.hoasen.edu.vn/khxh/hoc-triet-nhu-the-nao-ts-duong-ngoc-dung/
-https://www.catholicmom.com/articles/2018/07/02/the-parable-of-the-two-sons-is-relevant-to-us/
-https://longchuathuongxot.vn/v2/tong-do-giao-dan-trong-the-gioi-hom-nay/
-https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-christifideles-laici-kito-huu-giao-dan-ve-on-goi-va-su-mang-cua-giao-dan-trong-giao-hoi-va-the-gioi-55844
-https://www.gotquestions.org/parable-two-sons.html
VietCatholic TV
Moscow báo đại tang: Thiếu Tướng biệt danh Kẻ Khủng Khiếp vừa bị Kyiv tiêu diệt. Tàn quân tháo chạy
VietCatholic Media
04:02 17/09/2026
1. Đại tang nước Nga: Viên Tướng được Điện Cẩm Linh ưu ái, người được trao huân chương vì dàn dựng vụ xâm lược giả vào thành phố Kostyantynivka, đã tử trận.
Thiếu tướng Anton Feliksovich Grunis của Nga, một sĩ quan cao cấp thường xuyên được truyền thông Cẩm Linh ca ngợi là chiến lược gia tài ba và người hùng giành chiến thắng trong các trận đánh ở Ukraine, đã thiệt mạng trong một vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa, theo các nguồn tin chính thức của cả Ukraine lẫn Nga.
Sáng sớm Thứ Năm, 17 Tháng Chín, Thiếu Tá Robert "Magyar" Brovdi, Chỉ huy Lực lượng Hệ thống Điều khiển từ xa, tuyên bố "Tướng Grunis đã bị tiêu diệt vào ngày 12 tháng 9 năm 2026, tại nơi ẩn náu ban đêm của ông ta ở vùng lãnh thổ bị tạm chiếm tạm thời thuộc tỉnh Donetsk". Ông cho biết, Lữ đoàn Hệ thống Điều khiển từ xa Độc lập số 427 "Rarog" đã thực hiện cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của họ.
Thiếu Tá Brovdi cho biết Grunis là vị chỉ huy thứ bảy của Nga ở cấp lữ đoàn, sư đoàn hoặc quân đoàn mà cái chết được xác nhận là do các cuộc tấn công của Lực lượng Hệ thống Điều khiển từ xa của Ukraine.
Vài giờ sau tuyên bố của Thiếu Tá Brovdi, thông tấn xã TASS của Nga chính thức loan tin về cái chết của Grunis mà họ mô tả là anh hùng nước Nga.
Theo thông tấn xã TASS, Tướng Grunis, 46 tuổi, là người gốc vùng Tatarstan thuộc miền trung nước Nga. Ông từng tham gia chiến đấu trong Chiến tranh Chechnya lần thứ 2, Chiến tranh Nga-Georgia năm 2008, cuộc xâm lược và xâm lược vùng Crimea của Ukraine năm 2014, các chiến dịch quân sự của Nga tại Syria năm 2015, và cuộc xâm lược Ukraine lần thứ hai của Nga bắt đầu từ năm 2022.
Những thông tin ban đầu về cái chết của Grunis xuất hiện trên một kênh mạng xã hội mã hóa dành cho các sĩ quan Nga có tên Surovovskoe Bratstvo trên ứng dụng nhắn tin Telegram vào hôm Thứ Tư, 16 Tháng Chín. Thông báo về cái chết đã xác định ông là sinh viên tốt nghiệp khóa 1996 của Học viện Quân sự Kazan Suvorov danh tiếng, và những bình luận từ các bạn học cùng khóa cho thấy ông đã hy sinh trong chiến đấu.
Đoạn phim do máy bay điều khiển từ xa quay lại được các nguồn tin quân đội Ukraine công bố hôm thứ Năm đã xác định Lữ đoàn Hệ thống Điều khiển từ xa số 427 "Rarog" chịu trách nhiệm về vụ tiêu diệt Grunis trong các cuộc tấn công gần làng Kindrativka, vùng Donetsk, vào ngày 12 tháng 9. Hình ảnh cho thấy hàng đàn các máy bay điều khiển từ xa cảm tử lao vào và phát nổ bên trong các tòa nhà được định vị địa lý tại khu vực đó và gây ra những đám cháy lớn. Việc tập trung một lực lượng lớn máy bay điều khiển từ xa đánh vào một tòa nhà không có vẻ gì là một nơi đóng quân cho thấy quân Ukraine đã được mật báo trước.
Đoạn phim quảng cáo do Bộ Quốc phòng Nga công bố ngày 28 tháng 8 cho thấy ông Grunis được trao tặng huân chương cao quý nhất của Nga về lòng dũng cảm "Anh hùng Liên bang Nga" vì thành tích trong trận chiến, và tuyên bố với phóng viên rằng ông rất vinh dự và tin tưởng vào chiến thắng của Nga tại Ukraine.
Thông tin về cái chết của Grunis xuất hiện sau hàng loạt vụ tử vong trong hàng ngũ cao cấp của quân đội Nga, bao gồm vụ ám sát Trung tướng Damir Davydov trong một vụ đánh bom xe hơi ngày 9 tháng 6, cái chết của Thiếu tướng Valery Plokhotnyuk trong vụ đánh bom nhà hàng ở Mạc Tư Khoa ngày 1 tháng 8, và cái chết của Trung tướng Sergey Milchakov, chỉ huy Quân đoàn Tổng Hợp số 51 của Nga, trong một cuộc tấn công chính xác bằng HIMAR của Ukraine nhằm vào sở chỉ huy của ông ta ở khu vực Donetsk ngày 26 tháng 8.
Theo phát ngôn nhân tình báo quân sự Ukraine, nhiều sĩ quan cao cấp hơn, bao gồm cả các tướng lĩnh, có thể đã thiệt mạng trong vụ đánh bom nhà hàng và vụ tấn công trụ sở, vì hàng chục người đã tập trung tại cả hai địa điểm này.
Grunis từng là một sĩ quan cao cấp ở Nga nhờ những lần xuất hiện trên các phương tiện truyền thông nhà nước, miêu tả ông là một chiến binh tiền tuyến gan dạ với biệt danh "Kẻ Khủng Khiếp", và được cho là người đã chiếm được thành phố pháo đài lớn Kostyantynivka ở phía đông Ukraine. Tuy nhiên, trong thực tế thành phố pháo đài Kostyantynivka vẫn do Ukraine kiểm soát.
Trong nội dung song song do Bộ Quốc phòng Nga sản xuất và phát sóng trên toàn quốc, đơn vị của Grunis, Sư đoàn Bộ binh Cơ giới số 4, được miêu tả là một đội hình tinh nhuệ gồm những người lính giỏi nhất của Nga, với những cuộc tấn công không thể ngăn cản dưới sự chỉ huy của Grunis.
Trong bài phát biểu ngày 28 tháng 8, sau lễ trao tặng danh hiệu "Anh hùng Liên bang Nga", Grunis nói rằng ông "vinh dự" được chỉ huy "những người lính giỏi nhất thế giới".
