BÀI ĐỌC 1 Ed 18:25-28
Bài trích sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en.
Có lời Đức Chúa phán như sau: “Các ngươi nói: ‘Đường lối của Chúa Thượng không ngay thẳng.’ Vậy hỡi nhà Ít-ra-en, hãy nghe đây: Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình. Nó đã thấy và từ bỏ mọi tội phản nghịch nó phạm, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết.”
Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC 2 Pl 2:1-11
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.
Thưa anh em, nếu quả thật sự liên kết với Đức Ki-tô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su.
Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa.”
Đó là lời Chúa.
TUNG HÔ TIN MỪNG Alleluia. Alleluia. Ga 10:27
Chúa nói: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Alleluia.
TIN MỪNG Mt 21:28-32
Tin mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mátthêu.
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng:
“Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: ‘Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.’ Nó đáp: ‘Con không muốn!’ Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: ‘Thưa ngài, con đây!’ nhưng rồi lại không đi. Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Họ trả lời: “Người thứ nhất.” Đức Giê-su nói với họ: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.”
Đó là lời Chúa.

Thánh Giacôbê quả quyết: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết.” Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh qua dụ ngôn người cha sai hai con đi làm vườn nho. Đức tin không chỉ là lời tuyên xưng, nhưng là sống làm theo ý Chúa.
1. LỜI NÓI VIỆC LÀM. Câu chuyện hai người con cho thấy rõ khoảng cách giữa nói và làm. Người con cả ban đầu chối từ “Con không muốn” nhưng sau hối hận và đi làm. Người con thứ nhanh nhảu thưa vâng rõ to nhưng sau lại không đi làm. Chúng ta là người con nào? Trong đời sống của mỗi người từ gia đình đến xã hội và Giáo Hội, nhiều khi nói nhiều lắm, hay lắm, nhưng làm lại chẳng được bao nhiêu. Những lời yêu thương, tha thứ, nhận lỗi, bình an trao nhau trong Thánh lễ, khi ra về chúng ta thực hành được bao nhiêu?
2. LÀM LÀNH LÁNH DỮ. Bài đọc 1 cho câu trả lời: “Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình.” Thiên Chúa đã đặt lương tâm vào sâu thẳm cõi lòng mỗi người, để tiếng lương tâm ấy không ngừng nhắc bảo: làm lành lánh dữ. Lương tâm vô giá. Thế nên, làm người mất gì thì mất, nhưng đừng bao giờ để mất lương tâm.
Chúa Giêsu đã nói: “Không phải bất cứ ai thưa: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy.” Chính Chúa Kitô đã sống điều Người rao giảng: Người không chỉ nói yêu thương, nhưng đã yêu đến cùng, hiến dâng mạng sống để cứu độ chúng ta. Xin Chúa giúp chúng con có một trái tim chan chứa tin yêu, đôi tai biết lắng nghe và đôi tay mau mắn thi hành ý Chúa muốn, để đức tin của chúng con sống động. Amen.
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, NĂM A:
“Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy”.
“Sao bạn cứ cậy vào sức mình để rồi vẫn không đứng nổi? Hãy phó mình cho Chúa; Ngài sẽ đón lấy và chữa lành bạn!” - Augustinô.
Kính thưa Anh Chị em,
Augustinô đã từng đau vì thấy bao người bước tới, còn mình vẫn không đứng nổi. Tin Mừng cho thấy điều đau hơn nơi các thượng tế: những người họ khinh miệt đã tin lời Gioan và đổi đời ngay trước mắt, mà lòng các ông vẫn ‘không nhúc nhích’.
Hai người con không khác nhau ở lời đầu tiên, nhưng khác ở điều họ làm sau đó. Người thứ nhất nói “không” rồi đi; người thứ hai nói “vâng” mà không đi. Cuối dụ ngôn, Chúa Giêsu xoáy vào chính điểm ấy khi nói với các thượng tế: họ đã thấy những người thu thuế và gái điếm tin lời Gioan; còn họ, thấy mà vẫn không chịu hối hận để tin. “Lòng đạo của họ trở thành thói quen, và Thiên Chúa không còn quan trọng với họ!” - Bênêđictô XVI.
“Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. “Trước” không có nghĩa là cửa đã đóng; nó chỉ lấy khỏi những người tự cho mình là công chính đặc quyền được bước vào mà không cần đổi hướng. Họ vẫn có thể bước theo; nhưng muốn thế, phải thôi dùng quá khứ của người khác để khỏi phải nhìn vào hiện tại của mình. Chỉ khi thôi nói “tội của họ”, người ta mới có thể thưa với Chúa: “Đây là tội của con!”.
Êzêkiel chạm đúng lời thú nhận ấy. Dân trách đường lối Chúa không ngay thẳng; Chúa hỏi lại: “Hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?”. Người công chính vẫn có thể lìa bỏ điều ngay; kẻ gian ác vẫn có thể quay về và được sống - bài đọc một. Trước Thiên Chúa, không ai tự cho là xứng đáng nhờ quá khứ của mình, cũng không ai được phép chết trong quá khứ ấy. Vì thế, “Xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu của Ngài” - Thánh Vịnh đáp ca - là lời xin cho cả người đang bước về lẫn người chưa chịu nhúc nhích.
Giữ một người trong lỗi cũ, chúng ta khỏi phải hỏi tiếng “vâng” của mình đã đi được bao xa. Sự trở về của người khác đáng lẽ là niềm vui; nó lại trở thành một lời chất vấn. Bởi thế, “Hãy khiêm nhường coi người khác hơn mình!” - bài đọc hai - không chỉ dạy chúng ta nhường chỗ, mà còn chỉ ra nơi chúng ta tưởng mình không cần hoán cải. “Lạy Chúa, đây là tội của con, không phải của người này hay người kia. Xin Chúa mang lấy chúng!” - Phanxicô.
Anh Chị em,
Trên thập giá, Đức Kitô đứng vào chỗ của những người tưởng không còn đường về. Ngài không hỏi họ đã từng nói “không” bao nhiêu lần; nhưng mang lấy cái giá của những lần ấy để họ còn có thể thưa một lời “vâng”. Và Ngài cũng đứng trước những người vẫn quen nói “vâng”, không để kết án, nhưng để họ thấy mình cũng cần được cứu. Những người thu thuế có thể bước vào; các thượng tế có thể bước theo. Đường đã mở cho cả hai bằng chính mạng sống của Người Con. Lẽ nào lòng chúng ta vẫn ‘không nhúc nhích?’.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, cho con nhận ra ân sủng nơi người con coi thường; đủ thật lòng để gọi tội là của con; và đủ tin vào lòng thương xót Chúa để ra khỏi chỗ con đã đứng quá lâu!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
35. Nếu chúng ta hiểu được rõ ràng trong bệnh tật có cả một kho tàng quý báu thì nhất định vui vẻ đón nhận nó, giống như tiếp nhận ân sủng lớn nhất vậy.
(Thánh Vincent de Paul)Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")
--------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Có một người đã từng làm quan huyện, một hôm tại Thượng Hải nghe các tân học gia nghị luận “quyền tự do của dân”, nói:
- “Các nước tây dương, nước nào không tôn trọng nhân quyền, thì duy chỉ có Trung Quốc là bắt chước, cho nên bá tánh của Trung Quốc thống khổ, sức lực quốc gia càng ngày càng suy yếu”.
Người đã làm quan huyện ấy nhìn thấy nghị luận liền nói:
- “Các ông chỉ nói quyền tự do của dân mà không nói đến quyền của quan, để các ông đi làm quan vài ngày thì mới biết rất khó giải quyết ! Hơn nữa, Trung Quốc tại sao lại không có dân quyền? Chỉ sợ dân quyền của Trung quốc còn hơn cả ngoại quốc nữa đó chứ !”
Mọi người liền hỏi:
- “Quyền tự do của người dân Trung quốc ở đâu?”
Quan về hưu trả lời:
- “Khi tôi làm tri huyện, hể gặp nông dân ngoan cố chống thu lương thực không giao nộp, thì các ông dựa vào đâu để trấn áp đe dọa, chúng nó vẫn cứ không muốn đến nạp cho tổ thuế, các ông coi quyền lực của họ lớn hay không chứ?”
(Yết hậu ngữ)
Suy tư 38:
Tự do là món quà mà Thiên Chúa trao tặng cho con người, và nhờ tự do này mà con người ngày càng phát triển về tâm linh đạt đến mức độ cao nhất của con người, là nhận biết Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên vũ trụ và nhờ kết hợp với Ngài mà con người tiến tới sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc. (1)
Tự do rất là cao quý, nhưng con người thường sử dụng tự do quá đà, nên tội lỗi đã làm tổn thương đến phẩm giá của họ, và cuối cùng bị nô lệ cho ma quỷ và những tội lỗi do nó mang đến.
Đức Chúa Giê-su đã sống lại rồi, chính Ngài đã đến để giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ của tội lỗi và ma quỷ, chính Ngài là Tự Do đích thực của nhân loại khi bị đóng đinh trên thập giá, và khi sống lại Ngài đã mở toang cửa mồ đá, tiêu diệt sự chết và trả lại tự do cho nhân loại.
Làm quan hay làm dân, nếu không có tự do đều trở thành kẻ nô lệ, chỉ có những ai thành tâm yêu mến và thực hành Lời Chúa, thì mới có tự do đích thực trong cuộc sống mà thôi.
(1) Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ 17, chương 1, 17.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
----------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info

Hannah Brockhaus của Hãng tin EWTN News, ngày 26 tháng 9 năm 2026, tường trình từ Paris rằng: Vào thứ Bảy, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã lắng nghe những câu chuyện về đức tin và niềm hy vọng của hai người di cư đến Pháp tại một trung tâm hòa nhập thuộc Tổng giáo phận Paris.
Pháp là một trong những quốc gia châu Âu có lượng người nhập cư lớn nhất — một vấn đề chính trị gây nhiều tranh cãi và cũng gắn liền với cuộc bầu cử tổng thống vào năm tới, trong đó chính trị gia chống nhập cư Marine Le Pen hiện đang là ứng cử viên dẫn đầu.
Theo Viện Thống kê Quốc gia Pháp, có khoảng 8 triệu người nhập cư đang sinh sống tại Pháp, chiếm 11.6% tổng dân số nước này vào năm 2025.
Đức Giáo Hoàng Leo đã đến thăm Nhà Bakhita (Maison Bakhita), một trung tâm cung cấp dịch vụ hỗ trợ và hòa nhập cho người nhập cư tại Tổng giáo phận Paris. Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 5 năm thành lập trung tâm; nơi đây tổ chức các lớp học kỹ năng về may vá, nấu ăn, nghệ thuật thị giác và tin học.
Được đặt tên theo Thánh Josephine Bakhita — một nạn nhân từng bị bắt cóc và bắt làm nô lệ khi còn nhỏ tại Sudan — trung tâm ban ngày này đã đón tiếp 2,500 người thuộc 84 quốc tịch khác nhau kể từ khi mở cửa vào cuối tháng 9 năm 2021. Trung tâm được vận hành bởi năm nhân viên chính thức và 100 tình nguyện viên. “Tên gọi trung tâm của quý vị… gợi nhắc đến Thánh Bakhita, truyền cảm hứng để chúng ta nhận ra vai trò nền tảng của phụ nữ trong việc xây dựng một nền văn minh tình yêu– một giải pháp thay thế cho nền văn hóa đang chia rẽ các cộng đồng và khiến các thành phố trở nên ốm yếu vì sự cô độc,” Đức Giáo Hoàng phát biểu vào ngày 26 tháng 9.
Đức Giáo Hoàng đã lắng nghe chia sẻ của Blessing, một phụ nữ 31 tuổi người Nigeria. Cô kể lại cuộc đời mình đã thay đổi ra sao kể từ khi nhận được sự giúp đỡ và tình bạn từ hiệp hội Aux Captifs, la Libération (tạm dịch: Giải phóng những người bị giam cầm) – một tổ chức từ thiện Công Giáo chuyên hỗ trợ người vô gia cư và những người sa vào con đường mại dâm.
Blessing mô tả một cuộc sống đầy trắc trở, nơi cô “buộc phải làm những điều mình không hề mong muốn.” Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ nhận được, cô đã từ bỏ cuộc sống đó và bắt đầu làm việc tại một nhà hàng.
“Thiên Chúa giữ một vị trí quan trọng trong cuộc đời tôi. Nếu không có Người, chẳng điều gì có thể thực hiện được,” cô nói. “Ngay cả khi trải qua những nghịch cảnh, tôi chưa bao giờ nghi ngờ sự hiện diện của Người, và tôi biết rằng một ngày nào đó Người sẽ mở ra một con đường mới cho tôi. Đôi khi tôi ước gì Thiên Chúa có thể xóa sạch mọi thứ như một ảo thuật gia, nhưng tôi hiểu rằng Người sẽ thực hiện mọi sự vào đúng thời điểm của Người.”
Đức Giáo Hoàng cũng lắng nghe Meysam, một người tị nạn 35 tuổi đến từ Afghanistan. Nhờ có Bakhita House (Nhà Bakhita), anh đã có thể cải thiện vốn tiếng Pháp và kỹ năng may vá của mình. Hiện anh là tình nguyện viên tại đây: “Mỗi tuần, tôi tham gia hai chuyến đi thực tế trên đường phố để gặp gỡ những người lưu vong và tị nạn không có giấy tờ hợp pháp. Đó là cách để tôi đền đáp lại những gì mình đã nhận được.”
Đức Giáo Hoàng đã gửi lời cảm ơn đến tất cả những người đang làm việc tại trung tâm, “cũng như tất cả những ai trên khắp nước Pháp đang thực hiện sứ vụ này tại các cơ sở tương tự.”
“Hãy tiếp tục làm chứng cho tinh thần quan tâm lẫn nhau; tinh thần ấy – thông qua sự đón tiếp huynh đệ, các chương trình đào tạo và sự đối thoại với cộng đồng thành phố – sẽ nâng cao đời sống tinh thần và kiến tạo một thế giới nhân bản hơn,” ngài nói.
“Nguyện xin Thánh Bakhita, cùng với các chứng nhân vĩ đại của đức ái – những người đã định hình sự hiện diện của Giáo hội tại Pháp, đặc biệt là trong những giai đoạn biến động – cầu bầu cho quý vị.”
Nguyên văn diễn từ của Đức Leo XIV, theo bản tiếng Anh của Tòa Thánh
Anh chị em, chào anh chị em buổi sáng!
Tôi rất vui được bắt đầu ngày thứ hai tại Paris cùng anh chị em, trong một ngôi nhà làm chứng cho toàn thành phố thấy rằng việc gặp gỡ và chung sống trong phẩm giá và hòa bình là điều hoàn toàn có thể thực hiện được. Tôi xin cảm ơn Tổng Giáo phận Paris, các Nữ tu Dòng Scalabrini, cùng toàn thể nhân viên và tình nguyện viên – những người đã thổi hồn vào nơi này và phục vụ những ai tìm thấy ở đây sự đón tiếp, sự lắng nghe, sự đào tạo và tình bạn. Tôi cũng xin dành lời cảm ơn đặc biệt đến những người đã chia sẻ chứng từ của mình.
Tên gọi của Trung tâm Hỗ trợ và Hội nhập Xã hội của anh chị em – mang tên Thánh Bakhita – khơi gợi nơi chúng ta sự nhận biết về vai trò nền tảng của người phụ nữ trong việc xây dựng một nền văn minh tình yêu; đây là giải pháp thay thế cho một nền văn hóa vốn chia rẽ cộng đồng và khiến các thành phố trở nên ốm yếu vì sự cô đơn. Khi quan sát kỹ, ta thấy lịch sử Giáo hội và nhân loại không được viết nên bởi những kẻ tạo ra vẻ ngoài chiến thắng nhờ áp đặt bản thân và "thâu tóm mọi sự chú ý", mà bởi những người biết "tạo chỗ đứng" cho người khác, khởi xướng tiến trình hòa bình, xây dựng lòng tin và vun đắp sự sống. Đây không chỉ là những cảm xúc đơn thuần, mà là những quyết định và cam kết đi ngược lại các trào lưu phổ biến; chúng ta đang ngày càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng đối với xã hội cũng như những hứa hẹn cho tương lai mà các hành động này mang lại. Thánh Bakhita mời gọi chúng ta nhìn thấy những người vô hình, giải phóng những ai đang bị nền kinh tế và văn hóa ngày nay giam cầm trong cảnh nô lệ, đồng thời tôn trọng phẩm giá vô biên của mỗi người anh chị em – những người mà trong họ, chính Chúa Giêsu đang đến gõ cửa lòng chúng ta.
Các bạn thân mến, "đối với các Kitô hữu, người nghèo không phải là một phạm trù xã hội học, mà chính là 'thân xác' của Đức Kitô. Không thể chỉ tuyên xưng giáo lý về việc Thiên Chúa Nhập Thể một cách chung chung. Để thực sự bước vào mầu nhiệm cao cả này, chúng ta cần hiểu rõ rằng Chúa đã mang lấy một thân xác biết đói khát, biết đau yếu và biết cả cảnh tù đày" (Tông huấn Dilexi Te, 110). Đức Kitô – Đấng nghèo khó và chịu đóng đinh – vẫn luôn để cho chúng ta gặp gỡ và yêu mến Người qua những con người này; họ mời gọi chúng ta vượt ra khỏi bản thân và can đảm thực thi đức bác ái.
Thưa anh chị em, một nhận thức quan trọng khơi dậy sự dấn thân của anh chị em chính là sự trao đổi các ân huệ, điều diễn ra mới mẻ trong mỗi cuộc gặp gỡ. Không ai nghèo đến mức không có gì để cho đi, và cũng chẳng ai giàu đến mức không cần nhận lãnh điều gì. Sự sống sung mãn hiện diện ở bất cứ nơi nào những giới hạn của mỗi người trở thành cánh cửa mở ra sự hiện diện đầy mầu nhiệm của tha nhân—nơi mà Đấng Khác biệt tuyệt đối, tức Thiên Chúa của sự sống, đến gần với chúng ta. Điều này không phủ nhận những gian nan mà tội lỗi đã gây ra trong lịch sử, nhưng giúp chúng ta không bị giam hãm trong đó. Chúng ta loan báo rằng ơn cứu độ là điều khả hữu, rằng ơn ấy đã khởi đầu, đang tiếp diễn và lôi cuốn chúng ta tham gia với tư cách là những chi thể sống động của Thân Thể Đức Kitô.