Trong cuộc phỏng vấn hồi tháng 6, Grunis đã ca ngợi kỹ năng được tường trình của quân đội mình trong việc vượt qua hệ thống phòng thủ của Ukraine bằng một cuộc tấn công bọc sườn bí mật xuyên qua rừng và đầm lầy. Ông tuyên bố rằng đơn vị Ukraine bị quân Nga tấn công, Lữ đoàn Bộ binh Cơ giới 156, đã bị đánh tan bởi các binh lính bộ binh Nga xâm nhập, được hỗ trợ bởi hỏa lực pháo binh và các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa, cho phép họ thực hiện một cuộc vượt sông táo bạo vào bên trong thành phố.
"Tất cả các đơn vị của chúng tôi đã nhanh chóng và thành công bắt đầu hoạt động ở phía bờ trái thành phố và tận dụng triệt để lợi thế đó. Như kế hoạch đã đề ra, chúng tôi đã chia thành phố thành từng mảnh như cắt bánh," Grunis nói. "Lợi thế lớn nhất của chúng tôi là người lính Nga. Đó là ước mơ của bất kỳ vị chỉ huy nào, bởi vì không có quân đội nào trên thế giới có những người lính như chúng tôi."
Ngày 3 tháng 7, đài truyền hình nhà nước Nga phát sóng đoạn video ghi lại cảnh Putin nhận báo cáo chính thức từ tướng Valery Gerasimov, nhà lãnh đạo lực lượng Nga, rằng Kostiantynivka đã hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Nga nhờ chiến thắng của Lữ đoàn 4 do Grunis chỉ huy. Các tướng lĩnh cấp thấp hơn đứng phía sau được truyền thông chính thức mô tả là "trung tâm chỉ huy gần tiền tuyến". Trên thực tế, dựa trên tất cả các nguồn thông tin khác, bao gồm cả tuyên bố chính thức của quân đội Ukraine, truyền thông độc lập của Ukraine, các nhóm nghiên cứu OSINT, các viện nghiên cứu phương Tây, trong đó có Viện Nghiên cứu Chiến tranh có trụ sở tại Mỹ và sáu nhóm trò chuyện nội bộ của các đơn vị chiến đấu Ukraine được Kyiv Post theo dõi và được biết là đang đóng quân tại khu vực Kostiantynivka, lực lượng Nga chưa bao giờ tiến gần đến việc chiếm được thành phố này và ba tháng sau, nó vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Ukraine.
Theo các nguồn tin, lực lượng Nga vẫn còn cách thành phố đến 25km trong các cuộc tấn công xâm nhập quy mô lớn vào đầu tháng 7, đôi khi cô lập các tiền đồn hẻo lánh của Ukraine trong nhiều ngày trước khi máy bay điều khiển từ xa và các đội bộ binh tấn công của Ukraine có thể xác định vị trí và tiêu diệt những kẻ xâm nhập.
Theo hãng tin độc lập Astra của Nga, Apti Alaudinov, chỉ huy lực lượng đặc nhiệm Akhmat của Nga và phó chỉ huy Tổng cục Chính trị-Quân sự của Quân đội Nga, cũng đã xác nhận cái chết của Grunis. Trong khi đó, các blogger quân sự Nga lại mô tả ông ta là Tướng "AI". Tướng "AI" hay Tướng Trí Tuệ Nhân Tạo là thuật ngữ mỉa mai dùng để chỉ các Tướng lãnh Nga dùng Trí Tuệ Nhân Tạo để tạo ra các video deep fake, tức là các video giả giống y như thật để mô tả các chiến thắng không có thật.
Trong bản cập nhật tình hình hôm thứ Tư, Chuẩn tướng Oleksii Hromov, phát ngôn nhân Bộ Tổng tham mưu Ukraine, báo cáo các cuộc tấn công của Nga tại khu vực Kostiantynivka, nhưng tất cả các cuộc tấn công đều bị đẩy lùi. Thông tin từ các đơn vị trong khu vực này cho biết lực lượng phòng thủ Ukraine bên trong thành phố vẫn đang giữ vững.
Các nhóm tình nguyện Ukraine theo dõi các đơn vị chiến đấu của Nga và các thành viên của họ, trái ngược hoàn toàn với thông điệp của Điện Cẩm Linh, từ lâu đã xác định Lữ đoàn 4 của Grunis là một đơn vị gặp nhiều vấn đề, với binh lính phàn nàn về việc sĩ quan tống tiền để không bị giao phó các nhiệm vụ tấn công. Những binh lính không muốn trả tiền hối lộ hoặc từ chối lệnh tấn công, bị nhốt trong các hố lộ thiên cho đến khi họ đổi ý. Trong một video, một người đàn ông tự xưng là Sergei Moshchenko, một lính bộ binh của Lữ đoàn 4, cho biết các chỉ huy đơn vị đã ra lệnh cho anh ta và đồng đội tấn công qua khu vực trống trải được bao phủ bởi các đàn máy bay điều khiển từ xa của Ukraine trong một nhiệm vụ tự sát, trong khi anh ta và các đồng đội là tân binh với chưa đầy hai tuần huấn luyện.
[Kyiv Post: Kremlin-Favored Russian General Awarded Medal for Fake City Capture Dies in Action]
2. Tình trạng của Tổng thống Trump và gia đình sau khi các phương tiện truyền thông loan tin về việc con trai cả của ông và vợ nhận tiền tài trợ của tài phiệt Nga, thân cận với Vladimir Putin
Nói một cách khách quan, Donald Trump Jr. và vợ đã hành động một cách liều lĩnh khi nhận tiền tài trợ của tài phiệt Nga, thân cận với Vladimir Putin. Hậu quả của chuyện này đi tới đâu vẫn chưa được biết vì chưa có một tiền lệ nào như vậy; và còn phụ thuộc vào thái độ hợp tác của những người bị tố cáo với các cơ quan thực thi pháp luật.
Nhưng đây là một câu chuyện rất nghiêm trọng vì liên quan đến an ninh quốc gia. Chúng tôi chỉ có thể nói rằng, cho đến nay các lực lượng chống Tổng thống Trump đang viện dẫn 3 điều khoản trong Hiến Pháp Hoa Kỳ như là cơ sở pháp lý để truy tố những người có liên quan.
Thứ nhất là Foreign Emoluments Clause: Điều I, Mục 9, Triệt 8 cấm các quan chức liên bang và Tổng thống cũng như thân nhân của họ nhận bất kỳ quà tặng, thù lao, chức vụ hay tước hiệu nào từ các vị vua, hoàng thân hoặc quốc gia nước ngoài nếu không có sự chấp thuận của Quốc hội, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng từ nước ngoài.
Thứ hai là Domestic Emoluments Clause: Điều II, Mục 1, Triệt 7 quy định Tổng thống được hưởng mức lương cố định nhưng ông cũng như gia đình bị cấm không được nhận bất kỳ lợi ích tài chính nào khác từ chính quyền liên bang hoặc các tiểu bang, nhằm bảo vệ nhánh hành pháp khỏi sự cưỡng ép về tài chính trong nước.
Thứ ba là Impeachment Clause: Điều II, Mục 4 quy định rằng tội phản quốc, hối lộ, hoặc các trọng tội và hành vi sai trái nghiêm trọng khác—vốn được các nhà lập quốc coi là hành vi lạm dụng quyền lực một cách tham nhũng vì mục đích tư lợi—là cơ sở để bãi nhiệm các quan chức công quyền.
1. Lithuania cho biết chiếc máy bay điều khiển từ xa bị bắn rơi là của Nga.
3. Lithuania cho biết chiếc máy bay điều khiển từ xa bị bắn rơi là của Nga.
Tổng thống Lithuania Gitanas Nausėda xác nhận một máy bay điều khiển từ xa Gerbera của Nga đã xâm nhập không phận nước này từ Belarus trước khi bị máy bay chiến đấu NATO bắn hạ vào thứ Ba, ngày 15 tháng 9.
Tổng thống Nausėda nói với các phóng viên hôm Thứ Năm, 17 Tháng Chín, sau cuộc họp của Hội đồng Quốc phòng Nhà nước, rằng máy bay điều khiển từ xa này mang theo một thiết bị nổ và có khả năng nhằm mục đích tấn công Ukraine. Có thể máy bay điều khiển từ xa này đã bị các hệ thống tác chiến điện tử của Ukraine làm chệch hướng.
Các máy bay chiến đấu của Ý đã được điều động từ căn cứ không quân Šiauliai và chặn chiếc máy bay này, sau khi chính quyền tuyên bố có mối đe dọa trên không tại các hạt Vilnius và Kaunas.
Theo hãng tin Delfi của Lithuania, Tổng thống Nausėda cho biết: "Theo thông tin hiện có, đó là một máy bay điều khiển từ xa kiểu Gerbera. Các bộ phận điện tử vẫn đang được phân tích."
"Sẽ có thêm nhiều dữ liệu hơn về nguồn gốc, cách thức và hoàn cảnh xuất hiện của nó," ông nói thêm.
Máy bay điều khiển từ xa xâm nhập từ Belarus
Mặc dù tự xưng là trung lập trong cuộc xâm lược Ukraine của Nga, Belarus vẫn tiếp tục cung cấp cho Nga các phụ tùng chế tạo vũ khí quan trọng và cho phép lực lượng Nga sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành các cuộc tấn công vào Ukraine.
Trung tâm Quản lý Khủng hoảng Quốc gia của nước này ban đầu báo cáo rằng máy bay có thể đã bị vô hiệu hóa gần làng Navasėlkai thuộc huyện Alytus, nhưng sau đó cho biết nó đã bị bắn rơi gần Pratkūnai, một thị trấn thuộc huyện Kaišiadorys.
Bộ trưởng Quốc phòng Lithuania Robertas Kaunas xác nhận rằng máy bay điều khiển từ xa này mang theo một thiết bị nổ, và thiết bị này sau đó đã bị vô hiệu hóa.
Tổng thống Nausėda cho rằng những sự kiện tương tự có thể xảy ra một lần nữa, do vị trí địa lý của Lithuania gần Belarus và khoảng cách gần giữa Vilnius và biên giới.
"Điều quan trọng nhất là chúng ta có thể phát hiện chúng kịp thời, tốt nhất là khi chúng đã bay qua lãnh thổ các nước láng giềng, để chúng ta có thể phản ứng nhanh hơn, vì thực sự chúng ta có rất ít thời gian để chuẩn bị," ông nói, đồng thời cho biết thêm rằng Lithuania cũng phải phát triển các phương pháp thay thế để vô hiệu hóa máy bay điều khiển từ xa thay vì chỉ dựa vào hỏa tiễn.
Khả năng phòng không của Lithuania
Tổng thống kết luận rằng Lithuania phải mở rộng năng lực phòng không của mình, bao gồm cả việc sử dụng máy bay điều khiển từ xa đánh chặn tầm ngắn và các hệ thống thay thế khác.
"Mục tiêu và câu hỏi của tôi gửi đến Bộ Quốc phòng là: chúng ta sẽ tiến hành nhanh chóng như thế nào trong việc giới thiệu các phương thức giao chiến thay thế khác?", Tổng thống Nausėda nói.
Mặc dù Lithuania đã tăng cường hệ thống phòng không tích hợp của mình, tổng thống thừa nhận rằng hoạt động của hệ thống này vẫn còn mắc phải một số sai sót.
Các nhà chức trách phải cân bằng giữa nhu cầu cảnh báo công chúng nhanh chóng với yêu cầu cung cấp thông tin đáng tin cậy. Ông nói: "Chỉ những thông tin đã được xác minh mới nên được công bố – những thông tin mà sau này không cần phải xin lỗi hay đính chính."
"Đúng vậy, vẫn có những sự việc xảy ra, đôi khi gây ra sự tức giận, đôi khi lại khiến người ta mỉm cười, như trường hợp không may liên quan đến những con chim ấy," ông nói thêm.
Chỉ hai ngày trước vụ việc máy bay điều khiển từ xa, vào ngày 13 tháng 9, một máy bay chiến đấu của NATO đã phải cất cánh và phi trường Vilnius phải đóng cửa do phát hiện một đối tượng khả nghi trên không. Đối tượng đó hóa ra là một đàn chim.
[Kyiv Post: Lithuania Says Downed Drone Was Russian Gerbera]
4. Thủ tướng Merz đã hủy chuyến đi New York giữa lúc áp lực trong nước ngày càng gia tăng.
Thủ tướng Friedrich Merz sẽ không bay đến New York vào thứ Ba tuần tới để tham dự Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc như dự kiến.
Việc hủy bỏ diễn ra trong bối cảnh các cuộc thảo luận gay gắt về tương lai chính trị của Merz và khả năng thay đổi lãnh đạo nước Đức sau cuộc bầu cử hôm Chúa Nhật tại Mecklenburg-Western Pomerania và Berlin, nơi đảng của ông được dự đoán sẽ đạt kết quả kém.
"Trái với kế hoạch ban đầu, Thủ tướng sẽ không đến New York vào tuần tới, vì ông ấy cần có mặt ở Berlin," một quan chức Đức quen thuộc với lịch trình của Thủ tướng nói với POLITICO.
Thủ tướng Merz dự định bay đến New York vào ngày 22 tháng 9 — hai ngày sau cuộc bầu cử — nơi ông sẽ được Viện Hàn lâm Mỹ tại Berlin trao tặng Giải thưởng Henry Kissinger và dự kiến sẽ phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tuần tới là tuần lễ cao cấp của Liên Hiệp Quốc, trong đó nhiều nguyên thủ quốc gia và nhà lãnh đạo chính phủ sẽ phát biểu trước Đại hội đồng và tổ chức các cuộc họp quan trọng.