Chúng ta cũng đừng quên rằng: “Mắt không thể bảo tay: ‘Tao không cần đến mày’, đầu cũng không thể bảo chân: ‘Tao không cần đến mày’. Trái lại, những bộ phận xem ra yếu ớt hơn lại là những bộ phận không thể thiếu được” (1 Cr 12,21-22). Những lời này của Thánh Phaolô được gửi đến các Kitô hữu tại Côrintô, một trong những thành phố thịnh vượng và sôi động nhất thời bấy giờ. Tại đó, Tin Mừng đã được đón nhận bởi những con người thuộc nhiều nguồn gốc và tầng lớp xã hội khác nhau, bao gồm cả những người nghèo khổ và bị gạt ra bên lề xã hội (x. 1 Cr 1: 26-29), cũng giống như hoàn cảnh của một số anh chị em ngày nay. Thánh Tông đồ nói tiếp: “Nhưng Thiên Chúa đã phối hợp các bộ phận trong thân thể, và ban cho bộ phận kém cỏi hơn một vinh dự lớn lao hơn, để không có sự chia rẽ trong thân thể, trái lại, các bộ phận đều quan tâm chăm sóc lẫn nhau” (1 Cr 12,24-25).
Vì vậy, tôi xin cảm ơn công việc của anh chị em, cũng như của tất cả những ai trên khắp nước Pháp đang thực thi sứ vụ này tại các cơ sở tương tự. Hãy tiếp tục làm chứng cho tinh thần quan tâm chăm sóc lẫn nhau ấy; tinh thần này—thông qua sự đón tiếp huynh đệ, các chương trình đào tạo và sự đối thoại với cộng đồng xã hội—sẽ nâng cao tinh thần con người và làm cho thế giới trở nên nhân bản hơn. Nguyện xin Thánh Bakhita, cùng với các chứng nhân vĩ đại của đức ái – những người đã định hình sự hiện diện của Giáo hội tại Pháp, đặc biệt là trong những giai đoạn biến động – cầu bầu cho anh chị em.
Xin cảm ơn! Nguyện xin Chúa chúc lành cho anh chị em.

Theo Hannah Brockhaus của hãng tin EWTN News, ngày 26 tháng 9 năm 2026, trong Thánh lễ ngoài trời tại Paris vào thứ Bảy, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã nói với cộng đoàn rằng "không ai trong chúng ta chỉ là một con số hay một dòng ghi chép trong sổ bộ, mà là một cá nhân độc nhất vô nhị và không thể thay thế" trong mắt Thiên Chúa.
Theo Vatican, chính quyền địa phương ước tính quy mô đám đông lên tới 800,000 người.
Sáu thanh niên mắc hội chứng Down nằm trong số nhiều người giúp lễ hỗ trợ Đức Giáo Hoàng Leo trong buổi lễ ngày 26 tháng 9.
Nhiều gia đình có con nhỏ trải thảm dã ngoại, các em bé ngủ trong xe đẩy, và những người phụ nữ tóc bạc ngồi trên ghế xếp trong lúc chờ Thánh lễ bắt đầu.
Một số người Công Giáo cho biết họ đã chờ đợi từ bốn đến năm tiếng đồng hồ chỉ để thoáng nhìn thấy Đức Giáo Hoàng Leo khi ngài di chuyển quãng đường gần 2 dặm (khoảng 3.2 km) dọc theo Đại lộ Champs-Élysées trên chiếc xe dành riêng cho Giáo hoàng (popemobile), đi từ Khải Hoàn Môn (Arc de Triomphe) đến lễ đài tại Quảng trường Concorde. Các linh mục đã ngồi giải tội ngay trên vỉa hè dọc theo đại lộ nổi tiếng này.

Từng là nơi đặt một trong những máy chém đã hành quyết hơn 1,000 người trong cuộc Cách mạng Pháp—bao gồm Vua Louis XVI và Hoàng hậu Marie Antoinette—quảng trường giờ đây ngập tràn ánh nắng, khi những đám mây dày đặc của buổi sáng đã tan đi chỉ 10 phút trước khi Thánh lễ bắt đầu.
Jean Noizet cùng cha mẹ và năm anh chị em (từ 9 đến 22 tuổi) là những người đã kiên nhẫn chờ đợi nhiều giờ dọc theo lộ trình để tham dự Thánh lễ do Đức Giáo Hoàng cử hành; họ đã di chuyển từ một vùng ngoại ô Paris đến đây.
Cậu thiếu niên 15 tuổi chia sẻ rằng gia đình em muốn thể hiện sự hiệp nhất với "toàn thể Giáo Hội Công Giáo".
"Từ thành phố Paris xinh đẹp này, tôi tha thiết cầu nguyện để dòng nước hằng sống của Chúa Thánh Thần tuôn chảy khắp nước Pháp," Đức Giáo Hoàng Leo nói trong bài giảng của ngài.
"Khi nhìn thấy anh chị em quy tụ nơi đây... những người thừa kế lịch sử đức tin lâu đời và tốt đẹp của nước Pháp, tôi muốn nhắn nhủ rằng: Hãy uống lấy nguồn nước từ trái tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu," ngài nói.
"Phải, anh chị em đang khao khát Thiên Chúa, khao khát sự sống, chân lý, sự hiệp nhất, hòa bình, sự hiệp thông và hạnh phúc. Anh chị em mong mỏi tìm lại một chân trời ngập tràn ánh sáng và xây dựng một quốc gia đổi mới trên nền tảng cội rễ được nuôi dưỡng bởi đức tin."

Anh Thibault Lecauchois rời nhà lúc 9 giờ sáng và mất hai giờ di chuyển vào trung tâm thành phố để dự Thánh lễ. Anh cùng vợ đã đưa cô con gái 3 tuổi và cậu con trai 1 tuổi đi gặp Đức Giáo Hoàng Leo.
Anh chia sẻ với EWTN News rằng cơ hội hiếm có trong đời để được gặp Đức Giáo Hoàng tại Paris hoàn toàn xứng đáng với những vất vả của chuyến đi cũng như việc phải chờ đợi nhiều giờ liền cùng hai con nhỏ. “Chúng tôi muốn các con nhận được phép lành của Đức Giáo Hoàng và muốn chia sẻ khoảnh khắc này cùng cộng đồng Công Giáo,” anh nói, đồng thời cho biết con gái anh đã rất vui sướng và reo lên “Pape Leon” (Đức Giáo Hoàng Leo) khi nhìn thấy ngài.
Vì các con đã thấm mệt, anh không chắc liệu chúng có thể ở lại dự trọn vẹn Thánh lễ bắt đầu lúc 3 giờ chiều (giờ địa phương) hay không.
“Tôi nghĩ ngài là vị Giáo hoàng của niềm hy vọng. Tôi cho rằng thông điệp hòa bình rất quan trọng trong thời đại ngày nay, và tôi rất mong chờ ngài lan tỏa thông điệp đó ra thế giới. Và tôi nghĩ Paris là nơi rất thích hợp để làm điều này.”
Sau Thánh Lễ, Đức Leo đã tới Lộ Đức, nơi 150,000 tín hữu chờ đợi để cùng ngài tôn vin Nữ Trinh Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria Chí Thánh.

Anh chị em thân mến,
Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì ân huệ được hiện diện cùng anh chị em hôm nay tại Quảng trường Concorde để cử hành Bí tích Thánh Thể. Thật tốt đẹp và êm vui biết bao khi anh chị em sống hòa thuận bên nhau (x. Tv 133,1) để loan báo sự cao cả của Thiên Chúa. Quả thực, tôi hy vọng chuyến thăm này sẽ củng cố đức tin và khích lệ anh chị em tỏa sáng rạng ngời hơn nữa, qua việc chia sẻ sự sống, bình an và tình yêu của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta.
“Ai khát, hãy đến cùng Ta và uống” (Ga 7,37). Thưa anh chị em, giữa cơn khát của mình, chúng ta hướng về Đức Kitô, nguồn nước hằng sống: dòng nước làm dịu cơn khát và khơi dậy sự sống trào tuôn, dòng nước của tình yêu Thiên Chúa “được tuôn đổ vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng đã được ban cho chúng ta” (Rm 5,5).
Khát vọng về Thiên Chúa hiện diện sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta, và chúng ta cùng thốt lên lời của tác giả Thánh Vịnh: “Linh hồn con khao khát Thiên Chúa, khao khát Thiên Chúa hằng sống” (Tv 42,2). Đó là tiếng kêu của một trái tim khiêm nhường và đầy nhiệt huyết, nơi nỗi khát khao sâu xa nhất, mang tính hiện sinh nhất, vẫn không ngừng lớn lên. Và chính Chúa Giêsu Kitô, qua mầu nhiệm Nhập Thể, đã đến gặp gỡ mỗi người ngay giữa hành trình cuộc đời họ, và tỏ mình ra là nguồn nước hằng sống đích thực, có khả năng thỏa mãn cơn khát của chúng ta. Cơn khát ngự trị trong trái tim mỗi con người không hẳn là cơn khát của cải vật chất, mà là khát khao ý nghĩa, sự thật và sự viên mãn. Chúa Giêsu đáp lại khát vọng sâu xa của chúng ta về mối tương quan, về sự hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch của sự sống viên mãn vĩnh cửu. Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã thấy dòng nước tuôn chảy từ Đền Thờ và lan tỏa khắp sa mạc, thanh tẩy và ban sự sống cho mọi vật mà dòng nước ấy chạm đến (x. Ed 47,1-2.8-9.12). Sau này, Thánh Gioan đã thấy dòng nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu khi Người trút hơi thở cuối cùng (x. Ga 19,30-34). Giờ đây, mọi người đều có thể uống từ nguồn nước này để lãnh nhận hồng ân Thánh Thần và được tái sinh, trở nên con cái Thiên Chúa, một tạo vật mới.
Thưa anh chị em, chúng ta phải thừa nhận rằng không gì trên thế gian này có thể hoàn toàn thỏa mãn chúng ta. Khi tưởng chừng công việc đã hoàn tất và những nỗ lực đã được đền đáp, thì nỗi trống trải trong lòng thường lại ùa về, sâu sắc hơn trước. Và rồi, để cố gắng lấp đầy khoảng trống ấy, ta có thể tìm kiếm những thú vui mới, ham muốn sở hữu ngày càng nhiều của cải, hoặc làm mọi cách để đánh lạc hướng bản thân nhằm xoa dịu nỗi bất an trong tâm hồn.
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào lòng mình và tự hỏi: đâu là nỗi khát khao sâu xa nhất của tôi? Tôi thực sự đang tìm kiếm điều gì trong cuộc sống? Tất cả chúng ta đều khao khát hạnh phúc, tình yêu và sự viên mãn. Nhưng chúng ta tìm kiếm nguồn nước nào để giải cơn khát ấy? Liệu ta có hài lòng với của cải vật chất, những thỏa mãn nhất thời, hay vô số những thần tượng nhỏ bé hứa hẹn đủ điều nhưng lại để lại một tâm hồn trống rỗng? Chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và nhận được dòng nước hằng sống mà Tin Mừng đề cập, nhưng liệu chúng ta đã thực sự đích thân gặp gỡ Đức Kitô chưa? Bản chất con người là hữu thể mang trong mình những khát vọng, và chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy khoảng trống nơi tâm hồn chúng ta.
Vâng, thưa anh chị em, Chúa Giêsu Kitô — Vị Mục Tử Nhân Lành — dẫn dắt chúng ta, như người mục tử dẫn dắt đàn chiên, đến nguồn hạnh phúc và bình an. Người biết rõ tên từng người trong chúng ta. Không gì nơi chúng ta có thể giấu được Người — dù là những bí mật, những ý định hay những yếu đuối của bản thân. Người thấu suốt tận đáy lòng ta. Người đã hiến mạng sống vì chúng ta và vẫn tiếp tục ban sự sống ấy cho ta qua các Bí tích. Người vác trên vai những con chiên mệt mỏi và thương tích, đồng thời nhẹ nhàng đưa những con chiên lạc lối trở về. Chúa Giêsu mặc khải tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Trong mắt Ngài, không ai trong chúng ta chỉ là một con số hay một dòng tên trong sổ bộ, mà là một con người độc nhất và không thể thay thế.
Khi thấy anh chị em quy tụ nơi đây – những người thừa kế lịch sử đức tin lâu đời và tốt đẹp của nước Pháp – tôi muốn nói với anh chị em rằng: hãy uống lấy nguồn nước từ trái tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu. Phải, anh chị em đang khao khát Thiên Chúa, khao khát sự sống, chân lý, sự hiệp nhất, hòa bình, sự hiệp thông và hạnh phúc. Anh chị em mong mỏi tìm lại một chân trời tràn ngập ánh sáng và xây dựng một đất nước được đổi mới trên những cội rễ được nuôi dưỡng bởi đức tin. Đừng giữ đức tin vào Chúa Giêsu Kitô cho riêng mình. Hãy để đức tin ấy tuôn trào, để những người anh chị em gặp gỡ được tưới mát và thỏa cơn khát. Anh chị em được mời gọi mang niềm hy vọng đến bất cứ nơi nào sự nản lòng và khô cằn thiêng liêng đang bao trùm.
Quả thực, chính khi chấp nhận sống chân thật dưới ánh nhìn của Chúa Giêsu, chúng ta mới có thể sống đích thực và nhìn nhận cuộc đời mình một cách trung thực. Cuộc đời ấy thật mong manh, dễ tổn thương và rồi sẽ phải đi qua cái chết; nhưng đồng thời, nó cũng thật tuyệt vời và kỳ diệu, có khả năng được đổi mới qua các mối tương quan và mở lòng đón nhận tình yêu đích thực.
“Ai khát, hãy đến với Ta và uống. Ai tin vào Ta, thì như Kinh Thánh đã nói: ‘Từ lòng người ấy sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống’” (Ga 7,37-38). Khi uống lấy nguồn nước từ trái tim Đức Kitô, chính chúng ta cũng trở nên – như lời Origen đã viết – những giếng nước, những dòng suối và những con sông cho người khác. (xem Bài giảng 12, 1, 2-3). Quả thực, người tín hữu uống từ nguồn này cũng trở thành nguồn sự sống nhờ mối tương quan sống động với Đức Kitô, và thông truyền chính sự sống ấy cho người khác.
Anh chị em thân mến, dòng nước hằng sống của Chúa Thánh Thần đã được tuôn đổ dồi dào và tiếp tục sinh hoa kết trái trong Giáo hội thông qua các nhà truyền giáo và các chứng nhân thuộc mọi nền văn hóa và mọi dân tộc. Dòng nước ấy mang lại sự sống cho tất cả những ai được chạm đến và biến đổi họ, giúp họ sinh hoa kết trái. Đó chính là sự thánh thiện của những người thờ phượng Thiên Chúa chân thật và quảng đại phục vụ anh chị em mình trong đức ái. Tại đất nước Pháp xinh đẹp này, qua bao thế kỷ, biết bao người đã uống dòng nước hằng sống ấy và hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình vì lợi ích của tha nhân: các vị tử đạo tiên khởi như Blandina, Pothinus và I-rê-nê; các vị thánh sáng lập các dòng tu; các vị giám mục thánh thiện như Martin và Francis de Sales; cùng những người nam nữ luôn quan tâm đến nhu cầu của người khác như Vincent de Paul, Frédéric Ozanam, Jeanne Jugan và nhiều người khác nữa. Ngay cả ngày nay, trong xã hội, tại các giáo xứ và trong mọi lĩnh vực của đời sống, vẫn có biết bao người đang tiếp tục dấn thân vì sự sống, gia đình, sự thật, hòa bình, tình huynh đệ và công lý.
Từ thành phố Paris xinh đẹp này, tôi tha thiết cầu nguyện xin cho dòng nước hằng sống của Chúa Thánh Thần tuôn chảy khắp nước Pháp. Tôi nghĩ đến anh chị em, những gia đình thân mến, những người dù phải đối diện với bao khó khăn mỗi ngày, vẫn kiên trì và can đảm sống ơn gọi cùng sứ mạng của mình. Tôi chân thành cảm ơn anh chị em vì tất cả những điều tốt đẹp đã được thực hiện qua anh chị em. Nguyện xin sự hiện diện sống động của Chúa Giêsu nơi anh chị em không bao giờ cạn vơi. Tôi cũng nghĩ đến các bạn trẻ thân mến: các bạn chính là Giáo hội của ngày hôm nay. Thật tuyệt vời khi thấy lòng nhiệt thành, năng lượng, sự dấn thân và niềm vui mà các bạn mang lại cho các cộng đoàn Kitô hữu. Tôi cũng nghĩ đến anh chị em, những người đang theo học giáo lý và những người mới lãnh nhận bí tích Rửa Tội, những người đã bắt đầu hành trình đức tin, sự hoán cải và tiến trình gia nhập đời sống Kitô giáo. Nguyện xin anh chị em làm chứng cho những người xung quanh về hành trình mình đang đi, và khơi dậy nơi họ những câu hỏi để họ cũng tự vấn bản thân. Nguyện xin ân huệ của Chúa Thánh Thần biến anh chị em thành những chứng nhân sống động, sẵn sàng lan tỏa nền văn minh tình yêu đến mọi người xung quanh.
Thưa anh chị em, chúng ta hãy hướng về Mẹ Thiên Chúa – Suối nguồn Cứu độ – Đấng dẫn đưa chúng ta đến với Con của Mẹ, cũng là Đấng ban phát mọi ân sủng. Qua lời “xin vâng” đầy tự do và tín thác, Mẹ đã trở nên khí cụ khiêm hạ được Thiên Chúa tuyển chọn, nơi tình yêu của Chúa Cha đã mặc lấy xác phàm và hiến mình cho thế giới.
Chúng ta hãy tin tưởng cầu khẩn Mẹ, để nhờ lời chuyển cầu của ngài, những dòng nước hằng sống sẽ tuôn trào trong lòng dân Chúa và làm cho những hạt giống đức tin, đức cậy và đức mến được trổ hoa trên khắp đất nước Pháp. Amen.