Những dấu hiệu cho thấy Bộ trưởng Tài chính sẽ hủy bỏ sự kiện đã xuất hiện rải rác trong vài ngày qua. Ban đầu, việc Thủ tướng Merz tham dự lễ trao giải "Giải thưởng Henry Kissinger" đã bị hủy bỏ để Bộ trưởng Tài chính vẫn có thể phát biểu trước nhóm Dân biểu tại cuộc họp ngày 22 tháng 9.
Tại cuộc họp ngay sau bầu cử, dự kiến sẽ có nhiều ý kiến chỉ trích — đặc biệt nếu, như lo ngại, Liên minh Dân chủ Kitô giáo của Merz đạt kết quả kém ở Mecklenburg-Western Pomerania. Đảng này thậm chí có thể không đạt được ngưỡng 5% cần thiết để vào quốc hội. Việc Merz bay ra nước ngoài để nhận giải thưởng giữa lúc ông đang trải qua cuộc khủng hoảng lớn nhất trong nhiệm kỳ thủ tướng sẽ không tạo được hình ảnh tốt đẹp.
Việc toàn bộ chuyến đi bị hủy bỏ cho thấy Văn phòng Thủ tướng đang nhìn nhận cuộc khủng hoảng chính trị trong nước nghiêm trọng đến mức nào và cần phải giải quyết vấn đề tương lai của chính phủ và giới lãnh đạo ra sao. Thay vì Thủ tướng Merz, Ngoại trưởng Johann Wadephul sẽ phát biểu trước Liên Hiệp Quốc. Thủ tướng Merz đã được ông Wadephul đại diện tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm ngoái.
[Politico: Germany’s embattled leader Merz cancels New York trip amid mounting domestic pressure]
5. Lực lượng Nga sử dụng trí tuệ nhân tạo để thể hiện chiến thắng giả tạo.
Theo Viện Nghiên cứu Chiến tranh, gọi tắt là ISW, các nguồn tin của Nga ngày càng sử dụng video do trí tuệ nhân tạo tạo ra và chỉnh sửa để xuyên tạc sự thật, cho rằng lực lượng Nga đang xâm lược những phần lãnh thổ Ukraine mà trên thực tế họ không kiểm soát.
ISW cho biết hoạt động này dường như chưa được tập trung hóa trong toàn bộ quân đội Nga. Thay vào đó, một số đơn vị và blogger quân sự của Nga dường như đang sản xuất hoặc khuếch đại các đoạn phim đã được chỉnh sửa bằng AI, có thể để che giấu những thất bại trên chiến trường hoặc tạo ấn tượng rằng các đơn vị đã đạt được các mục tiêu do Điện Cẩm Linh đề ra.
Các nguồn tin của Nga sử dụng trí tuệ nhân tạo để làm giả các vụ giành được lãnh thổ.
Theo ISW, các nguồn tin của Nga bắt đầu đăng tải hàng loạt video về việc giương cờ đã được chỉnh sửa bằng trí tuệ nhân tạo từ tháng 6 năm 2026. Các đoạn phim thường cho thấy binh lính Nga giương cờ tại các thị trấn mà lực lượng Nga thực tế chưa chiếm được.
ISW đã xác định ít nhất 35 video nghi ngờ bị chỉnh sửa bằng trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 6 đến ngày 30 tháng 8. Nhu liệu phát hiện AI thương mại đã đánh giá với độ tin cậy cao rằng ít nhất 10 video đã bị thao túng bằng các mô hình AI.
Theo báo cáo, con số thực tế có thể cao hơn vì các công cụ phát hiện hiện có không nhất quán trong việc xác định hành vi thao túng của AI.
Các video thường chứa hình ảnh binh lính bị biến dạng, bóng đổ không nhất quán, chuyển động bất tự nhiên và cờ dường như biến mất hoặc bị méo mó. Các nguồn tin của Nga cũng sử dụng các chuyển động máy quay, phóng to và cắt cảnh đột ngột để làm cho các điểm bất thường khó phát hiện hơn.
ISW cho biết định vị địa lý chính xác không chứng minh được tính xác thực của đoạn phim đó, vì các nguồn tin của Nga có thể ghi lại cảnh quay thực tế về các thị trấn và sử dụng nó làm tài liệu tham khảo cho các cảnh do AI tạo ra.
Kể từ ngày 27 tháng 8, các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga gần như liên tục đã làm gián đoạn cuộc sống thường nhật ở Kyiv, buộc người dân phải thích nghi với những đêm mất ngủ, các nơi trú ẩn chật chội, trường học bị gián đoạn và một thành phố hiếm khi trở lại trạng thái bình thường.
Ví dụ, vào ngày 27 tháng 7, blogger quân sự DIVGEN đã đăng tải một video cho thấy một binh sĩ Nga vẫy cờ, kèm theo chú thích: "Nguồn tin riêng. Các binh sĩ thuộc Tiểu đoàn Bộ binh Cơ giới số 3 của Trung đoàn 127, cùng với các đơn vị ‘Bão V’, đã hoàn thành việc giải phóng thị trấn kiểu đô thị Bely Kolodez ở vùng Kharkiv."
Theo ISW, video này là giả mạo do trí tuệ nhân tạo tạo ra. Nó bị vạch trần bởi một số điểm bất thường về hình ảnh, bao gồm tỷ lệ cơ thể không hợp lý của người lính và việc anh ta đột ngột biến mất khỏi bụi cây khi camera của máy bay điều khiển từ xa thu nhỏ lại để hiển thị thị trấn được tường trình đã bị tạm chiếm.
Một video khác, được đăng tải bởi kênh Telegram "Yuzhny Rubezh" (Biên giới phía Nam) vào ngày 20 tháng 8, cho thấy một lá cờ Nga dường như "mọc" ra từ mái nhà trước khi biến mất trở lại vào trong nhà.
Kênh truyền thông này tuyên bố rằng làng Mykolaipillia ở vùng Donetsk đã được "giải phóng nhờ những hành động tích cực và quyết đoán của một đơn vị thuộc Nhóm Lực lượng phía Nam".
Một trong những ví dụ nổi bật nhất liên quan đến Sviatohirsk, một thị trấn bảo vệ sườn phía bắc của "vành đai pháo đài" Sloviansk-Kramatorsk ở vùng Donetsk.
Đầu tháng 9, lãnh đạo Nga Vladimir Putin và Bộ Quốc phòng Nga tuyên bố rằng lực lượng Nga đã chiếm được thị trấn này.
Tuy nhiên, Sviatohirsk vẫn nằm sau chiến tuyến của Ukraine, một thực tế được nhấn mạnh bởi Chuẩn tướng Andrii Biletskyi, chỉ huy Quân đoàn 3 của Ukraine, người đã công bố một bài phát biểu qua video từ trung tâm thị trấn.
Những tuyên bố này cũng bị một số kênh truyền thông thân Nga ủng hộ chiến tranh ("kênh Z") phản bác. Kênh "Voenny Osvedomitel" (Người cung cấp thông tin quân sự) đã đăng tải hai video được tường trình ghi lại cảnh quân Nga "giải phóng" Sviatohirsk, nhưng sau đó cho biết đoạn phim này được tạo ra bởi một mạng lưới thần kinh.
Kênh truyền hình Rybar ủng hộ chiến tranh cũng chỉ trích việc sử dụng cảnh quay do AI tạo ra, cho rằng những báo cáo "cố tình sai sự thật" như vậy có thể phơi bày những vấn đề nghiêm trọng trong việc đưa tin về chiến trường của Nga. Kênh này lưu ý rằng đoạn phim của Ukraine cho thấy Biletskyi đi lại xung quanh tu viện Sviatohirsk Lavra mâu thuẫn với tuyên bố kiểm soát của Nga.
Rybar cũng cảnh báo rằng hậu quả có thể vượt xa cả vấn đề tuyên truyền. Những báo cáo sai lệch về các thị trấn bị tạm chiếm có thể làm sai lệch nhận thức của các chỉ huy về chiến trường, dẫn đến việc lập kế hoạch các chiến dịch quân sự dựa trên bức tranh chiến thuật không chính xác.
Các hình ảnh giả mạo do AI tạo ra được sử dụng để phóng đại những bước tiến của Nga.
ISW cho biết đoạn phim giả mạo này đặc biệt hữu ích cho các đơn vị Nga đang gặp khó khăn trong việc tiến công trên chiến trường.
Ví dụ, blogger quân sự người Nga Voin DV đã nhiều lần quy kết các thắng lợi về lãnh thổ cho Lữ đoàn Bộ binh Cơ giới số 36 của Nga bằng cách sử dụng các đoạn phim mà ISW đánh giá hoặc nghi ngờ là đã bị chỉnh sửa bằng trí tuệ nhân tạo.
Các nguồn tin của Nga cũng đã sử dụng các đoạn phim do AI tạo ra để tuyên bố đạt được những tiến công ở khu vực Donetsk, bao gồm cả dọc theo Vành đai Pháo đài, nơi lực lượng Nga đã đạt được những bước tiến chậm chạp và tốn kém.
Chiến dịch này cũng nhắm vào những thành quả mà Ukraine đạt được. Sau khi Tổng thống Volodymyr Zelenskiy tuyên bố lực lượng Ukraine đã giải phóng 26 thị trấn ở hướng Oleksandrivka vào tháng 8, các nguồn tin của Nga đã đăng tải đoạn phim được tường trình cho thấy quân đội Nga vẫn đang xâm lược một số thị trấn đó. ISW đánh giá rằng một số đoạn phim đã bị chỉnh sửa bằng trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI.
Chiến dịch trí tuệ nhân tạo của Nga nhắm vào cuộc chiến thông tin.
ISW cho biết các video giả mạo này không chỉ nhằm mục đích hướng đến khán giả Nga mà còn để định hình nhận thức về cuộc chiến ở nước ngoài.
Các quan chức Nga đã nhiều lần đưa ra những tuyên bố phóng đại về việc giành được lãnh thổ. Hình ảnh do trí tuệ nhân tạo tạo ra có thể cung cấp tư liệu trực quan để làm cho những tuyên bố đó trở nên đáng tin cậy hơn và củng cố luận điểm của Điện Cẩm Linh rằng Nga vẫn giữ thế chủ động trên chiến trường.
Theo ISW, tính đến ngày 31 tháng 8, hầu hết các thị trấn mà các nguồn tin Nga tuyên bố chủ quyền dựa trên các đoạn phim bị nghi ngờ hoặc đánh giá là đã bị chỉnh sửa bằng trí tuệ nhân tạo vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Ukraine.
Viện nghiên cứu dự đoán các nguồn tin của Nga sẽ mở rộng việc sử dụng tài liệu do trí tuệ nhân tạo tạo ra khi công nghệ tạo video trở nên dễ tiếp cận hơn. Viện cũng cảnh báo rằng các nguồn tin của Nga cuối cùng có thể sử dụng hình ảnh vệ tinh do trí tuệ nhân tạo tạo ra để làm giả bằng chứng về hoạt động quân sự hoặc kiểm soát lãnh thổ.
Bất chấp sự cải tiến của công nghệ, ISW cho biết các hiện tượng bất thường về hình ảnh vẫn còn phổ biến và các nhà nghiên cứu mã nguồn mở sẽ cần liên tục hoàn thiện các phương pháp để phân biệt cảnh quay chiến trường thực tế với nội dung do AI tạo ra.
[Kyiv Post: Russian Forces Use Artificial Intelligence to Show Artificial Victory]
6. Nền tảng được chính phủ Iran hậu thuẫn khuyến khích người dân tố cáo những người Iran đang sinh sống ở nước ngoài.
Hãng thông tấn Fars của Iran đã nêu bật một sáng kiến do chính phủ hậu thuẫn, được giới thiệu như một nền tảng báo cáo công khai và thu thập thông tin tình báo nhằm xác định những người Iran sống ở nước ngoài mà chính quyền Iran cáo buộc là đang hành động chống lại lợi ích quốc gia của đất nước.
Trong bản tin của mình, hãng thông tấn Fars mô tả sáng kiến mang tên Alaj như một phản ứng đối với những người Iran ở nước ngoài bị cáo buộc ủng hộ các cuộc tấn công vào Iran, ăn mừng các cuộc không kích của Israel, chủ trương áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt hoặc hành động quân sự, hoặc lan truyền những thông tin mà hãng này cho là sai lệch trong suốt cuộc xung đột.
Báo cáo lập luận rằng những hoạt động như vậy trên mạng xã hội không nên được xem là không có hậu quả pháp lý nữa.
Theo báo cáo của hãng tin Fars, Alaj mô tả nhiệm vụ của mình là bảo vệ an ninh quốc gia của Iran và lợi ích của người dân Iran trước những gì họ gọi là các nhóm "phản quốc", khủng bố và ly khai, cũng như những người ủng hộ lệnh trừng phạt và can thiệp quân sự.
Văn bản này nêu rõ các hành vi bị cáo buộc là "phản bội" có thể dẫn đến hậu quả pháp lý, bao gồm tịch thu tài sản, đình chỉ các dịch vụ lãnh sự và hạn chế quyền tiếp cận tài chính và truyền thông.
Nền tảng này nhằm khuyến khích công chúng cung cấp thông tin về những người bị cáo buộc phạm tội thông qua địa điểm Alaj và các kênh chuyên dụng trên các nền tảng nhắn tin Bale và Eitaa của Iran. Báo cáo cho biết danh tính của những người gửi báo cáo và các nguồn thông tin công khai khác sẽ được giữ bí mật và mã hóa.