Ngày thứ hai trong chuyến tông du Pháp của Đức Thánh Cha bắt đầu vào lúc 9 giờ sáng với chuyến thăm trung tâm hỗ trợ và hòa nhập xã hội Maison Bakhita. Sau đó, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với các dự tòng và tân tòng tại Học Viện Công Giáo Paris.
Buổi chiều, lúc 15 giờ, Đức Thánh Cha đã dâng thánh lễ tại quảng trường Concorde.
Quảng trường Concorde, tiếng Pháp là Place de la Concorde, nghĩa là Quảng trường Hòa hợp, là quảng trường công cộng lớn nhất tại Paris, trải rộng trên diện tích 7,56 héc-ta thuộc Quận 8 Paris. Nằm ngay tại đầu phía đông của Đại lộ Champs-Élysées và rìa phía tây của Vườn Tuileries, quảng trường hình bát giác tráng lệ này là nơi hội tụ những nét đặc sắc nhất về lịch sử, kiến trúc và tầm nhìn toàn cảnh thành phố của nước Pháp.
Sừng sững ngay giữa trung tâm quảng trường là một cột tháp bút Ai Cập có niên đại 3.300 năm. Với chiều cao 23 mét và được chạm khắc từ một khối đá granite đỏ nguyên khối, đây là món quà ngoại giao mà Ai Cập trao tặng cho Pháp vào năm 1829. Cho đến nay, đây vẫn là di tích cổ xưa nhất còn hiện diện tại Paris.
Quảng trường ban đầu được thiết kế vào năm 1755 và mang tên Quảng trường Vua Louis 15 để vinh danh vị vua đương thời. Tuy nhiên, diện mạo và ý nghĩa của nơi này đã thay đổi hoàn toàn trong cuộc Cách mạng Pháp. Sau khi được đổi tên thành Quảng trường Cách mạng, bức tượng hoàng gia đã bị dỡ bỏ để lấy chỗ đặt máy chém công cộng. Từ năm 1793 đến 1795, hơn 1.200 người đã bị hành quyết công khai tại đây, bao gồm Vua Louis 16, Hoàng hậu Marie Antoinette và nhà lãnh đạo cách mạng Maximilien Robespierre. Năm 1795, khi giai đoạn đẫm máu dần khép lại, nơi này được đổi tên thành Quảng trường Hòa hợp như một biểu tượng có chủ đích cho sự hòa giải dân tộc và hòa bình.
Trong bài giảng thánh lễ, Đức Thánh Cha nói:
Tôi tạ ơn Chúa vì ơn sủng được hiện diện cùng anh chị em hôm nay, tại Quảng trường Concorde, để cử hành Thánh Thể. Thật tốt lành và hạnh phúc khi anh chị em cùng chung sống trong sự hiệp nhất (xem Tv 133:1) để loan truyền sự vĩ đại của Thiên Chúa. Thật vậy, tôi hy vọng chuyến thăm này sẽ củng cố đức tin của anh chị em và khích lệ anh chị em tỏa sáng rực rỡ hơn nữa, bằng cách chia sẻ sự sống, bình an và tình yêu của Chúa Giêsu Kitô.
"Ai khát thì hãy đến với Ta mà uống" (Ga 7:37). Thưa anh chị em, trong cơn khát, chúng ta hãy hướng về Chúa Kitô, Đấng là nguồn nước hằng sống vì nước làm dịu cơn khát và làm cho sự sống tươi tốt, nước tình yêu của Thiên Chúa "được đổ vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng đã được ban cho chúng ta" (Rô-ma 5:5).
Khát khao Thiên Chúa ngự sâu trong lòng chúng ta, và chúng ta kêu lên cùng với vịnh gia: "Linh hồn tôi khát khao Thiên Chúa, khát khao Thiên Chúa hằng sống" (Tv 42:2). Đó là tiếng kêu của một trái tim khiêm nhường và đầy nhiệt huyết, mà cơn khát sâu sắc nhất, khát khao hiện sinh nhất không ngừng lớn dần. Và chính Chúa Giêsu Kitô, qua sự Nhập Thể của Ngài, đến gặp gỡ mỗi người giữa câu chuyện riêng của họ, và tỏ mình ra là nguồn nước hằng sống đích thực có khả năng làm dịu cơn khát của chúng ta. Cơn khát trong mỗi trái tim con người không phải là cơn khát vật chất, mà là cơn khát ý nghĩa, chân lý và sự trọn vẹn. Chúa Giêsu đáp lại khát vọng sâu sắc của chúng ta về mối quan hệ, về sự hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng trong Ngài có sự viên mãn của cuộc sống đời đời.
Trong bài đọc thứ nhất, tiên tri Êdêkien đã thấy nước chảy ra từ Đền thờ và lan khắp sa mạc, thanh tẩy và mang lại sự sống cho mọi thứ nó chạm vào (xem Ed 47:1-2, 8-9, 12). Sau đó, Thánh Gioan đã thấy nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thủng của Chúa Giêsu khi Ngài trút hơi thở cuối cùng (xem Ga 19:30-34). Giờ đây, mọi người đều có thể uống từ suối nguồn này, để nhận lãnh ơn Thánh Linh và được tái sinh, trở thành con cái Thiên Chúa, một tạo vật mới.
Thưa anh chị em, chúng ta phải thừa nhận rằng không có gì trên thế giới này có thể làm chúng ta hoàn toàn thỏa mãn. Khi ta nghĩ rằng công việc cuối cùng đã hoàn thành và nỗ lực đã được đền đáp, sự trống rỗng bên trong thường quay trở lại, sâu sắc hơn trước. Và vì vậy, trong nỗ lực lấp đầy nó, ta có thể tìm kiếm những thú vui mới, muốn sở hữu ngày càng nhiều thứ, hoặc làm mọi thứ có thể để đánh lạc hướng bản thân nhằm làm tê liệt sự bồn chồn bên trong chúng ta.
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào tâm hồn mình và tự hỏi: Khát khao sâu thẳm nhất của tôi là gì? Tôi thực sự tìm kiếm điều gì trong cuộc sống? Tất cả chúng ta đều khao khát hạnh phúc, tình yêu và sự viên mãn. Nhưng chúng ta tìm cách thỏa mãn cơn khát ấy từ nguồn nào? Chúng ta có bằng lòng với của cải vật chất, những thỏa mãn tức thời, vô số những thần tượng nhỏ bé hứa hẹn mọi thứ nhưng chỉ để lại trái tim trống rỗng? Chúng ta đã được rửa tội và nhận lãnh dòng nước hằng sống mà Phúc Âm nói đến, nhưng liệu chúng ta đã thực sự gặp gỡ Chúa Kitô cách cá vị chưa? Về bản chất, con người là một hữu thể của khát vọng, và chỉ có Thiên Chúa mới có thể lấp đầy khoảng trống bên trong chúng ta.
Vâng, thưa anh chị em, Chúa Giêsu Kitô, Mục Tử Nhân Lành, dẫn dắt chúng ta, như người chăn chiên dẫn dắt đàn chiên của mình, đến nguồn hạnh phúc và bình an. Ngài biết tên từng người trong chúng ta. Không điều gì về chúng ta giấu kín được với Ngài – cả bí mật, ý định lẫn nhược điểm của chúng ta. Ngài dò xét tận đáy lòng chúng ta. Ngài đã hi sinh mạng sống mình vì chúng ta và tiếp tục ban cho chúng ta qua các bí tích. Ngài cõng những con chiên mệt mỏi và bị thương trên vai, và nhẹ nhàng đưa những con chiên lạc lối trở về. Chúa Giêsu bày tỏ tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Trong mắt Ngài, không ai trong chúng ta chỉ là một con số hay một bản ghi trong sổ sách, mà là một con người độc nhất vô nhị và không thể thay thế.
Nhìn thấy anh chị em tụ họp ở đây, những người thừa kế lịch sử đức tin lâu đời và tươi đẹp của nước Pháp, tôi muốn nói với anh chị em: hãy uống từ nguồn suối là trái tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu. Phải, anh chị em khát khao Thiên Chúa, khát khao sự sống, khát khao chân lý, khát khao hiệp nhất, khát khao hòa bình, khát khao giao hòa và khát khao hạnh phúc. Anh chị em khao khát tìm lại một chân trời tràn ngập ánh sáng và xây dựng một quốc gia mới trên nền tảng đức tin vững chắc. Đừng giữ đức tin nơi Chúa Giêsu Kitô cho riêng mình. Hãy để nó tràn đầy, để những người anh chị em gặp gỡ được tươi mới và cơn khát của họ được thỏa mãn. Anh chị em được kêu gọi mang hy vọng đến bất cứ nơi nào có sự nản lòng và khô khan về mặt tâm linh.
Thật vậy, chỉ khi chấp nhận sống chân thật dưới ánh mắt của Chúa Giêsu, chúng ta mới có thể sống đúng với bản thân và nhìn nhận cuộc sống một cách trung thực. Cuộc sống của chúng ta mong manh, dễ tổn thương và với một định mệnh là phải trải qua cái chết; nhưng chúng cũng thật kỳ diệu và đầy phép lạ, có khả năng được đổi mới thông qua các mối quan hệ và mở lòng đón nhận tình yêu đích thực.
Như Kinh Thánh đã nói: "Ai khát thì hãy đến với Ta mà uống. Ai tin Ta, ‘Từ lòng người ấy sẽ chảy ra những dòng nước hằng sống’" (Ga 7:37-38). Khi chúng ta uống từ nguồn suối là trái tim của Chúa Kitô, như Origen đã viết, chính chúng ta cũng trở thành, những giếng, những mạch nước và những dòng sông cho người khác (xem Bài giảng 12, 1, 2-3). Thật vậy, người tín hữu uống từ nguồn suối này cũng trở thành nguồn sống thông qua mối quan hệ sống động của họ với Chúa Kitô, và truyền sự sống ấy cho người khác.
Kính thưa anh chị em, dòng nước hằng sống của Chúa Thánh Thần đã được đổ xuống dồi dào và tiếp tục sinh hoa kết trái trong Giáo Hội qua các nhà truyền giáo và các chứng nhân trong mọi nền văn hóa và giữa mọi dân tộc. Dòng nước ấy mang lại sự sống cho tất cả những ai được chạm đến và biến đổi họ, giúp họ sinh hoa kết trái. Đó là sự thánh thiện của các tín hữu Chúa chân thật và quảng đại phục vụ anh chị em mình trong tình bác ái. Tại đất nước Pháp tươi đẹp này, nhiều người đã uống dòng nước hằng sống ấy qua nhiều thế kỷ và hiến dâng trọn đời mình cho lợi ích của người khác: các vị tử đạo đầu tiên, như Blandina, Pothinus và Irenaeus; các vị thánh sáng lập các dòng tu; các vị thánh giám mục như Martinô và Phanxicô Lasêsalômôn; và những người nam nữ có tấm lòng quan tâm đến nhu cầu của người khác, như Thánh Phaolô, Frédéric Ozanam và Jeanne Jugan, và nhiều người khác nữa. Ngay cả ngày nay, vẫn còn rất nhiều người trong xã hội của anh chị em, trong các giáo xứ và trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, tiếp tục cống hiến mình cho sự nghiệp sự sống, gia đình, chân lý, hòa bình, bác ái và công lý.
Từ thành phố Paris xinh đẹp này, tôi tha thiết cầu nguyện cho dòng nước hằng sống của Chúa Thánh Thần tuôn chảy khắp nước Pháp. Tôi nghĩ đến các gia đình thân yêu, những người dù phải đối mặt với nhiều khó khăn mỗi ngày vẫn can đảm kiên trì trong ơn gọi và sứ mệnh của mình. Tôi cảm ơn các bạn từ tận đáy lòng vì tất cả những điều tốt lành được thực hiện qua các bạn. Nguyện xin sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu trong các bạn không bao giờ cạn kiệt. Tôi nghĩ đến các bạn trẻ thân yêu: các bạn chính là Giáo hội ngày nay. Thật tuyệt vời khi thấy sự nhiệt tình, năng lượng và sự tận tâm của các bạn, và niềm vui mà các bạn mang đến cho cộng đồng Kitô giáo. Tôi cũng nghĩ đến các bạn, những người dự tòng và những người mới được rửa tội, những người đã bắt đầu cuộc hành trình đức tin, hoán cải và gia nhập Kitô giáo. Nguyện xin các bạn làm chứng cho những người xung quanh về cuộc hành trình mà các bạn đang thực hiện, và truyền cảm hứng cho họ tự đặt ra những câu hỏi cho chính mình. Nguyện xin ơn của Chúa Thánh Thần biến các bạn thành những chứng nhân sống động, sẵn sàng lan tỏa xung quanh mình một nền văn minh tình yêu.
Thưa anh chị em, chúng ta hãy hướng về Mẹ Thiên Chúa, Suối nguồn ơn cứu độ, Đấng dẫn dắt chúng ta đến với Con của Mẹ, Đấng ban phát mọi ân sủng. Qua lời "xin vâng" tự nguyện và tin tưởng của Mẹ, Mẹ đã trở thành chiếc bình khiêm nhường, được Thiên Chúa chọn, nơi tình yêu của Chúa Cha nhập thể và hiến dâng chính mình cho thế giới.
Chúng ta hãy tin tưởng cầu khẩn Mẹ Maria, để nhờ sự chuyển cầu của Mẹ, những dòng nước hằng sống sẽ tuôn chảy trong lòng dân Chúa và làm cho những hạt giống đức tin, niềm hy vọng và lòng bác ái nở rộ khắp nước Pháp. Amen.
Source:Dicastery for Communication - Libreria Editrice Vaticana
Ngày thứ hai trong chuyến tông du Pháp của Đức Thánh Cha bắt đầu vào lúc 9 giờ sáng với chuyến thăm trung tâm hỗ trợ và hòa nhập xã hội Maison Bakhita.
Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:
Tôi rất vui mừng được bắt đầu ngày thứ hai ở Paris cùng các bạn, tại một ngôi nhà minh chứng cho toàn thành phố rằng con người có thể gặp gỡ nhau và sống cùng nhau trong phẩm giá và hòa bình. Tôi xin cảm ơn Tổng giáo phận Paris, các Nữ tu Scalabrinian, và tất cả các nhân viên và tình nguyện viên đã góp phần làm cho nơi này trở nên sống động và phục vụ những người tìm thấy ở đây sự chào đón, sự lắng nghe, giáo dục và tình bạn. Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến những người đã chia sẻ câu chuyện của mình.
Tên gọi của Trung tâm Hỗ trợ và Hội nhập Xã hội của quý vị, được đặt theo tên Thánh Bakhita, truyền cảm hứng cho chúng ta nhận ra vai trò nền tảng của phụ nữ trong việc xây dựng một nền văn minh của tình yêu thương, một nền văn hóa thay thế cho nền văn hóa chia rẽ cộng đồng và khiến các thành phố chìm trong sự cô đơn. Khi nhìn kỹ hơn, lịch sử của Giáo hội và của nhân loại không được viết bởi những người tạo ấn tượng chiến thắng bằng cách áp đặt bản thân và "thống trị không gian", mà bởi những người "tạo không gian", khởi xướng các tiến trình hòa bình, xây dựng lòng tin và khuyến khích sự sống. Đây không chỉ là những cảm xúc, mà là những quyết định và cam kết đi ngược lại với các xu hướng hiện hành, mà tầm quan trọng công cộng và triển vọng cho tương lai của chúng ta đang ngày càng rõ ràng hơn. Thánh Bakhita mời gọi chúng ta nhìn thấy những người vô hình, giải phóng những người bị nền kinh tế và văn hóa ngày nay nô dịch, và tôn vinh phẩm giá vô bờ bến của mỗi anh chị em, những người mà chính Chúa Giêsu đang gõ cửa nhà chúng ta.
Các bạn thân mến, "đối với người Kitô hữu, người nghèo không phải là một phạm trù xã hội học, mà chính là ‘nhiệm thể’ của Chúa Kitô. Chỉ tuyên xưng giáo lý về sự Nhập Thể của Thiên Chúa một cách chung chung mà thôi thì chưa đủ. Để thực sự thấu hiểu mầu nhiệm vĩ đại này, chúng ta cần hiểu rõ rằng Chúa đã mang lấy thân xác đói khát, đau đớn và chịu tù đày" (Tông huấn Dilexi Te, 110). Chúa Kitô, nghèo khó và chịu đóng đinh, vẫn tiếp tục cho phép chúng ta gặp gỡ và yêu thương Ngài qua những người nam nữ này, những người kêu gọi chúng ta vượt lên chính mình và dám thực hành lòng bác ái.
Thưa anh chị em, một nhận thức vô cùng quan trọng, nguồn cảm hứng cho lòng mộ đạo của anh chị em, liên quan đến sự trao đổi ân sủng, là điều diễn ra mới mẻ trong mỗi cuộc gặp gỡ. Không ai nghèo đến nỗi không có gì để cho; không ai giàu đến nỗi không có gì để nhận. Sự sống dồi dào hiện hữu ở bất cứ nơi nào những hạn chế của mỗi người trở thành cánh cửa mở ra sự hiện diện mầu nhiệm của tha nhân, nơi mà Tha Nhân tuyệt vời nhất – Thiên Chúa của sự sống – đến gần. Điều này không phủ nhận những khó khăn mà tội lỗi đã gây ra trong lịch sử, nhưng nó giúp chúng ta không bị giam cầm bởi nó. Chúng ta tuyên bố rằng sự cứu chuộc là có thể, rằng nó đã bắt đầu, rằng nó đang tiếp diễn, và rằng nó liên quan đến chúng ta với tư cách là những thành viên sống động của Thân Thể Chúa Kitô.
Chúng ta cũng đừng quên rằng "mắt không thể nói với tay rằng: ‘Tôi không cần anh,’ đầu cũng không thể nói với chân rằng: ‘Tôi không cần anh.’ Trái lại, các chi thể yếu hơn trong thân thể lại không thể thiếu" (1 Cr 12:21-22). Những lời này của Thánh Phaolô được nói với các tín hữu thành Côrintô, một trong những thành phố thịnh vượng và sôi động nhất thời bấy giờ. Ở đó, Tin Mừng đã được đón nhận bởi những người thuộc nhiều nguồn gốc và hoàn cảnh xã hội khác nhau, bao gồm cả nhiều người nghèo và bị gạt ra ngoài lề xã hội (xem 1 Cr 1:26-29), cũng như trường hợp của một số người trong anh chị em ngày nay. Thánh Tông đồ nói tiếp rằng "Nhưng Thiên Chúa, đã sắp đặt thân thể như vậy, ban cho chi thể yếu hơn được vinh dự lớn hơn, hầu cho trong thân thể không có sự bất hòa, nhưng các chi thể phải quan tâm đến nhau" (1 Cr 12:24-25).
Vì vậy, tôi cảm ơn công việc của các bạn, cũng như tất cả những người trên khắp nước Pháp đang thực hiện công việc phục vụ này tại các cơ sở tương tự. Hãy tiếp tục làm chứng cho sự quan tâm lẫn nhau, điều mà thông qua sự đón tiếp huynh đệ, các chương trình đào tạo và đối thoại với thành phố, nâng cao tinh thần và làm cho thế giới nhân văn hơn. Xin Thánh Bakhita, cùng với các chứng nhân bác ái vĩ đại đã định hình sự hiện diện của Giáo hội tại Pháp, đặc biệt là trong những thời kỳ biến động, cầu bầu cho các bạn.
Cảm ơn anh chị em! Nguyện Chúa ban phước lành cho anh chị em.
Source:Libreria Editrice Vaticana
Ngày thứ hai trong chuyến tông du Pháp của Đức Thánh Cha bắt đầu vào lúc 9 giờ sáng với chuyến thăm trung tâm hỗ trợ và hòa nhập xã hội Maison Bakhita. Sau đó, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với các dự tòng và tân tòng tại Học Viện Công Giáo Paris.
Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:
Các linh mục và những người sống đời thánh hiến,
Các thành viên của Hội đồng đồng nghị,
Các anh chị em thân mến, những dự tòng và tân tòng.
Tôi rất vui mừng được gặp gỡ quý vị và có được cơ hội này, như một phần trong hành trình tông đồ của tôi, để suy ngẫm về con đường mà quý vị đang theo đuổi trong Hội đồng đồng nghị cấp Giáo tỉnh.
Tôi cảm ơn Đức Tổng Giám Mục Laurent Ulrich của Paris, người đã nhắc lại ý nghĩa lịch sử và tâm linh của nơi này, đồng thời cũng hướng sự chú ý của chúng ta đến Thầy Lawrence Phục Sinh, người có đời sống thần bí thường nhật đã ảnh hưởng sâu sắc đến hành trình đức tin của tôi. Trên hết, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Tài liệu Làm Việc (Instrumentum Laboris) mà quý vị đã trao tặng cho tôi. Đó là sự thể hiện một hành trình Giáo hội liên quan đến dân Chúa, được đặc trưng bởi sự lắng nghe lẫn nhau và tính hiệp thông.
Hôm nay, chúng ta được đón tiếp tại Học Viện Công Giáo Paris, một tổ chức nằm ở giao điểm của khoa học và đức tin, nơi đã và đang giúp giáo dục trí tuệ và tâm hồn để phục vụ Tin Mừng trong nhiều thế kỷ. Tôi xin gửi lời chào đến các giảng viên, sinh viên và nhân viên của Học Viện này, cũng như tất cả các thành viên của Hội đồng Giáo Tỉnh đang tham gia suy tư về các sáng kiến mục vụ chào đón những người mới được rửa tội và dự tòng, cũng như về đời sống của Giáo hội.
Sau khi quan sát kỹ công việc của các bạn — và quan trọng hơn, sau khi lắng nghe những lời chứng của Jaodie Josué, Marielle và Sophie — trước hết và trên hết, tôi tràn đầy lòng biết ơn sâu sắc đối với công việc kỳ diệu của Chúa. Giống như các bạn, và cùng với các bạn, tôi rất xúc động trước số lượng người quay trở lại với đức tin, và trước nhiều người lớn tìm kiếm các bí tích khai tâm Kitô giáo.
Có vẻ như nghịch lý khi hiện tượng này, trong đó rất nhiều người đang tái khám phá Tin Mừng và đón nhận đức tin, lại diễn ra trong bối cảnh một xã hội như nước Pháp, vốn mang đậm tính thế tục hóa. Kinh nghiệm và lời chứng của các bạn, hỡi những người dự tòng và những người mới được rửa tội, là dấu hiệu hữu hình của ân sủng Chúa, vượt xa mọi phân tích thống kê và xã hội học. Hiện tượng này, trái ngược với mọi thái độ bi quan và điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô gọi là "chủ nghĩa bi quan vô ích" (xem Tông huấn Evangelii Gaudium, 84–86), và cần được đón nhận với tinh thần trách nhiệm.
Thực tế, chúng ta được mời gọi đến gần anh chị em mình, tái khám phá cách hành động của chính Chúa, vốn được đặc trưng bởi sự gần gũi, lòng thương xót và sự dịu dàng. Với lòng thương xót mục vụ và tình bác ái huynh đệ, chúng ta phải nhận ra, đón nhận và bảo vệ ngọn lửa nhỏ mà Chúa Thánh Thần đã nhóm lên trong bóng đêm, hạt giống bé nhỏ đang cố gắng nảy mầm ngay cả giữa gai góc.
Khi chúng ta kinh ngạc trước những gì đang diễn ra trong cuộc sống của rất nhiều anh chị em mình, chúng ta không được tự mãn hay lạc quan một cách ngây thơ. Ngược lại, chúng ta phải luôn tận tâm, sẵn sàng tìm tòi, tự đặt câu hỏi và thực hiện các sáng kiến mục vụ cụ thể. Chính Chúa Thánh Thần đã soi sáng Đại hội Thượng Hội đồng của quý vị, và rộng hơn là đời sống của Giáo hội tại Pháp. Tràn đầy sự kinh ngạc trước công việc kỳ diệu của Chúa, chúng ta phải làm gì, và Chúa Thánh Thần đang dẫn dắt chúng ta đến đâu trong việc đồng hành cùng những người dự tòng, những người mới được rửa tội và những người "bắt đầu lại"?
Trước hết, tôi muốn nhắc lại một câu nói mà các Giám mục Pháp đã sử dụng cách đây vài năm, và kêu gọi quý vị hãy hình dung và hiện thực hóa một Giáo hội trong "trạng thái khai tâm" – một Giáo hội nâng đỡ những người dự tòng, những người mới được rửa tội và những người trở lại với đức tin, cung cấp cho họ sự hướng dẫn vững chắc và kiên định theo thời gian. Thật vậy, việc khai tâm Kitô giáo nói chung đã là trọng tâm của các nỗ lực mục vụ kể từ những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ngay cả khi đó, đã có nhiều đề xuất, và những phát triển về thần học và phụng vụ trong những năm đó đã góp phần rất lớn vào việc đổi mới các chương trình dự tòng trong Công đồng Vatican II. Mặc dù hoàn cảnh ngày nay khác, quý vị vẫn có thể dựa vào truyền thống mục vụ sâu sắc này liên quan đến việc đồng hành cùng những người dự tòng. Hơn nữa, chúng ta đừng quên rằng thực hành đã có sẵn còn được củng cố hơn nữa vào năm 1996, năm mà cả Thư gửi các tín hữu Công Giáo Pháp và ấn bản tiếng Pháp mới nhất của Nghi thức Khai tâm Kitô giáo dành cho người lớn được xuất bản.
Kính thưa anh chị em, dấn thân "trong quá trình khai tâm" có nghĩa là chào đón những người mới tìm kiếm Chúa, và khám phá nơi họ cả cơ hội lẫn sứ mệnh. Cơ hội nằm ở chỗ, nhờ họ, cộng đồng tín hữu có thể đổi mới hành trình đức tin của chính mình và trải nghiệm niềm vui Tin Mừng theo một cách thức mới. Tuy nhiên, sứ mệnh của chúng ta là nuôi dưỡng và hướng dẫn họ, ngay cả sau khi họ đã lãnh nhận các bí tích. Chúng ta phải vui mừng chào đón những người đến với chúng ta, xây dựng trên kinh nghiệm tâm linh của họ, tôn trọng lịch sử cá nhân của họ, và thúc đẩy việc rao giảng Tin Mừng thiết yếu, thậm chí sử dụng cả những hình thức mà họ đã quen thuộc từ hành trình cá nhân hoặc cộng đồng của họ. Hơn nữa, chúng ta đừng quên rằng nhiều người trong số họ sau này sẽ đặt ra câu hỏi tương tự như chúng ta đã nghe trong lời chứng của Marielle: Làm thế nào để tránh được sự trống rỗng sau khi chịu phép rửa tội?
Do đó, cần phải đồng hành và hòa nhập hoàn toàn những người này vào cộng đồng và các buổi cầu nguyện của chúng ta sau khi chịu phép rửa tội, mang đến cho họ một môi trường chào đón và một sự đào tạo toàn diện nhất có thể — một sự đào tạo có khả năng bao quát các khía cạnh khác nhau của đời sống Kitô giáo và thúc đẩy sự hài hòa giữa đức tin và cuộc sống. Là những người mới được rửa tội, họ cần phải đào sâu hiểu biết về nền tảng của đức tin Kitô giáo, nhận được sự đào tạo đầy đủ về các vấn đề Kinh Thánh và thần học, và khám phá ngày càng trọn vẹn sự phong phú của giáo lý và các chiều kích khác nhau của hành động luân lý Kitô giáo tương ứng với lời tuyên xưng đức tin.
Cuối cùng, họ cũng cần được khai tâm và giới thiệu vào đời sống phụng vụ của Giáo hội. Như chúng ta đã nghe trong các lời chứng, đối với một số người, việc cử hành các nghi thức phụng vụ là điểm khởi đầu để bước vào mầu nhiệm đức tin. Đây là một khía cạnh cơ bản của đời sống Giáo hội, đòi hỏi sự chăm sóc mục vụ dựa trên giáo huấn của Công đồng Vatican II. Thật vậy, phụng vụ không thể được coi là điều gì đó đến "sau" việc học giáo lý, nơi người ta chỉ đơn giản áp dụng những gì đã học được trên đường đi. Ngược lại, nó biểu lộ và hiện diện Mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Kitô, và do đó, là một sự kiện có khả năng mặc khải ý nghĩa của Tin Mừng và chính sự sống của Thiên Chúa. Qua nhịp điệu, ngôn ngữ và nghi thức của mình, phụng vụ tạo thành một phần của chính hành trình hoán cải và chuẩn bị cho các bí tích.
Vai trò của những người đào tạo là vô cùng quan trọng trong việc thực hiện sứ mệnh này. Như truyền thống lâu đời của Giáo hội dạy chúng ta, các cha đỡ đầu, những người đại diện cho cộng đồng, phải được chuẩn bị và đào tạo đặc biệt để làm lễ rửa tội cho những người mới được rửa tội. Là một phần của quá trình đào tạo này, tôi muốn khuyến khích việc hiểu thấu đáo Nghi thức Gia nhập Kitô giáo dành cho người lớn. Đồng thời, các nhân viên mục vụ phải được đào tạo không chỉ về Kinh Thánh, thần học, phụng vụ và đời sống tâm linh, mà còn về phẩm chất con người, để họ biết cách hướng dẫn và đồng hành cùng những người có hành trình cuộc sống phức tạp và không mấy suôn sẻ. Như chúng ta vừa nghe cách đây ít phút, một số người đến với khát vọng tâm linh đơn giản, tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và sự thu hút đối với Tin Mừng, trong khi những người khác đến với gánh nặng của những trải nghiệm đau buồn, hoàn cảnh cô đơn và những khó khăn sâu sắc. Chính ở đây, phong cách gần gũi, lòng thương xót và sự dịu dàng mới có ý nghĩa trọn vẹn, và chúng ta phải tìm ra sự cân bằng khôn ngoan để đón nhận và lắng nghe họ, đồng thời khuyến khích họ đối mặt với những đòi hỏi đầy thách thức của đức tin. Đây là một hành trình mà chúng ta phải tôn trọng nhịp độ của mỗi người, tiến bước từng bước một cách cẩn thận với sự đồng hành huynh đệ. Điều đó có nghĩa là áp dụng phong cách "cùng nhau bước đi". Trên con đường đức tin Kitô giáo, chúng ta làm giàu cho nhau, cùng nhau trưởng thành với tư cách là linh mục và giáo dân, cha mẹ đỡ đầu và người dự tòng, các nhà lãnh đạo mục vụ và những người mới được rửa tội.
Tôi nhớ đến câu chuyện của Thánh Augustinô, một trong những người dự tòng nổi tiếng nhất trong lịch sử. Ngài được Thánh Ambrôsiô giới thiệu về đức tin, và đức tin của ngài chỉ là một hạt giống nhỏ bé khi được rửa tội. Nhưng hạt giống ấy đã lớn lên và sinh sôi nảy nở, trở thành một cây cổ thụ to lớn đến nỗi, ngay cả ngày nay, chúng ta vẫn có thể tìm được nơi nương náu dưới tán cây của nó.
Nhìn các bạn, những người dự tòng và những người mới được rửa tội thân mến, tôi không chỉ thấy những hoa trái của Chúa Thánh Thần, Đấng đã dẫn dắt các bạn trên con đường này, mà còn thấy cả lời hứa về sự sinh sôi nảy nở cho Giáo hội tại Pháp. Đến lượt mình, hãy trở thành những nhà truyền giáo Tin Mừng trong xã hội này!
Nguyện xin những chứng nhân vĩ đại của vùng đất thân yêu này nâng đỡ bạn trên hành trình của mình. Tôi nghĩ đến Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, người dạy chúng ta, qua "con đường nhỏ" của bà, rằng lòng tin mở ra cánh cửa ân sủng, và Thánh Martinô thành Tours, một hình tượng tiêu biểu của sự sẻ chia và lòng bác ái huynh đệ. Cùng với nhiều vị thánh khác đến từ vùng đất nước Pháp này, các ngài nhắc nhở chúng ta rằng sứ mệnh ngày nay được xây dựng, trên hết, bằng cách giữ vững lòng trung thành với sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống hằng ngày.
Bằng cách chào đón lẫn nhau, nguyện xin anh chị em cùng nhau trở thành những chứng nhân sống động của Giáo hội tại Pháp, có khả năng truyền bá đức tin. Cầu xin sự che chở từ mẫu của Đức Mẹ Maria, vị Thánh bổn mạng chính của nước Pháp, và sự chuyển cầu của Thánh Genevieve và Thánh Denis, những vị bảo hộ thành phố này, tôi trân trọng ban phước lành cho tất cả anh chị em.
Cảm ơn anh chị em, và nguyện Chúa chúc phúc cho hành trình của anh chị em!
Source:Dicastery for Communication - Libreria Editrice Vaticana
Ngày thứ hai trong chuyến tông du Pháp của Đức Thánh Cha bắt đầu vào lúc 9 giờ sáng với chuyến thăm trung tâm hỗ trợ và hòa nhập xã hội Maison Bakhita. Sau đó, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với các dự tòng và tân tòng tại Học Viện Công Giáo Paris.
Buổi chiều, lúc 15 giờ, Đức Thánh Cha đã dâng thánh lễ tại quảng trường Concorde.
Sau thánh lễ, vào lúc 17:45, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đến phi trường Orly để bay đến phi trường Tarbes-Lourdes-Pyrénées cách đó 640km theo đường chim bay. Nếu đi đường bộ có thể mất đến 842km. Phi trường Tarbes-Lourdes-Pyrénées cách đền thánh Đức Mẹ Lộ Đức 13km.
Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đến nơi lúc 19:05. Ngay sau khi đến nơi, Đức Thánh Cha đã cầu nguyện tại hang động hiện ra Massabielle.
Ngài cầu nguyện như sau:
Chúng con cầu nguyện với Mẹ, Mẹ của chúng con, cho nước Pháp, vì Mẹ là Đấng bảo hộ và đã che chở cho nước Pháp suốt bao thế kỷ qua. Xin ban cho nhân dân nước Pháp ơn huệ được hòa thuận huynh đệ, để họ có thể xây dựng một xã hội hài hòa, xóa bỏ mọi bạo lực và thù hận, cho phép mọi người được làm việc, lập gia đình và sống trọn vẹn cuộc sống trong an bình và thanh thản. Xin cho những người thiệt thòi và nghèo khổ nhất luôn được nâng đỡ. Xin ban cho nước Pháp những nhà lãnh đạo khôn ngoan và hào phóng, sẵn sàng hy sinh, có khả năng ứng phó với thách thức và nhiệt thành phục vụ lợi ích chung. Xin cho họ giữ gìn nước Pháp trong hòa bình giữa các quốc gia, và xin cho tiếng nói của nước Pháp được lắng nghe trong việc thúc đẩy bảo vệ các quyền con người cơ bản và hòa bình trên thế giới, bác bỏ tư tưởng chiến tranh một lần và mãi mãi.
Lạy Đức Mẹ Maria, chúng con dâng lên Mẹ dân Chúa đang lữ hành tại đất nước này, nơi Mẹ đã để lại dấu ấn sâu sắc bằng sự hiện diện của Mẹ. Xin Mẹ đổi mới đức tin và lòng sốt sắng của các gia đình Kitô giáo, những người rất thân yêu với trái tim Mẹ, để họ có thể sống mỗi ngày trong sự hiện diện của Chúa Giêsu, trong ân sủng của Người, và với sự nâng đỡ của Người trong những khó khăn họ gặp phải. Xin cho họ mở lòng đón nhận sự sống một cách quảng đại, và xin Chúa khơi dậy ơn gọi trong họ, đặc biệt là ơn gọi linh mục và đời sống tu trì. Xin cho Giáo Hội của Mẹ tại Pháp, đặc biệt là cho những người trẻ tuổi nhất trong số họ, thấy được con đường rạng rỡ của Tin Mừng, để họ có thể xây dựng một xã hội công chính và bác ái mà họ khao khát.