[CBSNews: Platform backed by Iran's government encourages people to report Iranians living abroad]
7. Cuộc tấn công của Nga gây thiệt hại cho cơ sở giáo dục ở thủ đô Ukraine, tấn công vào cơ sở hạ tầng của tỉnh Kyiv.
Một cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga vào đêm 16 rạng sáng 17 tháng 9 đã gây hư hại cho một cơ sở giáo dục ở thủ đô Kyiv của Ukraine và một số cơ sở hạ tầng khác ở tỉnh Kyiv. Phát ngôn nhân cảnh sát quốc gia Ukraine, Đại Úy Alyona Lyutnytska cho biết như trên hôm Thứ Năm, 17 Tháng Chín,
Các vụ nổ đã làm rung chuyển trung tâm thành phố Kyiv vào khoảng 12:30 sáng giờ địa phương. Trước đó, một đám cháy nhỏ đã bùng phát tại một cơ sở giáo dục ở Kyiv do một cuộc tấn công của Nga gây ra, và lực lượng cấp cứu đã dập tắt đám cháy.
Đại Úy Lyutnytska nói: "Mặt tiền và cửa sổ của một tòa nhà bốn tầng thuộc một cơ sở giáo dục đại học ở quận Holosiivskyi đã bị hư hại."
Một vụ cháy khác đã xảy ra tại một khu đất tư nhân ở quận Brovary, tỉnh Kyiv, nằm ngay phía đông thủ đô Ukraine. Theo Đại Úy Lyutnytska, một tòa nhà tiện ích, thiết bị nông nghiệp, xe đầu kéo và một chiếc xe hơi cũng bị hư hại.
Cô cho biết nhà cửa và cơ sở hạ tầng thương mại cũng bị hư hại tại huyện Fastivskyi thuộc tỉnh này.
Nga thường xuyên tiến hành các cuộc tấn công gây chết người vào các thành phố và cơ sở hạ tầng dân sự của Ukraine trong bối cảnh cuộc chiến tranh của nước này vẫn tiếp diễn.
Theo chính quyền địa phương, lực lượng Nga đã tấn công Kyiv vào sáng ngày 15 tháng 9, khiến một người thiệt mạng và ít nhất 12 người khác bị thương.
Theo Thị trưởng Vitali Klitschko, một trạm xăng ở quận Darnytskyi của Kyiv đã bị tấn công vào khoảng 6 giờ sáng giờ địa phương. Một người đã được đưa vào bệnh viện trong tình trạng nguy kịch và sau đó tử vong tại bệnh viện.
[Kyiv Independent: Russian attack damages education facility in Ukraine's capital, targets Kyiv Oblast infrastructure]
8. Một đồng minh của Putin đã tổ chức tiệc cưới cuối tuần cho con trai ông Trump Giờ đây, đảng Dân chủ đang điều tra vụ việc.
Các Dân biểu đảng Dân chủ tại Quốc hội đang điều tra Ông Donald Trump Jr., con trai của Tổng thống Trump, sau khi một người bạn thân thiết của Điện Cẩm Linh dưới thời Vladimir Putin đã giúp tài trợ cho lễ cưới xa hoa của con trai Tổng thống Trump ở Bahamas, các nhà lập pháp thông báo hôm thứ Ba, ngày 15 tháng 9.
"Tại sao một nhà tài phiệt Nga và là bạn của Vladimir Putin lại hỗ trợ tài chính cho con trai của Tổng thống?" Dân biểu Robert Garcia, lãnh đạo phe Dân chủ tại Ủy ban Giám sát và Cải cách Chính phủ Hạ viện, viết trong một tuyên bố công bố cuộc điều tra của Quốc hội. "Umar Kremlev mong đợi điều gì khi tài trợ cho đám cưới ba ngày này ở Bahamas?"
Kremlev là một nhà tài phiệt Nga được Putin trao tặng "Huân chương Hữu nghị" hồi tháng Tư. Vợ của Ông Donald Trump Jr., Bettina Trump, gọi Kremlev là "người bạn thân thiết" trong một tuyên bố xác nhận rằng ông đã "hào phóng tổ chức" hai đêm tiệc cưới của đôi vợ chồng vào tháng Năm.
Theo ProPublica, tờ báo đầu tiên đưa tin về khoản quyên góp này, Kremlev đã chi trả "hàng trăm ngàn đô la cho các chi phí đám cưới", bao gồm cả việc thuê một trong những hòn đảo tư nhân ở Bahamas để tổ chức tiệc chiêu đãi và nơi lưu trú của khách mời.
Bettina Trump đã lên tiếng phản bác những cáo buộc của giới phê bình về động cơ quyên góp của Cẩm Linh.
"Thật không may khi một điều gì đó riêng tư và hạnh phúc như vậy lại bị bóp méo thành vấn đề chính trị hoặc xấu xa chỉ vì người đó là ai hoặc họ đến từ đâu," Tổng thống Trump viết trong một bài đăng trên mạng xã hội kèm theo ảnh chụp buổi lễ. "Tình bạn không cần động cơ chính trị. Lòng hào phóng không tự động đi kèm với một mục đích nào đó. Và đôi khi, một món quà cưới chỉ đơn giản là một món quà cưới."
Những bức ảnh được thành viên mới của gia đình Tổng thống Trump chia sẻ cho thấy ít nhất một vị khách đeo đôi cánh màu vàng gắn trên lưng, các vũ công nữ mặc trang phục theo chủ đề thủy thủ và con trai của tổng thống đội mũ thủy thủ.
Bộ trưởng Tư pháp Todd Blanche, người gần đây đã phá vỡ tiền lệ khi xuất hiện tại đại hội giữa nhiệm kỳ của đảng Cộng hòa ở Dallas, cho biết Bộ Tư pháp sẽ không điều tra khi được hỏi về các hoạt động trong đám cưới tại một cuộc họp báo.
"Tổng thống không biết người này là ai," Blanche nói vào ngày 15 tháng 9. "Con trai của tổng thống nói rằng ông ta là một người bạn rất thân."
Blanche nói thêm: "Vậy tôi đang điều tra cái gì?"
Tờ USA TODAY đã liên hệ với Tòa Bạch Ốc để yêu cầu bình luận thêm.
[CBSNews: A Putin ally hosted Trump Jr.'s wedding weekend. Now Dems are investigating]
9. Lực lượng kháng chiến tuyên bố đã phá hoại nhà máy sản xuất phụ tùng hỏa tiễn của Nga.
Ngày 16 tháng 9, nhóm Atesh, một đặc vụ của lực lượng du kích Ukraine, cho biết đã phá hoại nguồn điện cung cấp cho một nhà máy điện tử ở thành phố Voronezh của Nga.
Theo Atesh, cơ sở này sản xuất các phụ tùng được sử dụng trong hỏa tiễn Kh-101 và Iskander-K, cũng như hệ thống phòng không Pantsir-S1.
"Sau một thời gian dài nghiên cứu cơ sở vật chất, lên kế hoạch chi tiết và tìm kiếm điểm yếu, đặc vụ của chúng tôi đã thâm nhập thành công vào một trạm biến điện gần nhà máy VZPP-Sborka", Atesh cho biết. "Sau khi vượt qua hệ thống an ninh, anh ta đã phá hủy tủ phân phối điện chính cung cấp cho doanh nghiệp và rời khỏi thành phố an toàn."