Cuối cùng, Lạy Mẹ đầy tình yêu thương, chúng con phó thác cho Mẹ những ý nguyện cá nhân khẩn thiết nhất của chúng con, đặc biệt là những ý nguyện dành cho người bệnh và người đau khổ, cũng như tất cả những người đồng hành cùng họ, những người đã cùng nhau tìm kiếm sức mạnh và sự chữa lành tại suối Massabielle. Chúng con phó thác cho Mẹ những người thân yêu còn sống và đã khuất của chúng con. Chúng con cầu nguyện xin Mẹ loại bỏ mọi trở ngại vẫn còn ngăn cách chúng con với Con yêu dấu của Mẹ và xin cho Người ngự trị trong mọi trái tim.
Source:Dicastery for Communication - Libreria Editrice Vaticana
Theo Hannah Brockhaus của hãng tin EWTN News, sau Thánh lễ tại Quảng trường La Concorde ở Paris, Đức Giáo Hoàng Leo bắt đầu chặng thứ hai trong chuyến đi của ngài, bay đến Lộ Đức – nơi nằm dưới chân dãy núi Pyrénées ở tây nam nước Pháp. Tại đây, ngài sẽ dành một ngày rưỡi để cầu nguyện tại thánh địa nơi Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra với Thánh Bernadette.
Thánh địa Đức Mẹ Lộ Đức, một trong những địa điểm hành hương Công Giáo thu hút nhiều khách tham quan nhất thế giới, đón hơn 3 triệu lượt người mỗi năm — nhiều người trong số đó tìm kiếm phép lạ chữa lành thể xác.
Khuôn viên rộng 136 mẫu Anh (khoảng 55 héc-ta) này bao gồm Hang đá Massabielle, nơi Thánh Bernadette Soubirous khi còn trẻ đã chứng kiến 18 lần Đức Trinh Nữ Maria hiện ra, bắt đầu từ ngày 11 tháng 2 năm 1858. Ngày nay, những người hành hương đến thánh địa thường uống và tắm bằng dòng nước chữa lành mà Đức Mẹ đã chỉ cho Bernadette.
Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã đến thánh địa Lộ Đức vào tối thứ Bảy; nơi đây chật kín những người hành hương reo hò, đến từ Pháp và khắp nơi trên thế giới.
Điểm dừng chân đầu tiên của ngài là hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra để tham dự một buổi cầu nguyện ngắn, bắt đầu bằng giây phút cầu nguyện riêng tư. Đám đông đang ồn ào và phấn khích bỗng trở nên hoàn toàn im lặng khi Đức Giáo Hoàng Leo quỳ gối cầu nguyện trong gần bốn phút.

Đức Leo chạm tay vào vách đá trong hang và uống một ly nước suối tại thánh địa. Ngài đặt một ngọn nến đang cháy trước tượng Đức Trinh Nữ Maria.
"Chúng con cầu xin Mẹ, lạy Mẹ của chúng con, cho nước Pháp, vì Mẹ là Đấng bảo trợ và đã che chở đất nước này suốt bao thế kỷ qua," Đức Giáo Hoàng lớn tiếng cầu nguyện.
"Xin cho những người nghèo khổ và thiệt thòi nhất luôn được nâng đỡ," ngài nói. "Xin ban cho nước Pháp những nhà lãnh đạo khôn ngoan và quảng đại, sẵn sàng hy sinh, có khả năng ứng phó với các thách thức và nhiệt thành phục vụ lợi ích chung. Xin cho họ giữ gìn hòa bình cho nước Pháp trong cộng đồng các quốc gia, và làm cho tiếng nói của đất nước được lắng nghe trong việc thúc đẩy bảo vệ các quyền con người cơ bản cũng như hòa bình thế giới, đồng thời dứt khoát khước từ tư duy chiến tranh." “Lạy Mẹ đầy yêu thương, chúng con xin phó thác nơi Mẹ những ý nguyện cá nhân khẩn thiết nhất, đặc biệt là của những người đau ốm và khổ đau, cũng như tất cả những ai đang đồng hành cùng họ—những người đã quy tụ về đây để tìm kiếm sức mạnh và sự chữa lành nơi suối nguồn Massabielle,” Đức Leo nói.

Sau đó, ngài đã dâng tặng một đóa Hồng Vàng lên tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội — một trong những tước hiệu danh dự cao quý nhất mà một vị Giáo hoàng có thể ban tặng cho một bức tượng hoặc đền thánh kính Đức Mẹ.
Lời Cầu Nguyện Của Đức Leo XIV Tại Hang đá Hiện ra ở Massabielle (Lộ Đức), Thứ Bảy, ngày 26 tháng 9 năm 2026
Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, tại nơi thánh thiêng này, Mẹ đã trò chuyện đầy dịu dàng và trìu mến với Thánh Bernadette—một người con gái khiêm hạ của đất nước Pháp—để truyền tải đến thế giới sứ điệp rạng ngời về sự cầu nguyện, hoán cải và niềm hy vọng. Chúng con tin tưởng hướng về Mẹ, vì Mẹ là người Mẹ mà Chúa Giêsu đã ban tặng, và Mẹ luôn quan tâm đến mọi nhu cầu của chúng con.
Lạy Mẹ, chúng con cầu xin Mẹ cho nước Pháp, vì Mẹ là Đấng Bảo trợ và đã che chở đất nước này suốt bao thế kỷ qua. Xin ban cho người dân nơi đây ân huệ của tình huynh đệ hòa hợp, để họ có thể xây dựng một xã hội hài hòa, loại bỏ mọi bạo lực và hận thù, đồng thời tạo điều kiện cho mọi người được làm việc, lập gia đình và sống trọn vẹn cuộc đời trong sự bình an và thanh thản. Xin cho những người nghèo khổ và thiệt thòi nhất luôn được nâng đỡ. Xin ban cho nước Pháp những nhà lãnh đạo khôn ngoan và quảng đại, sẵn sàng hy sinh, có khả năng ứng phó với các thách thức và nhiệt thành phục vụ lợi ích chung. Xin cho họ giữ gìn hòa bình cho nước Pháp trong cộng đồng các quốc gia, và làm cho tiếng nói của đất nước được lắng nghe trong việc bảo vệ các quyền con người cơ bản cũng như hòa bình thế giới, đồng thời dứt khoát khước từ tư duy chiến tranh.
Lạy Đức Trinh Nữ Maria, chúng con xin dâng lên Mẹ dân Chúa đang trên hành trình đức tin tại đất nước này—nơi đã in đậm dấu ấn sự hiện diện của Mẹ. Xin khơi dậy đức tin và lòng nhiệt thành nơi các gia đình Kitô hữu – những người vô cùng thân thương đối với Trái Tim Mẹ – để họ có thể sống từng ngày trong sự hiện diện của Chúa Giêsu, trong ân sủng và sự nâng đỡ của Người giữa những gian nan thử thách. Xin cho họ biết quảng đại đón nhận sự sống, và xin Thiên Chúa khơi dậy những ơn gọi nơi họ, đặc biệt là ơn gọi linh mục và đời sống tu trì. Xin cho Giáo hội của Mẹ tại Pháp biết chỉ dẫn – nhất là cho giới trẻ – con đường Tin Mừng đầy ánh sáng, để họ có thể xây dựng một xã hội công bằng và huynh đệ mà họ hằng mong ước.
Sau cùng, lạy Mẹ đầy lòng yêu mến, chúng con xin phó thác nơi Mẹ những ý nguyện cá nhân khẩn thiết nhất, đặc biệt là của những người đau yếu, khổ đau cùng những ai đang đồng hành với họ – những người đã quy tụ về đây để tìm kiếm sức mạnh và sự chữa lành nơi dòng suối Massabielle. Chúng con cũng xin phó thác những người thân yêu, cả người còn sống lẫn người đã khuất, cho Mẹ. Chúng con cầu xin Mẹ cất bỏ mọi trở ngại còn ngăn cách chúng con với Con yêu dấu của Mẹ, để Người có thể ngự trị trong mọi tâm hồn.

Trong dòng người hành hương đông đúc tại Lộ Đức cuối tuần này, sẽ có một phụ nữ 27 tuổi đi cùng nhóm nữ tu dòng Xitô (Cistercian), với hy vọng chuyến đi sẽ củng cố ơn gọi sống đời chiêm niệm của mình.
Solène Tadié của tạp chí National Catholic Register, ngày 26 tháng 9 năm 2026, cho hay: Sự nhiệt thành đặc biệt đã bao trùm chuyến thăm Paris của Đức Giáo Hoàng — chặng đầu tiên trong chuyến tông du nước Pháp từ ngày 25 đến 28 tháng 9 — hứa hẹn sẽ tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ tại Lộ Đức. Dự kiến, hàng chục ngàn tín hữu sẽ quy tụ quanh hang đá Massabielle nổi tiếng khi Đức Giáo Hoàng đến cầu nguyện tại đây vào tối ngày 26 tháng 9, trước khi cử hành Thánh lễ ngoài trời trên bãi cỏ của đền thánh và cuộc rước nến truyền thống vào ngày hôm sau.
Trong số đó có một phụ nữ 27 tuổi tham gia cùng nhóm nữ tu dòng Xitô; cô hy vọng chuyến đi này sẽ khẳng định ơn gọi sống đời chiêm niệm mà cô đã cảm nhận được kể từ khi trở lại với đức tin trong đại dịch COVID-19.
Không phải ngẫu nhiên mà Yohanna — một phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khiếm thính — lại chọn Lộ Đức để đánh dấu khởi đầu mới này sau nhiều năm làm tình nguyện viên hỗ trợ người khuyết tật. Chính tại Tu viện Sainte-Marie de Boulaur — cách nơi này vài chục dặm và là một trong những trung tâm đổi mới đời sống đan tu tại Pháp — ơn gọi của cô đã dần hình thành. Và để gia nhập cộng đồng này với tư cách là một người tìm hiểu đời sống tu trì (aspirant), cô đã từ bỏ công việc tại Paris, vừa kịp lúc để không bỏ lỡ chuyến thăm của Đức Thánh Cha.
Câu chuyện của cô phản ánh một xu hướng rộng lớn hơn trong thế hệ trẻ tại Pháp, nơi số lượng người trưởng thành lãnh nhận bí tích Rửa tội đã đạt mức kỷ lục trong năm nay, với sự tham gia đông đảo của giới trẻ.

‘Tôi muốn dâng hiến tất cả cho Thiên Chúa’
Câu chuyện của Yohanna là một minh chứng đặc biệt về ân sủng của Thiên Chúa. Được đưa vào hệ thống chăm nuôi trẻ mồ côi (foster care) từ năm 4 tuổi, cô lớn lên mà không hề biết đến các thực hành tôn giáo, với một cuộc đời sớm nhuốm màu tang chế và nỗi cô độc.
Cũng như bao người cùng thế hệ, ban đầu cô tìm kiếm câu trả lời nơi các phong trào tâm linh gần gũi với trào lưu New Age đang nở rộ trong giới trẻ Pháp — một hành trình khám phá đã để lại dấu ấn, theo đúng nghĩa đen, qua những hình xăm mà cô vẫn còn mang trên mình. Giờ đây, khi nhắc lại quãng thời gian bôn ba ấy, cô mỉm cười thay vì hối tiếc, bởi cô tin rằng chính nhờ chúng mà cuối cùng cô đã tìm được đường trở về với Thiên Chúa.
Con đường ấy mở ra vào mùa xuân năm 2020, tại một khu ký túc xá đại học vắng lặng do đợt phong tỏa đầu tiên vì đại dịch COVID-19.
“Tất cả sinh viên đều đã rời đi, và cảm giác lúc đó tựa như ngày tận thế vậy,” cô nhớ lại. “Tôi chẳng có gì cả; cũng chẳng có ai bên cạnh. Và rồi bất chợt, ý nghĩ về Thiên Chúa xâm chiếm tâm trí tôi. Tôi khao khát được biết nhiều hơn về Người.”
Cô bắt đầu học cách cầu nguyện qua các nguồn tài liệu trực tuyến và nhanh chóng biến việc cầu nguyện thành một phần trong cuộc sống thường ngày. Sau khi lệnh phong tỏa được dỡ bỏ, cô có thói quen bước vào bất cứ nhà thờ nào bắt gặp trên đường để cầu nguyện một mình, nhưng lại tránh tham dự Thánh lễ vì chưa hiểu rõ các nghi thức. Bước ngoặt đến vào năm 2023, khi cô chuyển đến Paris và bước vào một nhà thờ vào một ngày trong tuần, đúng lúc Thánh lễ vừa bắt đầu.
“Tôi thậm chí còn không biết đến phần Truyền phép, dù đó là tâm điểm của Thánh lễ Công Giáo. Thế nhưng, tôi đã dành trọn buổi lễ để rơi lệ ở cuối nhà thờ,” cô hồi tưởng. “Và khi kết thúc, tôi thưa với Chúa: ‘Con hiểu rồi. Giờ đây con muốn dâng hiến tất cả cho Ngài, thực sự là tất cả, cả cuộc đời con. Xin hãy làm bất cứ điều gì Ngài muốn nơi con.’ Và kể từ khoảnh khắc đó, mọi thứ đã thay đổi.”
Sau khi ổn định cuộc sống tại một giáo xứ thuộc Quận 10 của Paris, cô đã tham gia khóa giáo lý và lãnh nhận Bí tích Thêm Sức. Vào dịp Hành hương Quốc gia diễn ra mỗi tháng Tám, cô làm thông dịch viên cho các khách hành hương khiếm thính và khiếm thị — một trải nghiệm đã thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận của cô về thánh địa này. Cô chia sẻ: “Phép lạ thực sự tại Lộ Đức có lẽ đơn giản chỉ là việc tất cả chúng ta được quy tụ lại bên nhau.”
Ngay sau khi trở lại đạo, cô đã cảm nhận được tiếng gọi dấn thân vào đời sống thánh hiến, nhưng cô quyết tâm không vội vàng đưa ra quyết định. Cô từng được cảnh báo rằng những người mới theo đạo “có thể rất nhiệt thành và ngay lập tức nghĩ đến đời sống thánh hiến, nhưng rồi lại nhanh chóng từ bỏ.”

Một tiếng gọi bất ngờ
Với sự hướng dẫn của linh mục chánh xứ và ban mục vụ ơn gọi thuộc Tổng Giáo phận Paris, cô bắt đầu tìm hiểu về các dòng tu hoạt động tông đồ; đời sống chiêm niệm (sống trong tu viện kín) là điều cuối cùng mà cô nghĩ tới. Cô chia sẻ: “Với xuất thân của mình, tôi từng có những định kiến rất lớn về đời sống đan tu. Tôi cứ tưởng tượng đủ thứ chuyện cổ hủ, lạc hậu.”
Giữa một năm học đại học đầy khó khăn, vào cuối tháng 12 năm 2024, lần đầu tiên cô đến tu viện Xitô (Cistercian) tại Boulaur, đơn giản vì cô “vẫn luôn nghe nói rằng các tu viện là một nơi lý tưởng để nghỉ ngơi và hít thở không khí trong lành.” Kể từ đó, cô luôn quay lại đây vào mỗi kỳ nghỉ. Khi các nữ tu ngỏ ý mời cô vào sống trong khu vực nội vi [cloister], cô đã nhận lời với suy nghĩ rằng điều đó chỉ càng củng cố thêm những định kiến của mình mà thôi.
“Tôi từng nghĩ rằng việc bước vào khu nội vi lần đầu tiên sẽ giúp tôi hiểu rõ hơn rằng đây hoàn toàn không phải là con đường dành cho mình, và mọi chuyện sẽ được định đoạt từ đó,” cô chia sẻ. “Thế nhưng, khi thực sự trải nghiệm cuộc sống trong khu nội vi, tôi thấy thật tuyệt vời. Tôi cảm thấy mình hoàn toàn thuộc về nơi này.”
“Chúa thấu hiểu chúng ta hơn chính bản thân chúng ta,” cô nói tiếp. “Đôi khi Người dẫn dắt ta đến những điều thoạt nghe có vẻ phi lý, nhưng rồi sau đó ta mới nhận ra chúng lại hoàn toàn phù hợp với mình.”
Tại sự kiện Năm Thánh Giới trẻ năm 2025 ở Rome, lần đầu tiên cô được hòa mình vào Giáo hội hoàn vũ giữa hàng ngàn người trẻ “vô cùng khác biệt, nhưng tất cả đều quy tụ vì Chúa.” Trải nghiệm đó giờ đây định hình những kỳ vọng của cô về chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng tới nước Pháp – nơi đang chứng kiến số lượng người trưởng thành lãnh nhận bí tích Rửa tội cao kỷ lục.
Khi nói về chuyến thăm sắp tới của Đức Giáo Hoàng tới Lộ Đức – sự kiện mà Đức Giám Mục Jean-Marc Micas của giáo phận Tarbes và Lộ Đức mô tả là chuyến đi của “một người hành hương giản dị” – cô chia sẻ: “Đức Giáo Hoàng hiểu rõ tình hình đất nước chúng tôi, và tôi tin chắc rằng những lời của ngài sẽ tiếp thêm sức mạnh cho hành trình của chúng tôi.” Chương trình chính thức đã bao gồm một lời cầu nguyện đặc biệt dành cho nước Pháp, xin Đức Trinh Nữ Maria ban ơn canh tân các gia đình Kitô giáo và làm nảy nở nhiều ơn gọi, “đặc biệt là ơn gọi linh mục và tu sĩ.”
Ban đầu, ơn gọi của Yohanna khiến cha mẹ nuôi của cô lo lắng. Tuy nhiên, trước sự kiên trì và niềm vui của cô, họ đã đồng ý đích thân đưa cô đến Boulaur; chuyến đi này cũng mang lại cho họ cơ hội gặp gỡ các nữ tu và khám phá cuộc sống mà cô đang chuẩn bị dấn thân vào. Từ đó, họ sẽ cùng nhau đến Lộ Đức để đón chào chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng.
“Đó sẽ là dịp để họ gặp gỡ các nữ tu và tận mắt chứng kiến cuộc sống tu viện thực sự là như thế nào, chứ không chỉ qua những hình dung mơ hồ,” cô nói. “Chỉ riêng điều đó thôi cũng đã là một bước tiến lớn rồi.” Giai đoạn dự tu của cô – bước khởi đầu trên hành trình dài dẫn đến thời kỳ tập viện – sẽ kéo dài đến tháng Sáu. Cô chia sẻ rằng lòng mình đang “hoàn toàn rộng mở” đón chờ những gì chặng đường này sẽ hé mở. “Nếu Thiên Chúa gọi con đến đó, con sẽ hạnh phúc biết bao khi dâng lên Người lời ‘Xin vâng’ trọn vẹn với cả trái tim mình.”
Chương 13: CUỘC LY GIÁO PHƯƠNG ĐÔNG
Từ thời Công đồng Can-xê-đoan (451) khi Rô-ma bác bỏ Điều khoản 28, điều khoản trao quyền tài phán rộng lớn cho Cons-tan-ti-nốp, mối quan hệ giữa hai tòa đã trải qua những giai đoạn căng thẳng cao độ. Nhiều thế lực khác nhau—chính trị, xã hội, văn hóa và tôn giáo—đã kéo hai tòa ra xa nhau. Thậm chí, một sự rạn nứt hoàn toàn đã xảy ra khi Thượng phụ chấp nhận Sắc chỉ của Hoàng đế Zeno (Henoticon, năm 482), điều khoản dường như phủ nhận định nghĩa của Can-xê-đoan về Chúa Kitô; mối quan hệ chỉ được khôi phục khi Cons-tan-ti-nốp từ bỏ lập trường của mình. Cuộc tranh luận Nhất chí (Monothelete) sau đó—về vấn đề sự thống nhất ý chí của Chúa Kitô—đã kết thúc với quan điểm của Rô-ma thắng thế Cons-tan-ti-nốp, nhưng Giáo hoàng không hoàn toàn thoát khỏi vụ việc mà không bị tổn hại: Đức Giáo Hoàng Hô-nô-ri-ô đã bị vạ tuyệt thông tại Công đồng Cons-tan-ti-nốp lần thứ ba (680) với tư cách là kẻ dị giáo cùng với bốn thượng phụ Byzantine. Sau đó, việc người Hồi giáo chiếm giữ ba giáo khu A-léc-xan-ri-a, An-ti-ô-ki-a và Giê-ru-sa-lem và sự cô lập của chúng đã khiến thượng phụ Cons-tan-ti-nốp trở thành người đứng đầu không thể tranh cãi của Kitô giáo phương Đông.
Nỗ lực của các Hoàng đế phương Đông nhằm thực thi chính sách bài trừ hình tượng (bãi bỏ tất cả các hình ảnh tôn giáo) vào thế kỷ thứ tám lại gây ra xung đột với các Giáo hoàng. Hơn nữa, việc Hoàng đế từ chối gửi viện trợ quân sự vào năm 753 sau một lời kêu gọi khẩn cấp đã khiến Đức Giáo Hoàng Stê-pha-nô chuyển sang cầu viện người Frank, mở ra chính sách dẫn đến việc Charlemagne lên ngôi hoàng đế. Tuy nhiên, một cuộc ly giáo khác không xảy ra cho đến khi Thượng phụ Phô-si-ô (Photius) (mất năm 895) xuất hiện. Nó chỉ là tạm thời. Nhưng rắc rối lại bùng phát vào thời của Thượng phụ Xê-ru-la-ri-ô (Cerularius) (mất năm 1058), và lần này cuộc ly giáo đã vĩnh viễn chia cắt Đông và Tây.
Cuộc ly giáo Phô-si-ô có thể bắt nguồn từ năm 858, khi Thượng phụ Cons-tan-ti-nốp, I-nha-xi-ô (Ignatius), bị Hoàng đế Michael III phế truất và thay thế bởi Phô-si-ô, điều này khiến Đức Giáo Hoàng Ni-cô-la I (mất năm 867) vô cùng bất bình. Mặc dù gặp khó khăn với I-nha-xi-ô, Đức Ni-cô-la vẫn kinh hoàng trước những bất thường rõ ràng trong việc phế truất ngài. Đức Ni-cô-la đã cử sứ giả đến Cons-tan-ti-nốp, những vị này đã quyết định ủng hộ Phô-si-ô. Nhưng khi Phô-si-ô tuyên bố không chấp nhận quyền tối cao của Giáo hoàng, Giáo hoàng lại từ chối công nhận ông là Thượng phụ. Vấn đề càng trở nên trầm trọng hơn bởi tình hình ở vùng Balkan, nơi Giám mục For-mô-sô (Formosus), một nhà truyền giáo Rô-ma, xung đột với các sứ giả Byzantine vì những lời chỉ trích của ngài đối với các truyền thống Byzantine liên quan đến hôn nhân của giáo sĩ, việc ăn chay Mùa Chay và việc phương Tây thêm công thức Filioque vào Kinh Tin Kính. Phô-si-ô đã cầm bút tố cáo những hành vi sai trái của người Rô-ma với các Thượng phụ phương Đông khác.
Vào thời điểm này, Basil người Macedonia đã tiếm quyền vào năm 867, phế truất Phô-si-ô và phục chức cho I-nha-xi-ô. Một vị Giáo hoàng mới, Đức Ha-dri-a-nô (Hadrian), đã tìm cách hòa giải, cử các đại biểu tham dự một công đồng tại Cons-tan-ti-nốp vào năm 869. Nhưng bầu không khí tại công đồng không thuận lợi cho việc khôi phục mối quan hệ tốt đẹp. Các thành viên đã từ chối tán thành tuyên bố do các sứ thần đưa ra, tuyên bố rằng đức tin được Tòa Thánh giữ gìn bất khả xâm phạm, và họ đã giao Giáo hội Bulgaria cho Cons-tan-ti-nốp bất chấp yêu sách của Rô-ma đối với vùng đất này.
Rồi, I-nha-xi-ô qua đời và Basil đã bổ nhiệm lại Phô-si-ô, người lúc này tỏ ra rất muốn hàn gắn mối quan hệ với Rô-ma. Một công đồng khác được tổ chức tại Cons-tan-ti-nốp vào năm 879, đã hủy bỏ các đạo luật năm 869 và công nhận tính chính thống tuyệt đối của Rô-ma. Ngay cả Bulgaria cũng được trả lại cho Rô-ma, mặc dù nhà vua Boris của nước này đã từ chối chấp nhận điều đó. Vì vậy, sự kiện kết thúc bằng một sự hòa giải hoàn toàn giữa tòa thượng phụ và giáo hoàng. Tuy nhiên, những người bạn của I-nha-xi-ô đã vội vã đến Rô-ma và lan truyền những tin đồn thất thiệt, dẫn đến một truyền thuyết về việc Phô-si-ô bị vạ tuyệt thông lần nữa.
Thế kỷ thứ mười là thời kỳ tương đối hòa bình giữa hai tòa—một nền hòa bình được thúc đẩy bởi mối quan hệ chính trị thân thiện giữa các Giáo hoàng cai trị Rô-ma từ năm 904 đến năm 962 với người Byzantine, những người một lần nữa đã thiết lập quyền kiểm soát của họ đối với miền nam nước Ý. Nhưng những vấn đề cũ vẫn chưa được giải quyết; chúng chỉ đơn giản là ngủ yên. Sự phục hưng của Đế quốc Tây Rô-ma một lần nữa đã khuấy động chúng lên. Khi Otto người Saxon vào năm 962 khôi phục Đế quốc, ông đã đảm bảo vị thế ưu việt của ảnh hưởng Đức đối với Rô-ma trong thế kỷ tiếp theo và do đó, các nguyên tắc cải cách bắt nguồn từ phương Bắc. Điều này cũng có nghĩa là việc bổ sung vĩnh viễn công thức Filioque vào Kinh Tin Kính. Thuật ngữ La-tinh này, được thêm vào Kinh Tin Kính ban đầu, thể hiện ý tưởng cho rằng Chúa Thánh Thần xuất phát từ cả Chúa Cha lẫn Chúa Con. Cách dùng này lần đầu tiên xuất hiện ở Tây Ban Nha, có lẽ tại Công đồng Toledo lần thứ ba (589), và lan truyền đến triều đình Carolingian, từ đó được các giáo sĩ người Đức mang đến Rô-ma. Sau một thời gian do dự, cuối cùng nó được hát ở Rô-ma vào khoảng năm 1000 và được chấp nhận như một phần của giáo lý chính thức.
Việc chấp nhận nó đã gây ra sự phẫn nộ tột độ đối với phương Đông. Đối với người phương Tây, nó chỉ đơn thuần là sự tinh chỉnh một ý tưởng đã có trong Kinh Tin Kính. Nhưng đối với người phương Đông, những người có lịch sử khiến họ nhạy cảm hơn với thuật ngữ Ba Ngôi, việc bổ sung thuật ngữ đó đã phá vỡ sự cân bằng tinh tế về các thuộc tính trong Ba Ngôi. Sự hiểu biết của họ về Ba Ngôi nhấn mạnh bản chất hiện diện khắp mọi nơi và bao trùm của Chúa Thánh Thần và chỉ cho phép họ nói rằng Chúa Thánh Thần ngự xuống qua Chúa Con, chứ không phải từ Chúa Con.
Tuy nhiên, liên quan đến cuộc tranh luận còn là một vấn đề cơ bản hơn: bản chất của thẩm quyền giáo hội và giáo hoàng. Thái độ của người phương Đông đối với thẩm quyền và quyền tối cao của giáo hoàng là không rõ ràng và mơ hồ. Đối với họ, các công đồng đại kết là thẩm quyền giáo lý được soi dẫn duy nhất; việc bổ sung vào một tín điều do một công đồng ban hành là đặt câu hỏi về thẩm quyền của công đồng đó. Chỉ có một công đồng đại kết khác mới có thể mở rộng hoặc giải thích định nghĩa của một công đồng trước đó. Một thuật ngữ mà họ có thể chấp nhận trên cơ sở suy đoán thuần túy lại có nghĩa là sa vào lạc giáo nếu nó được các Giáo hội phương Tây đơn phương thêm vào Tín điều. Và tuyên bố của một Giáo hoàng cũng không thể thay đổi điều này.
Nhưng điều này vẫn chưa có nghĩa là một sự ly giáo thực sự. Trên thực tế, các dân tộc thuộc thế giới Ki-tô giáo đã có mối liên hệ mật thiết với nhau hơn vào đầu thế kỷ thứ XI so với bất cứ thời kỳ nào kể từ khi người man rợ đến. Nhiều người hành hương đổ về phía Đông đến Giê-ru-sa-lem, trong khi người Hồi giáo thể hiện thái độ thân thiện. Và khi giao tiếp được cải thiện, đã có một số nỗ lực nhằm xác định rõ hơn mối quan hệ giữa hai tòa. Vào năm 1024, Thượng phụ Eustathius, với sự ủng hộ của Hoàng đế Basil II, đã đề xuất một công thức cho phép Rô-ma giữ quyền tối cao nhưng Cons-tan-ti-nốp vẫn tự cung tự cấp và tự chủ. Ban đầu, dường như Giáo hoàng đã đồng ý, nhưng các đan sĩ dòng Cluny phản đối việc chia nhỏ lãnh địa duy nhất, không thể chia cắt của Thánh Phêrô, và vì vậy Giáo hoàng đã rút lại sự đồng ý của mình. Vì vậy, Giáo hoàng và Thượng phụ vẫn xa cách nhau. Các sự kiện chính trị đã sớm làm trầm trọng thêm vấn đề.
Sự trở lại nắm quyền của người Byzantine ở miền nam nước Ý đã gặp phải sự kháng cự đáng kể và các cuộc nổi dậy định kỳ. Một trong những sự kiện đó diễn ra vào năm 1020 khi một thủ lĩnh người Apulia tên là Melo nổi dậy chống lại những kẻ áp bức người Hy Lạp và tìm kiếm sự giúp đỡ từ một số hiệp sĩ Norman đang hành hương trên đường đi. Cuộc nổi dậy thất bại, nhưng người Norman vẫn ở lại và dưới sự lãnh đạo của gia tộc Hauteville, họ bắt đầu cuộc chinh phạt có hệ thống miền Nam. Ban đầu, các Giáo hoàng không mấy tiếc nuối trước những chiến thắng của người Norman trước người Byzantine, bởi vì mặc dù những kẻ chinh phục này là những kẻ cướp bóc, họ vẫn là những người Công Giáo La-tinh. Nhưng khi người Norman bắt đầu đe dọa biên giới của mình, Đức Giáo Hoàng Leo (mất năm 1054) quyết định đã đến lúc phải liên minh với Hoàng đế Byzantine để trấn áp họ. Tuy nhiên, một vấn đề sớm nảy sinh liên quan đến các vùng lãnh thổ mà người Norman đã đưa vào sự thống trị của Công Giáo La-tinh. Giáo hoàng không có ý định cho phép chúng trở lại sự cai trị của Byzantine cũng như không cho phép khôi phục các nghi lễ giáo hội của người Hy Lạp. Toàn bộ xu hướng ở Rô-ma vào thời điểm này của ngôi giáo hoàng cải cách là hướng tới sự tuân thủ và kỷ luật nghiêm ngặt.
Vào thời điểm đó, Thượng phụ Cons-tan-ti-nốp là Mi-ca-e Xê-ru-la-ri-ô, người lên tòa năm 1043. Ông là một cựu công chức với tất cả những hạn chế mà vị trí đó kéo theo, thiếu đi sự tinh tế, dí dỏm và kiến thức thần học như Phô-si-ô, kiêu ngạo, tham vọng và vô cùng được lòng dân. Ông cũng có cái nhìn khá thấp về Giáo hoàng, không nhận thức được những thay đổi do các cuộc cải cách gần đây mang lại ở Rô-ma. Lấy cảm hứng từ việc Giáo hoàng khăng khăng tuân thủ các nghi thức La-tinh ở vùng lãnh thổ do người Norman chiếm đóng ở Ý, ông đã ra lệnh cho các nhà thờ La-tinh ở Cons-tan-ti-nốp áp dụng các nghi thức Hy Lạp. Khi họ từ chối, ông đã đóng cửa các nhà thờ này và ra lệnh cho Leo, tổng giám mục và người đứng đầu Giáo hội Bulgaria, viết thư cho giám mục của Trani ở Apulia, miền nam nước Ý, và lên án những phong tục La-tinh như việc sử dụng bánh không men trong Thánh Thể. Bức thư này phải được chuyển đến Giáo hoàng.
Bức thư công kích dữ dội này đến tay Đức Giáo Hoàng Leo vào một thời điểm không may: Ngài vừa bị người Norman đánh bại và đang bị giam giữ trong điều kiện danh dự tại Benevento. Hồng Y Thư ký của ngài, Humbert xứ Moyen-Moutier, đã dịch nó cho ngài và có lẽ—với vốn kiến thức tiếng Hy Lạp ít ỏi của mình—đã phóng đại giọng điệu xúc phạm. Giáo hoàng, người mong đợi sự hợp tác thân thiện từ phía người Byzantine, đã rất phẫn nộ và sắp sửa gửi thư trả lời thì một sứ giả từ Cons-tan-ti-nốp đến mang theo hai bức thư hòa giải từ Hoàng đế và Thượng phụ, kêu gọi sự thống nhất chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, điều đáng tiếc nhất là Xê-ru-la-ri-ô đã gọi Giáo hoàng là "Anh em" thay vì "Cha" như thường lệ và ký tên là "Thượng phụ Đại kết", điều mà người Rô-ma hiểu lầm là tuyên bố quyền lãnh đạo toàn bộ Giáo hội. (Cách dùng từ Oikoumene của người Byzantine thực chất chỉ có nghĩa là "Đế quốc").
Tình tiết đáng tiếc tiếp theo phần nào phải đổ lỗi cho Hồng Y Humbert nóng tính và ngang bướng, người không hề yêu mến người Hy Lạp. Ngài quyết định phải cử các sứ thần đến kinh đô Byzantine, và soạn thảo hai bức thư cho họ mang theo—một cho Thượng phụ và một cho Hoàng đế. Bức thư gửi Thượng phụ lên án việc ngài tự xưng là “Đại kết”, bất bình trước những lời chỉ trích của ngài về các tục lệ La-tinh, và cầu nguyện để các sứ thần sẽ thấy ngài hối cải.
Khi đến nơi, các sứ thần, trong đó có chính Hồng Y Humbert, đã bị xúc phạm bởi nghi thức tiếp đón đến nỗi họ chỉ đơn giản là đưa bức thư cho Thượng Phụ Xê-ru-la-ri-ô mà không chào hỏi. Thượng Phụ Xê-ru-la-ri-ô vô cùng kinh ngạc. Từng nghe nhiều về sự lịch thiệp và nhã nhặn của Đức Giáo Hoàng Leo, ngài không thể tin rằng một người như vậy, người hơn nữa, ngài biết đang là tù nhân và do đó có lẽ không ở vị thế có thể phái sứ thần, lại có thể cho phép những sứ thần thô lỗ như vậy hoặc một bức thư như vậy. Ngài từ chối công nhận thẩm quyền của các sứ thần hoặc có bất cứ giao dịch nào với họ.
Mặt khác, Hoàng đế lại tiếp đón họ nồng hậu—điều này khuyến khích Hồng Y Humbert công bố một số tài liệu để bảo vệ các tục lệ La-tinh. Đến lượt một đan sĩ Byzantine đưa ra lời phản bác rất gay gắt về chế độ độc thân và các tập tục khác của người La-tinh. Hồng Y. Humbert liền nổi giận và trút giận lên vị đan sĩ bằng một bài diễn văn đầy cay độc, đồng thời nêu lên vấn đề khiêu khích Filioque (và Chúa Con). Thượng Phụ Xê-ru-la-ri-ô tiếp tục phớt lờ sự hiện diện của họ. Cuối cùng, khi đã hết kiên nhẫn, Hồng Y Humbert và các đồng nghiệp của ngài bước vào Nhà thờ Santa Sophia vào thứ Bảy, ngày 16 tháng 7 năm 1054, ngay trước khi bắt đầu lễ chiều, và đặt lên bàn thờ một sắc lệnh tuyệt thông Thượng Phụ Xê-ru-la-ri-ô, Hoàng đế Mi-ca-e Cons-tan-ti-nô và tất cả những người theo họ, rồi rời đi một cách trang trọng, rũ bỏ bụi bẩn khỏi chân.