Nhóm này cho biết hành động phá hoại đã gây ra hiện tượng tăng điện áp đột ngột và làm mất điện các xưởng của nhà máy. Atesh cũng tuyên bố rằng việc khôi phục hoàn toàn nguồn điện mất vài tuần, làm gián đoạn việc cung cấp các phụ tùng điện tử quan trọng và trì hoãn việc sản xuất hỏa tiễn và hệ thống phòng không của Nga.
Atesh không tiết lộ thời điểm diễn ra chiến dịch, cho biết họ đã trì hoãn việc công bố để bảo vệ các nhân viên của mình.
Voronezh, một thành phố ở tây nam nước Nga, nằm cách biên giới Ukraine khoảng 250 km.
Theo tình báo quân sự Ukraine, VZPP-Sborka là một nhà sản xuất chất bán dẫn, mạch tích hợp và mô-đun nguồn của Nga, các phụ tùng của công ty này được sử dụng trong một số hệ thống vũ khí của Nga.
[Kyiv Independent: Partisans claim sabotage at Russian plant producing missile components]
10. Iraq cho biết họ vẫn đang cố gắng tìm ra kẻ đã thực hiện vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa khiến đường ống dẫn dầu của Ả Rập Xê Út ngừng hoạt động.
Giới chức Iraq vẫn đang nỗ lực xác định nhóm hoặc cá nhân nào đã thực hiện cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa vào Ả Rập Xê Út tuần trước từ Iraq, khiến đường ống dẫn dầu thô Đông-Tây quan trọng của vương quốc này ngừng hoạt động - có thể kéo dài nhiều tuần.
Ả Rập Xê Út cáo buộc các nhóm dân quân được Iran hậu thuẫn ở Iraq gây ra vụ tấn công.
Iraq không cho phép các cuộc tấn công nhằm vào các quốc gia trong khu vực từ lãnh thổ của mình và các cuộc điều tra để xác định những người chịu trách nhiệm phóng máy bay điều khiển từ xa tấn công Ả Rập Xê Út vẫn đang tiếp diễn, nhà lãnh đạo Cơ quan Truyền thông An ninh của chính phủ Iraq, Trung tướng Saad Maan, cho biết hôm thứ Ba trong một tuyên bố được đài truyền hình công cộng INA chuyển tải.
Ông Maan cho biết một ủy ban tình báo đã xác định được bệ phóng máy bay điều khiển từ xa bên trong lãnh thổ Iraq được sử dụng trong vụ tấn công, nhưng cuộc điều tra, sử dụng khả năng tình báo và kỹ thuật cũng như bằng chứng pháp y bao gồm dấu vân tay và các chi tiết khác, vẫn đang được tiến hành để xác định thủ phạm.
Ông nói rằng Iraq đã áp dụng "một tầm nhìn mới và một đường lối mới" để bảo đảm không ai có thể "kéo Iraq vào những việc mà chúng ta không muốn", nhưng không đưa ra thêm bất kỳ chi tiết nào.
Iran hậu thuẫn một số nhóm dân quân Hồi giáo Shiite ở Iraq, cũng như các nhóm ủy nhiệm lớn hơn của nước này như Hamas ở Gaza, Hezbollah ở Li Băng và Houthi ở Yemen.
[CBSNews: Iraq says it's still trying to figure out who launched drone attack that took Saudi oil pipeline offline]
11. Lực lượng Houthi cho biết Ả Rập Xê Út đã thực hiện hơn 350 cuộc không kích vào Yemen trong những ngày gần đây.
Phát ngôn nhân của phiến quân Houthi do Iran hậu thuẫn cáo buộc Ả Rập Xê Út tiếp tục các cuộc "tấn công hung hãn" chống lại Yemen, nói rằng lực lượng Ả Rập Xê Út đã thực hiện hơn 350 cuộc không kích chỉ trong vài ngày, nhắm vào tài sản công cộng và tư nhân, gây thương vong cho dân thường.
"Chúng tôi quy trách nhiệm cho chế độ Saudi Arabia về việc tiếp tục vi phạm chủ quyền của Yemen và tấn công vào người dân và tài sản của họ", phát ngôn viên kiêm trưởng đoàn đàm phán của lực lượng Houthi, Mohammed Abdel Salam, tuyên bố trên mạng xã hội.
Ông cảnh báo rằng việc leo thang sẽ không đạt được mục tiêu của Ả Rập Xê Út, lập luận rằng Riyadh đã từng thử phương án quân sự và "chỉ thu được kết quả là thất bại".
"Việc quay trở lại với phương án đã thất bại phản ánh một tư duy hung hăng, không tin vào đối thoại hay hòa bình," ông nói.
[CBSNews: Houthis say Saudi Arabia carried out over 350 airstrikes on Yemen in recent days]
12. Tổng thống Zelenskiy cho biết Nga đã tấn công vào máy bay của ông hai lần trong những tuần gần đây.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết Nga đã hai lần tấn công vào máy bay của ông bằng máy bay điều khiển từ xa trong những tuần gần đây, mô tả các vụ việc này là một phần trong nỗ lực nhằm đe dọa ông và các quan chức nước ngoài khác ủng hộ Ukraine.
Tổng thống Zelenskiy cho biết trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với CBS News hôm thứ Ba, ngày 15 tháng 9, rằng máy bay điều khiển từ xa đã xâm nhập không phận Moldova khi máy bay của tổng thống đang ở Chișinău, và một lần nữa khi ông trở về Ukraine qua thủ đô Moldova vài ngày sau đó.
"Máy bay riêng của tôi đang ở Moldova, và đó là lý do họ tấn công", Tổng thống Zelenskiy nói.
Máy bay của Tổng thống Zelenskiy suýt bị máy bay điều khiển từ xa tấn công khi ông cất cánh từ Moldova để đến thăm Oslo, Thủ tướng Na Uy Jonas Gahr Støre cho biết vào ngày 8 tháng 9, mô tả sự việc là một "thực tế" mà tổng thống Ukraine tiếp tục phải đối mặt trong bối cảnh cuộc chiến của Nga ở Ukraine.
Vụ tấn công tàu hỏa làm dấy lên những lo ngại rộng hơn.
Tổng thống Zelenskiy cho rằng các vụ việc máy bay điều khiển từ xa có liên quan đến cuộc tấn công mới nhất của Nga vào cơ sở hạ tầng hỏa xa của Ukraine hôm thứ Hai, ngày 13 tháng 9, khi một máy bay điều khiển từ xa chạy bằng động cơ phản lực đâm vào một đoàn tàu chở khách gần Yahodyn ở vùng Volyn, chỉ cách biên giới Ba Lan vài km.
Chuyến tàu chở các quan chức cao cấp nước ngoài, bao gồm cựu Thủ tướng Anh Boris Johnson và cựu Giám đốc CIA David Petraeus. Không có thương vong nào được báo cáo, mặc dù tàu chở 206 hành khách.
"Có thể họ không biết rằng một số người Mỹ đã ở đó hoặc có thể… họ biết, vì tôi không tin tưởng họ. Tôi nghĩ rằng họ biết," Tổng thống Zelenskiy nói với CBS News.