Như nhà sử học Stephen Runciman đã nói, ít văn kiện giáo hội nào có tầm quan trọng lớn như vậy lại chứa đựng nhiều điều dối trá đến thế. (54) Bên cạnh việc từ chối tước hiệu Thượng phụ cho Xê-ru-la-ri-ô cả về phương diện bản thân lẫn với tư cách là giám mục Cons-tan-ti-nốp, sắc lệnh còn buộc tội người Hy Lạp phạm tội mua thần bán thánh (tội lỗi lớn nhất của Giáo hội phương Tây thời bấy giờ, như Humbert biết rõ hơn ai hết), tái rửa tội cho người La-tinh (không đúng sự thật), cho phép các linh mục kết hôn (không chính xác), rửa tội cho phụ nữ đang chuyển dạ, bỏ qua Luật Mô-sê, từ chối ban thánh thể cho những người đàn ông đã cạo râu (không đúng sự thật), và cuối cùng, bỏ sót một điều khoản trong Kinh Tin Kính (!).
Dân chúng, vốn đã tức giận với Hoàng đế vì sự ưu ái mà ông dành cho người La-tinh, đã nổi loạn. Chỉ bằng cách ra lệnh đốt sắc lệnh một cách công khai và long trọng, Hoàng đế mới thành công trong việc dẹp yên thành phố. Một hội nghị giáo sĩ đã lên án hành động của các sứ thần và long trọng tuyên bố Hồng Y Humbert và những người đồng hành của ngài là phạm thượng, đồng thời cẩn thận tránh đề cập đến ngôi vị Giáo hoàng.
Điều này mở ra cơ hội cho Giáo hoàng nối lại các cuộc đàm phán thân thiện—và trên thực tế, vì Đức Giáo Hoàng Leo qua đời trước khi các sứ thần đến Cons-tan-ti-nốp, nên các sứ thần đã hành động mà không có thẩm quyền thực sự, do đó một Giáo hoàng kế nhiệm có thể dễ dàng bác bỏ hành động của họ mà không mất đi uy tín nào. Toàn bộ sự việc có thể được bỏ qua như một sai sót đáng tiếc. Và ban đầu, nó được nhìn nhận như vậy ở phương Đông. Nhưng ở phương Tây thì khác. Với việc Hồng Y Humbert ngày càng được trọng vọng trong Giáo triều, phiên bản sự việc của ngài —nghe giống như một bài ca chiến thắng — được chấp nhận là đúng. Các Giáo hoàng kế nhiệm đã đi theo đường lối của ngài. Đức Giáo Hoàng Grê-go-ri-ô VII là bạn thân nhất của Hồng Y Humbert và sẽ không bao giờ nghĩ đến việc bác bỏ hành động của ngài. Các ngài tin rằng Hồng Y Humbert đã làm điều đúng đắn khi rút phép thông công một giám mục ngoan cố và không ăn năn; vì những người kế nhiệm của Thượng phụ cũng từ chối xin tha tội, nên họ cũng bị coi là tham gia vào cuộc ly giáo. Bằng cách tiếp tục bầu chọn và ủng hộ các giám mục ly khai, toàn bộ Tòa Thượng phụ Cons-tan-ti-nốp cuối cùng đã bị đưa vào danh sách tuyệt thông.
Sau đó, để làm phức tạp thêm vấn đề, chính sách của Đức Grê-go-ri-ô VII đã dẫn ngài đến một liên minh mật thiết với người Norman, trong khi Hoàng đế Đông Rô-ma lại thấy hữu ích khi vun đắp tình bạn với Henry IV, kẻ thù không đội trời chung của Đức Grê-go-ri-ô. Cuối cùng, Đức Grê-go-ri-ô đã vạ tuyệt thông Hoàng đế Byzantine A-léc-xi-ô vào năm 1081. Đến khi Đức Grê-go-ri-ô qua đời năm 1085, quan hệ giữa Kitô giáo Đông và Tây Rô-ma trở nên vô cùng lạnh nhạt. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự ly giáo thực sự nào xảy ra.

Một sự tan băng dường như có thể xảy ra với việc bầu chọn Đức Ur-ba-nô II, một chính khách đích thực, một người đàn ông mạnh mẽ, có thiện chí, tránh xa xung đột và tranh cãi. Ngài đã mở các cuộc đàm phán với triều đình Byzantine và dỡ bỏ lệnh tuyệt thông đối với Hoàng đế A-léc-xi-ô. Đáp lại, A-léc-xi-ô đã triệu tập một hội nghị tại Cons-tan-ti-nốp, nơi phát hiện ra rằng tên của Giáo hoàng đã bị "vô tình" bỏ sót khỏi các tấm bảng ghi danh (diptych), mà ở Byzantium cũng như ở Rô-ma vốn liệt kê các giám mục và những người khác xứng đáng được tín hữu cầu nguyện cho. (Trong suốt cuộc tranh cãi, cả Rô-ma và Byzantium đều đã loại bỏ tên của đối thủ khỏi các tấm bảng ghi danh của họ.) Hoàng Đế A-léc-xi-ô đề nghị khôi phục lại tên của Giáo hoàng nếu Giáo hoàng có cử chỉ hòa giải, nhưng cử chỉ đó không bao giờ xảy ra, và tên của Giáo hoàng không bao giờ được đưa trở lại vào các tấm bảng ghi danh. Tuy nhiên, mối quan hệ tốt đẹp giữa hai tòa đã được nối lại.
Vì vậy, khi Đức Giáo Hoàng Ur-ba-nô kêu gọi một cuộc thập tự chinh tại Clermont vào năm 1095, một trong những động cơ của ngài là mang lại sự giúp đỡ cho các tín hữu Kitô giáo phương Đông đang bị bao vây. Điều đó sẽ giúp xua tan những hiềm khích trong quá khứ và dẫn họ đến việc công nhận Giáo hoàng là người lãnh đạo toàn thể Kitô giáo.
Nhưng thay vào đó, tác động của các cuộc thập tự chinh lại hoàn toàn ngược lại. Chúng đã chứng tỏ là thảm họa đối với sự nghiệp thống nhất Kitô giáo. Hoàng đế và quân thập tự chinh tranh giành thành phố An-ti-ô-ki-a vừa được tái chiếm. Người dân Byzantine theo Kitô giáo phương Đông trung bình sớm học cách căm ghét những hiệp sĩ phương Tây thô lỗ, tham lam, những người đã đáp trả lại bằng sự căm ghét gấp bội. Khi quân thập tự chinh chiếm được An-ti-ô-ki-a vào năm 1098, người lãnh đạo của họ đã phạm phải sai lầm không thể tha thứ khi trục xuất Thượng phụ Hy Lạp và bổ nhiệm một Thượng phụ La-tinh thay thế. Sự chia rẽ ở An-ti-ô-ki-a thực sự là khởi đầu của sự chia rẽ giữa Giáo hội Đông phương và Tây phương, vì cho đến lúc đó, các tòa thượng phụ khác có thiện cảm với Rô-ma hơn là Cons-tan-ti-nốp, và nếu bị buộc phải công nhận bất cứ bề trên giáo hội nào thì họ cũng sẽ thích Rô-ma xa xôi hơn Cons-tan-ti-nốp.
Mặc dù không thể đưa ra một ngày chính xác cho sự khởi đầu của cuộc chia rẽ, nhưng chính cuộc Thập tự chinh thứ tư (1202–04) đã chấm dứt mọi hy vọng về sự tái thống nhất cuối cùng. Những thập tự quân được Giáo hoàng In-nô-cen-tê III điều hướng tới Thánh địa đã bị chuyển hướng bởi một vị hoàng tử trẻ người Byzantine tự xưng, người đã hứa hẹn những phần thưởng lớn nếu họ đưa ông ta lên ngai vàng Cons-tan-ti-nốp. Không tham khảo ý kiến của Giáo hoàng, những người thập tự chinh đã đồng ý. Nhưng vị hoàng tử trẻ tuổi đã tỏ ra không đủ năng lực để cai trị, và giữa sự hỗn loạn và xáo trộn khủng khiếp, những người thập tự chinh vào năm 1203 đã cướp phá thành phố Cons-tan-ti-nốp tráng lệ, thậm chí không tha cả các nhà thờ. Sự tàn bạo này đã in sâu vào ký ức của người Byzantine và gây ra sự chia rẽ cuối cùng giữa Giáo hội Hy Lạp và La-tinh.
Sau đó đã có hai nỗ lực hàn gắn rạn nứt với Giáo hội Cons-tan-ti-nốp, tại Công đồng Lyon năm 1274 và tại Florence năm 1439, nhưng chúng chỉ mang tính hình thức; trong cả hai trường hợp, động cơ đều là chính trị. Mặc dù trong mỗi trường hợp, Hoàng đế và Thượng phụ đều tán thành việc thống nhất, nhưng chúng chưa bao giờ ảnh hưởng đến đời sống chung của các Giáo hội. Chỉ đến thời đại của chúng ta, liên quan đến Công đồng Vatican II, những bước tiến quan trọng mới được thực hiện, mang lại hy vọng về sự tái hiệp nhất cuối cùng.
1. Tổng thống Trump đã đưa ra ‘quyết định cuối cùng’ về việc cấp phép sản xuất hỏa tiễn Patriot cho Ukraine, Tổng thống Zelenskiy cho biết.
Tổng thống Donald Trump đã phê duyệt việc cấp phép cho Ukraine sản xuất hỏa tiễn phòng không Patriot, Tổng thống Zelenskiy cho biết trong diễn từ gởi quốc dân đồng bào tối Thứ Sáu, 25 Tháng Chín.
Thông báo này được đưa ra trong bối cảnh Kyiv đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng các loại vũ khí phòng không, đặc biệt là hỏa tiễn Patriot - loại vũ khí duy nhất có khả năng đánh chặn hỏa tiễn đạn đạo của Nga một cách đáng tin cậy.
Vấn đề cấp phép cho Ukraine sản xuất hỏa tiễn Patriot vẫn chưa được giải quyết trong nhiều tháng, với việc Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio tuyên bố hồi đầu tháng 9 rằng động thái này đang được đàm phán.
Tổng thống Zelenskiy cho biết Tổng thống Donald Trump đã thông báo cho ông về "quyết định cuối cùng" trong cuộc gặp giữa hai người vào ngày 22 tháng 9 bên lề Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York.
"Tại cuộc gặp của chúng tôi, Tổng thống Trump nhấn mạnh rằng ông ấy đã đưa ra quyết định cuối cùng: Ukraine sẽ nhận được giấy phép sản xuất hỏa tiễn Patriot", Tổng thống Zelenskiy nói với các phóng viên.
Tổng thống Zelenskiy không nói rõ khi nào Ukraine có thể bắt đầu sản xuất hỏa tiễn hoặc các thỏa thuận sẽ cung cấp năng lực sản xuất như thế nào.
Tòa Bạch Ốc chưa đưa ra bình luận nào về vấn đề này.
Kể từ khi Tổng thống Trump tái đắc cử vào năm 2025, Mỹ đã chấm dứt việc tài trợ quốc phòng quy mô lớn và cung cấp vũ khí cho Ukraine, khiến Kyiv phải dựa vào sự hỗ trợ từ các đối tác khác để có được các hệ thống vũ khí quan trọng.
Vào tháng 7, Tổng thống Trump tuyên bố đã đồng ý cấp cho Ukraine giấy phép sản xuất hỏa tiễn Patriot, nhưng vài tuần sau đó đã rút lại lời hứa này.
Việc tìm mua hỏa tiễn đánh chặn Patriot càng trở nên khó khăn hơn do cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran đã làm chuyển hướng nguồn cung sang Trung Đông.
Sáng Thứ Bẩy, 26 Tháng Chín, Władysław Kosiniak-Kamysz, phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Ba Lan nói ông hoan nghênh quyết định này của Tổng thống Trump và bày tỏ hy vọng rằng Ba Lan sẽ cùng với Ukraine sản xuất hỏa tiễn phòng không Patriot. Đây là lập trường ông đã đưa ra hồi tháng 7 vừa qua. Tuy nhiên, các phương tiện truyền thông Ba Lan tỏ ra thận trọng hơn, lo ngại rằng một cú điện thoại của Vladimir Putin có thể thay đổi tất cả mọi lời hứa của Hoa Kỳ.
[Kyiv Independent: Trump made 'final decision' on granting Ukraine Patriot licenses, Zelensky says]
2. Điện Cẩm Linh cho rằng còn quá sớm để thảo luận về chuyến đi G20 của Putin sau khi hoan nghênh lời mời của Mỹ.
Hôm Thứ Sáu, 25 Tháng Chín, Điện Cẩm Linh cho biết còn quá sớm để nói về việc Putin đến dự Hội nghị thượng đỉnh Nhóm G20 ở Miami để tham dự cuộc gặp ba bên với Tổng thống Donald Trump và Tổng thống Volodymyr Zelenskiy – chỉ một ngày sau khi Phát ngôn nhân Điện Cẩm Linh Dmitry Peskov hoan nghênh lời mời của Washington.
Theo hãng tin Interfax của Nga, Peskov nói với các nhà báo rằng: "Hiện tại còn quá sớm để bàn về vấn đề này, vẫn chưa có quyết định nào được đưa ra".
Peskov nói thêm rằng Mạc Tư Khoa đánh giá cao lời mời và sẽ xem xét kỹ trước khi đưa ra quyết định, phản hồi sẽ được đưa ra sau.
Hôm thứ Tư, Điện Cẩm Linh hoan nghênh lời mời tham dự hội nghị thượng đỉnh dự kiến diễn ra vào giữa tháng 12, đồng thời cho biết vấn đề này sẽ được giải quyết thông qua các kênh ngoại giao.
Lời mời này được đưa ra trong bối cảnh Washington đang tăng cường nỗ lực làm trung gian hòa giải để chấm dứt cuộc chiến với Nga.
Theo hãng thông tấn nhà nước Nga TASS, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã công bố lời mời này vào đầu ngày hôm đó, sau cuộc gặp với Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov bên lề Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 81 tại New York.
"Chúng tôi đã mời Tổng thống Putin tham dự G20. Chúng tôi nghĩ đây là cơ hội để ông ấy không chỉ gặp gỡ tổng thống mà còn với các nhà lãnh đạo thế giới khác", Rubio nói, đồng thời lưu ý rằng lời mời không có nghĩa là cuộc gặp sẽ diễn ra ngay lập tức.
Ngày 12 tháng 9, Peskov nhận định cuộc gặp giữa Putin và Tổng thống Zelenskiy tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Miami là "không thể xảy ra", nhắc lại lập trường của Mạc Tư Khoa rằng hai nhà lãnh đạo chỉ có thể gặp nhau tại Mạc Tư Khoa.
Tổng thống Trump nói về Putin: "Ông ấy muốn chiến tranh kết thúc".
Lời mời này được đưa ra sau phát biểu hôm thứ Ba của Tổng thống Donald Trump, người đã gặp Tổng thống Volodymyr Zelenskiy bên lề hội nghị thượng đỉnh cùng sự kiện đó.
Khi được hỏi liệu Putin có tham dự cuộc gặp dự kiến với Tổng thống Zelenskiy tại hội nghị thượng đỉnh G20 hay không, Tổng thống Trump vẫn chưa chắc chắn về địa điểm, nhưng dự đoán nhà lãnh đạo Nga sẽ tham gia.
"Ông ấy sẽ gặp. Ông ấy sẵn lòng gặp. Ông ấy muốn thấy chiến tranh kết thúc", Tổng thống Trump nói trong buổi phát sóng trực tiếp cuộc gặp.
Tuy nhiên, Putin vẫn chưa chấp nhận bất kỳ lời mời gặp mặt trực tiếp nào của Tổng thống Zelenskiy và không tham dự Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm nay, nơi Lavrov đại diện cho Nga.
Tổng thống Zelenskiy và Tổng thống Trump đã gặp nhau lần đầu tiên sau những động thái ngoại giao đạt được nhờ các đặc phái viên cao cấp của Mỹ là Steve Witkoff và Jared Kushner, những người đã đến thăm Mạc Tư Khoa và Kyiv vào đầu tháng 9.
Ngày 5 tháng 9, các phái viên đã có cuộc hội đàm kéo dài ba giờ với Putin tại Mạc Tư Khoa, tiếp theo là bữa tối thân mật với các quan chức Nga, và ngày hôm sau đã đến Kyiv cho chuyến thăm đầu tiên trong nhiệm kỳ làm trung gian hòa giải của Washington.
Cả ba bên – Ukraine, Mỹ và Nga – đều mô tả các cuộc gặp là hiệu quả và tích cực.
Kể từ đó, Tổng thống Zelenskiy liên tục bày tỏ hy vọng về một cuộc gặp khác với Tổng thống Trump, và nêu tên New York là một địa điểm khả thi.
Ông cũng cho biết ông sẵn sàng gặp trực tiếp Putin, đồng thời kêu gọi Mỹ tổ chức các cuộc đàm phán ba bên.
Mạc Tư Khoa phát tín hiệu thận trọng
Trước những phát biểu mới nhất, Lavrov cho biết Điện Cẩm Linh sẽ không tạm dừng "chiến dịch quân sự đặc biệt" của mình ngay cả trong quá trình đàm phán.
Ông nói tiếp rằng Ukraine lẽ ra đã giữ nguyên biên giới năm 1991 nếu các quốc gia Âu Châu không "gây ra những trò hề của họ", lặp lại thái độ thù địch lâu nay của Mạc Tư Khoa đối với phương Tây, chỉ một tháng sau khi Ukraine kỷ niệm 35 năm Ngày Độc lập.
Ngoại trưởng Andrii Sybiha đã lên án những bình luận đó. Theo một tuyên bố từ Bộ Ngoại giao Ukraine, ông nói: "Mười bốn trong số 15 thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ủng hộ lệnh ngừng bắn. Chỉ có một bên gây hấn đang cản trở điều đó."
Cùng thời điểm đó, 51 quốc gia đã ủng hộ Ukraine trong một tuyên bố chung, kêu gọi Điện Cẩm Linh đồng ý ngừng bắn toàn diện và tiến hành các cuộc đàm phán có ý nghĩa trong bối cảnh các cuộc tấn công quy mô lớn của Nga vẫn tiếp diễn trong năm thứ năm của cuộc chiến.