Việc lực lượng cảnh sát hiện diện đông đảo tại hiện trường vụ rơi máy bay điều khiển từ xa gần phi trường quân sự Wunstorf đã làm dấy lên lo ngại rằng đây có thể là bằng chứng của một âm mưu phá hoại khác.
"Đó là lý do tại sao người Âu Châu, người Mỹ, phái đoàn lớn đã ở trên chuyến tàu này và họ đã tấn công," ông nói tiếp.
Kể từ đầu năm 2026, Nga đã tấn công cơ sở hạ tầng hỏa xa của Ukraine ít nhất 1.534 lần. Theo Ngoại trưởng Andrii Sybiha, hơn 500 đầu máy xe lửa đã bị hư hại hoặc phá hủy do các cuộc tấn công của Nga, với hơn một nửa số thiệt hại được ghi nhận chỉ riêng trong năm nay.
Sau vụ tấn công, Điện Cẩm Linh hôm thứ Hai tuyên bố Nga sẽ tiếp tục tấn công các mục tiêu trên khắp "toàn bộ" Ukraine, trong khi các đồng minh phương Tây lên án vụ tấn công, nói rằng nó sẽ không ngăn cản những người ủng hộ Kyiv tiếp tục hỗ trợ Ukraine.
Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk cho biết Warsaw đã nhận được thông tin rằng Mạc Tư Khoa có thể đang lên kế hoạch tấn công các cửa ải biên giới chỉ một ngày trước khi vụ tấn công xảy ra.
Các sự việc được báo cáo tạo nên sự tương phản rõ rệt với những phát biểu của Putin sau hội nghị thượng đỉnh Tổ chức Hợp tác Thượng Hải tại Kyrgyzstan vào ngày 2 tháng 9.
" Như các bạn thấy đấy, chúng tôi không thực hiện những cuộc tấn công như vậy," Putin nói khi được hỏi liệu Tổng thống Zelenskiy và các quan chức cao cấp khác có được miễn trừ khỏi các cuộc tấn công của Nga hay không.
Ông kết luận rằng Mạc Tư Khoa cần các quan chức Ukraine để đàm phán, bất chấp việc liên tục từ chối các cuộc gặp trực tiếp với Tổng thống Zelenskiy.
[Kyiv Post: Zelensky Says Russia Targeted His Plane Twice in Recent Weeks]
13. Hãng tin Reuters cho biết Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc sẽ tổ chức cuộc họp về mối đe dọa của lực lượng Houthi đối với eo biển Bab el-Mandeb.
Hãng tin Reuters đưa tin hôm thứ Ba, dẫn lời hai nhà ngoại giao Pháp giấu tên, rằng Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc sẽ tổ chức một cuộc họp vào thứ Ba để thảo luận về tình hình ở eo biển Bab el-Mandeb.
Hiện chưa có xác nhận ngay lập tức nào từ Liên Hiệp Quốc về một cuộc họp cụ thể liên quan đến eo biển, nhưng địa điểm của Hội đồng Bảo an đã liệt kê một cuộc họp lúc 3 giờ chiều thứ Ba theo giờ miền Đông về "tình hình ở Trung Đông".
Eo biển Bab el-Mandeb là cửa ngõ phía nam dẫn vào Biển Đỏ - một tuyến đường vận chuyển đã trở nên vô cùng quan trọng đối với khả năng xuất khẩu khí đốt và dầu mỏ của gã khổng lồ năng lượng Ả Rập Xê Út ra thị trường quốc tế, trong bối cảnh eo biển Hormuz gần đó vẫn bị cản trở nghiêm trọng bởi cuộc chiến giữa Mỹ và Iran.
Phiến quân Houthi được Iran hậu thuẫn ở Yemen đã giành quyền kiểm soát hầu hết toàn bộ đường bờ biển của nước này dọc theo eo biển Bab el-Mandeb, tuyên bố phong tỏa các hải cảng Đỏ của Ả Rập Xê Út và phát động các cuộc tấn công vào các tàu thuộc sở hữu của Ả Rập Xê Út trong khu vực.
Chính phủ Qatar hôm thứ Ba cảnh báo rằng việc đóng cửa rộng hơn eo biển Bab el-Mandeb sẽ là "thảm họa cho toàn thế giới", đồng thời lưu ý đến tác động đối với giá năng lượng toàn cầu do các hạn chế giao thông qua eo biển Hormuz gây ra.
[CBSNews: Reuters says U.N. Security Council to hold meeting on Houthi threat to Bab el-Mandeb Strait]
14. Giá dầu Brent giảm khi nỗi lo ngại về đường ống dẫn dầu của Ả Rập Xê Út giảm bớt.
Giá dầu Brent, tiêu chuẩn quốc tế cho giá dầu, đã giảm vào thứ Tư khi một số lo ngại về giá dầu giảm bớt.
Chiều thứ Tư, giá một thùng dầu Brent đã giảm xuống khoảng 105 đô la, so với mức 108 đô la hôm thứ Ba.
Giá dầu giảm một phần là do triển vọng khả quan từ Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright về đường ống dẫn dầu Đông-Tây ở Ả Rập Xê Út. Đường ống này, một tuyến đường vòng quan trọng để vượt qua eo biển Hormuz đang bị phong tỏa do các cuộc tấn công của Iran, đã bị tấn công vào tuần trước. Các cuộc tấn công dường như do các lực lượng ủy nhiệm của Iran ở nước láng giềng Iraq thực hiện.
Đường ống này vận chuyển vài triệu thùng dầu mỗi ngày từ phía đông Ả Rập Xê Út đến Biển Đỏ ở phía tây, nơi dầu có thể được vận chuyển ra ngoài qua kênh đào Suez.
"Việc đánh giá thiệt hại vẫn đang được tiến hành," Wright nói với Fox Business. "Ba trạm bơm bị ảnh hưởng. Hai trạm có lẽ không bị thiệt hại quá nặng. Một trạm bị thiệt hại nghiêm trọng hơn. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta sẽ biết thêm chi tiết trong vài ngày tới, nhưng tình hình sẽ được cải thiện tương đối sớm."
Tuy nhiên, Wright cho biết 18 triệu thùng dầu và các sản phẩm dầu mỏ đã được vận chuyển ra khỏi eo biển Hormuz ngày hôm qua với sự hỗ trợ từ quân đội Mỹ.
"Hiện tại chúng tôi đang nỗ lực để có thêm nhiều sản phẩm tinh chế được vận chuyển qua eo biển Hormuz," Wright nói với Fox Business. "Vì vậy, tất cả các số liệu của tôi đều là sự kết hợp của cả hai. Con số trung bình trong bảy ngày liên tiếp luôn được báo cáo - đó là con số quan trọng nhất - hiện nay vào khoảng 11 triệu thùng mỗi ngày, bao gồm cả dầu thô và sản phẩm tinh chế. Nhưng con số đó sẽ tiếp tục tăng lên."
Tổng sản lượng 18 triệu thùng dầu mỗi ngày sẽ gần bằng mức trước chiến tranh.
[CBSNews: Brent crude oil prices fall as fear over Saudi pipeline recedes]