Nga liên tục bác bỏ các lời kêu gọi quốc tế về việc ngừng bắn và một cuộc gặp trực tiếp với Tổng thống Zelenskiy, thường xuyên chế giễu những đề xuất đó.
Ngày 18 tháng 9, Putin cáo buộc Kyiv phá hoại các nỗ lực hòa bình, cho rằng các quan chức Ukraine "nói về hòa bình" trong khi "làm mọi cách để bảo đảm" điều đó không xảy ra.
Ngày 21 tháng 9, Peskov cho biết các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh của Nga với Ukraine vẫn chưa có tiến triển, nhưng Mạc Tư Khoa hy vọng các cuộc đàm phán ba bên có sự tham gia của Mỹ sẽ được nối lại.
Trong khi đó, bất kỳ động thái ngoại giao nào đạt được đều liên tục bị theo sau bởi các cuộc tấn công dữ dội hơn từ phía Nga. Thỏa thuận ngừng bắn ba ngày gần đây nhất nhằm vào Kyiv – mà cuối cùng Putin đã ra lệnh để tạo điều kiện cho chuyến thăm của các phái viên Mỹ – đã kết thúc bằng một cuộc oanh tạc dữ dội trên toàn quốc nhằm vào thủ đô, với việc Nga vi phạm thỏa thuận ngừng bắn ngay cả trước khi nó chính thức kết thúc.
[Kyiv Post: Kremlin Says Too Early to Discuss Putin’s G20 Trip After Welcoming US Invitation]
3. Ngoại trưởng Iran và Ukraine gặp nhau lần đầu tiên kể từ vụ tấn công Ukraine.
Theo Bộ Ngoại giao Iran, Ngoại trưởng Abbas Araghchi đã gặp Ngoại trưởng Ukraine Andrii Sybiha bên lề Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York hôm thứ Năm.
Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa hai nước kể từ khi Ukraine tấn công một tàu thương mại của Iran trên Biển Caspi hồi tháng 7.
Theo nhiều nguồn tin, sau vụ đánh bom, Mỹ đã kêu gọi Ukraine ngừng các cuộc tấn công như vậy vì lo ngại các cuộc tấn công sẽ làm tăng giá dầu hơn nữa.
Hiện tại, cả Ukraine và Iran đều đang vướng vào chiến tranh, trong đó Iran cung cấp cho Nga máy bay điều khiển từ xa Shahed để sử dụng trong các cuộc tấn công chống lại Ukraine.
[CBSNews: Iranian, Ukrainian foreign ministers meet for the first time since Ukrainian attack]
4. Putin tuyên bố đã muốn đàm phán nhưng giờ không muốn nữa vì Ukraine tấn công cuộc bầu cử Nga.
Hôm Thứ Sáu, 25 Tháng Chín, trùm mafia Vladimir Putin cho biết Mạc Tư Khoa sẽ xem xét lại việc có nối lại đàm phán với Ukraine hay không, viện dẫn vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa quy mô lớn của Ukraine vào khu vực Mạc Tư Khoa và các cuộc tấn công bị cáo buộc nhằm vào các địa điểm liên quan đến bầu cử trong cuộc bỏ phiếu quốc hội của Nga.
Putin cho biết Nga đã sẵn sàng quay lại đàm phán sau cuộc bầu cử Duma Quốc gia kéo dài từ 18 đến 20 tháng 9, nhưng khẳng định các vụ tấn công đã làm thay đổi tính toán của Mạc Tư Khoa.
"Sau tất cả những gì họ đã làm, chúng tôi sẽ suy nghĩ kỹ về những gì chúng tôi cần làm", Putin nói, đồng thời cho biết thêm rằng bất kỳ quyết định nào về việc nối lại đàm phán sẽ dựa trên những gì ông mô tả là lợi ích của Nga.
Putin tuyên bố rằng hơn 1.600 máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã xâm nhập khu vực Mạc Tư Khoa từ đêm 19 và tấn công suốt ngày 20 tháng 9. Tuyên bố của Putin mâu thuẫn với thông tin trước đó của các quan chức Nga. Trong khi Putin nói rằng các máy bay điều khiển từ xa đã tấn công Mạc Tư Khoa, Thị trưởng Mạc Tư Khoa Sergei Sobyanin cho biết các máy bay điều khiển từ xa không tấn công được vì đã bị chặn "trên mọi mặt trận", với 450 chiếc bị bắn hạ khi đang tiếp cận Mạc Tư Khoa.
Tuy nhiên, các blogger quân sự Nga chỉ ra rằng vụ tấn công này là cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa lớn nhất được ghi nhận của Ukraine nhằm vào Mạc Tư Khoa kể từ khi Nga bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện. Giới chức Nga báo cáo ba người thiệt mạng ở vùng Mạc Tư Khoa, thiệt hại về nhà cửa và các cuộc tấn công vào Nhà máy lọc dầu Mạc Tư Khoa.
Theo nguồn tin từ Reuters, nhà máy lọc dầu này đã tạm ngừng hoạt động chế biến dầu thô sau khi cả hai tổ máy giải quyết chính bị hư hỏng.
Putin cũng cáo buộc Ukraine cố tình tấn công các điểm bỏ phiếu và các quan chức bầu cử. Cơ quan bầu cử Nga cho biết hàng chục tòa nhà chứa các ủy ban bầu cử đã bị hư hại trong thời gian bỏ phiếu, bao gồm cả ở các khu vực bị Nga tạm chiếm tại Ukraine, nhưng tuyên bố của Mạc Tư Khoa rằng các cuộc tấn công nhằm mục đích phá hoại cuộc bầu cử vẫn chưa được xác minh độc lập.
Nga đã tổ chức bỏ phiếu tại các khu vực bị tạm chiếm thuộc các tỉnh Donetsk, Luhansk, Zaporizhzhia và Kherson trong cuộc bầu cử. Ukraine và các đối tác phương Tây đã bác bỏ việc Mạc Tư Khoa tổ chức bầu cử trên lãnh thổ Ukraine bị tạm chiếm, coi đó là bất hợp pháp.
Putin cũng tuyên bố rằng hiệu quả của các cuộc tấn công sau đó của Nga đã khiến Kyiv tìm kiếm một thỏa thuận ngừng bắn bao gồm các cơ sở năng lượng và các cuộc tấn công trên không.
Tuyên bố đó bỏ qua thực tế rằng Ukraine đã công khai bày tỏ sẵn sàng tham gia một thỏa thuận ngừng bắn năng lượng có đi có lại trước cuộc tấn công vào Mạc Tư Khoa ngày 19-20 tháng 9. Ngày 14 tháng 9, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết Ukraine sẽ ủng hộ đề xuất của Mỹ về việc ngừng các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng nếu Washington có thể bảo đảm rằng Nga sẽ tuân thủ các hạn chế tương tự.
Tổng thống Zelenskiy đã nhắc lại lập trường đó sau cuộc gặp với Tổng thống Donald Trump tại New York vào ngày 22 tháng 9.
Tổng thống Zelenskiy nói: "Chúng tôi sẵn sàng cho bất kỳ hình thức ngừng bắn năng lượng nào", với điều kiện Nga cũng ngừng tấn công cơ sở hạ tầng điện, sưởi ấm và các cơ sở hạ tầng năng lượng khác của Ukraine.
Putin cũng nhắc lại tuyên bố lâu nay của Mạc Tư Khoa rằng Ukraine phải chịu trách nhiệm về việc chấm dứt các cuộc đàm phán hòa bình được tổ chức tại Istanbul vào năm 2022.
Các cuộc đàm phán không đạt được thỏa thuận cuối cùng và đã đổ vỡ do những tranh chấp chưa được giải quyết về các bảo đảm an ninh cho Ukraine, quy mô và năng lực quân đội của nước này, các vấn đề lãnh thổ, việc Nga rút quân khỏi miền bắc Ukraine và những tiết lộ về các vụ giết người ở Bucha.
Trong các phát biểu riêng biệt, Putin bác bỏ những cảnh báo từ các chính phủ Âu Châu về một cuộc đối đầu tiềm tàng trong tương lai với Nga, nói rằng Mạc Tư Khoa không chuẩn bị cho hành động quân sự chống lại Âu Châu và mô tả những cảnh báo đó là sự khiêu khích.
Các quan chức Âu Châu gần đây chủ yếu cảnh báo về một chiến dịch hỗn hợp ngày càng leo thang của Nga, bao gồm phá hoại, tấn công mạng, xâm nhập bằng máy bay điều khiển từ xa và các hoạt động bí mật khác. Đồng thời, các quan chức cho biết hiện tại họ không đánh giá một cuộc tấn công quân sự trực tiếp của Nga vào NATO là sắp xảy ra.
Trước đây, Nga đã phủ nhận việc có kế hoạch tấn công các nước láng giềng. Trong những ngày ngay trước cuộc xâm lược toàn diện Ukraine vào tháng 2 năm 2022, Điện Cẩm Linh đã nhiều lần bác bỏ những cảnh báo của phương Tây rằng Mạc Tư Khoa đang chuẩn bị một cuộc xâm lược.
[Kyiv Independent: Putin casts doubt on resuming Ukraine talks, citing mass drone attack during Russian election]
5. Kyiv cho biết cứ 10 tù binh chiến tranh Nga ở Ukraine thì có 1 người là công dân nước ngoài.
Theo dự án "Tôi muốn sống" của Ukraine, một dự án giúp binh lính Nga đầu hàng, cứ 10 tù binh chiến tranh Nga bị giam giữ ở Ukraine thì có một người là công dân của nước khác.
Tính đến tháng 9, các tù binh chiến tranh Nga ở Ukraine bao gồm công dân của 55 quốc gia, theo dự án này cho biết. Gần 29.000 người nước ngoài đã ký hợp đồng với quân đội Nga kể từ năm 2022, theo dữ liệu của Ukraine.
Các số liệu cho thấy chiến dịch tuyển quân của Nga đang ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động ra quốc tế, và Ukraine cho rằng chiến dịch này đang tấn công ngày càng nhiều vào những người dễ bị tổn thương về kinh tế ở Phi Châu, Á Châu và Mỹ Latinh.
Nga đã phải đối mặt với áp lực ngoại giao về việc tuyển mộ công dân nước ngoài. Theo "Tôi muốn sống", Mạc Tư Khoa đã tạm dừng tuyển mộ tại 39 quốc gia, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, Kenya và Pakistan.
Tuy nhiên, theo dự án của Ukraine, Điện Cẩm Linh đã chuyển trọng tâm sang Nam Mỹ, Trung Á và Phi Châu.
Số lượng công dân nước ngoài bị Ukraine bắt giữ trong chín tháng đầu năm 2026 đã vượt quá số người bị bắt giữ trong cả năm 2025. Trong số đó có công dân của Á Căn Đình, Panama, Paraguay, Peru, Honduras, Việt Nam và Mông Cổ.
Trước đây, Ukraine từng bắt giữ các chiến binh nước ngoài đến từ nhiều quốc gia, trong đó có Bắc Hàn. Hai binh sĩ Bắc Hàn bị lực lượng Ukraine bắt giữ trong cuộc giao tranh ở vùng Kursk của Nga sau đó đã được trao trả cho Nam Hàn.
Lời hứa về việc làm, quyền công dân
Ukraine cho biết chiến dịch tuyển quân của Nga thường bắt đầu ở những nơi xa chiến trường, với những lời hứa hẹn về công việc lương cao, quốc tịch Nga hoặc cơ hội học tập.
Đến tháng 8, Bộ Ngoại giao Ukraine cho biết họ đã xác định được ít nhất 2.982 tân binh từ 37 quốc gia Phi Châu đang phục vụ trong quân đội Nga, trong đó có 486 người được xác nhận đã thiệt mạng. Ukraine cũng đang giam giữ 35 công dân Phi Châu đến từ 17 quốc gia làm tù binh chiến tranh.
Các đoàn tham dự đông nhất đến từ Kenya, Ai Cập, Cameroon, Ghana, Nigeria, Uganda, Algeria và Mali.
Con số này đã tăng lên nhanh chóng. Các quan chức Ukraine đã xác định được khoảng 1.400 tân binh từ 36 quốc gia vào tháng 11 năm 2025, hơn 1.700 người vào tháng 2 năm 2026 và gần 3.000 người vào tháng 8.
Các tổ chức quốc tế cũng đã bày tỏ lo ngại về hệ thống tuyển dụng này.
Vào tháng 9, Tổ chức Ân xá Quốc tế đã báo cáo rằng việc Nga tuyển mộ công dân nước ngoài dựa trên các thủ đoạn lừa dối và cưỡng ép, và trong một số trường hợp, cấu thành tội buôn người.
Những người được tổ chức này phỏng vấn cho biết họ đã được hứa hẹn những công việc dân sự trong các lĩnh vực bao gồm an ninh, hậu cần, xây dựng và công nghệ thông tin, cũng như mức lương cao và được cấp quốc tịch Nga nhanh chóng.
Một số người cho biết hộ chiếu và điện thoại của họ đã bị tịch thu sau khi ký hợp đồng quân sự.
Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế hồi tháng 4 đã báo cáo rằng Nga đã xây dựng một mạng lưới tuyển mộ có tổ chức nhắm vào những người di cư không có giấy tờ, người bị giam giữ, người lao động bấp bênh và sinh viên nước ngoài trên khắp Á Châu, Phi Châu và Mỹ Latinh.
Những gì tù binh chiến tranh nước ngoài kể lại với Kyiv Post
Tờ Kyiv Post cũng đã phỏng vấn các công dân nước ngoài bị bắt giữ sau khi gia nhập quân đội Nga.
Vào tháng 9 năm 2025, Kyiv Post đã có được quyền tiếp cận độc quyền vào một trong những trại giam tù binh lớn nhất của Ukraine và có cuộc trò chuyện với hai chiến binh nước ngoài, một người đến từ Ghana và một người đến từ Ai Cập.
Joshua, đến từ Ghana, cho biết anh đang học tập tại Mạc Tư Khoa và gặp khó khăn về tài chính khi ký hợp đồng với Bộ Quốc phòng Nga.
Mohammed Salah, đến từ Ai Cập, cho biết các vấn đề về visa đã buộc anh phải gia nhập quân đội Nga để đổi lấy quốc tịch.
Một mô hình tương tự đã xuất hiện trong cuộc phỏng vấn năm 2024 của Kyiv Post với một công dân Somalia được xác định là Bashiir.
Bashiir cho biết anh đã đến Nga tìm việc làm sau khi kiếm được khoảng 100 đô la một tháng ở Somalia. Anh nói với Kyiv Post rằng anh đã thấy các quảng cáo tuyển dụng vào quân đội Nga và tin rằng mình sẽ được đào tạo để làm bảo vệ ở Nga.
"Không bắn súng, không giết người, không làm bất cứ điều gì khác," ông nói.
Bashiir cho biết anh không hề nhận ra mình đã bị đưa qua biên giới vào Ukraine cho đến khi đã ở bên trong.
Vào thời điểm đó, giới chức Ukraine nói với Kyiv Post rằng lời khai của ông ta tương tự như những lời giải thích thường được đưa ra bởi các binh sĩ Nga bị bắt giữ, những người thường tự nhận mình là lái xe, đầu bếp, lính hậu vệ hoặc người vận chuyển đạn dược chứ không phải là chiến binh.
Petro Yatsenko, đại diện của Bộ Điều phối về Đối xử với Tù binh Chiến tranh của Ukraine, nói với Kyiv Post rằng các binh sĩ bị bắt thường xuyên khẳng định họ không tham gia chiến đấu.
Chiến dịch tuyển mộ này đã khiến các chính phủ ở Phi Châu và các nơi khác phải can thiệp để bảo vệ công dân của họ.
Nam Phi đã hồi hương những công dân bị tuyển mộ vào quân đội Nga, trong khi Kenya đã yêu cầu Mạc Tư Khoa bảo đảm rằng công dân của họ sẽ không còn bị tuyển mộ nữa. Ghana cũng đã gây áp lực lên Nga về việc tuyển mộ và cái chết của công dân nước này.
[Politico: One in 10 Russian POWs in Ukraine Is a Foreign Citizen, Kyiv Says]
6. Tổng thống Macron cho biết Pháp sẽ gửi "phương tiện quân sự" để bảo vệ cảng dầu của Ả Rập Xê Út.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho biết nước này sẽ gửi "phương tiện quân sự" để giúp bảo vệ cảng dầu Yanbu quan trọng của Ả Rập Xê Út khỏi các cuộc tấn công của lực lượng Houthi do Iran hậu thuẫn ở Yemen.
"Chúng tôi sẽ điều động các khí tài quân sự, bao gồm binh lính, radar và hệ thống phòng thủ, để bảo vệ địa điểm này," ông nói trong cuộc phỏng vấn với TF1 và France 2 trong bản tin tối.
Việc lực lượng Houthi gần đây chiếm giữ bờ biển Biển Đỏ của Yemen đã củng cố quyền kiểm soát của Iran và các đồng minh khu vực đối với hai tuyến đường thủy quan trọng ở Trung Đông – eo biển Bab al-Mandab và Hormuz – cả hai đều là những tuyến đường vận chuyển chính cho dòng chảy năng lượng toàn cầu.
Ả Rập Xê Út, nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, đã dựa vào cảng Yanbu trên Biển Đỏ để xuất khẩu dầu của mình, sau khi Iran phong tỏa eo biển Hormuz vào đầu cuộc chiến Trung Đông.
Lực lượng Houthi đã tiến hành các cuộc tấn công vào các cơ sở thuộc tập đoàn dầu khí khổng lồ Aramco của Ả Rập Xê Út tại Yanbu.
[CBSNews: France will send "military means" to protect Saudi oil terminal, Macron says]
7. Ukraine đánh lớn vào miền Nam nước Nga
Bộ Tổng tham mưu Ukraine xác nhận đã tấn công hai nhà máy lọc dầu của Nga và ba cơ sở sản xuất hỏa tiễn vào đêm 25 tháng 9. Chuẩn tướng Oleksii Hromov, phát ngôn nhân Bộ Tổng tham mưu Ukraine, cho biết như trên sáng Thứ Bẩy, 26 Tháng Chín.
Trong số các cơ sở bị tấn công có nhà máy lọc dầu Lukoil-Permnefteorgsintez ở Perm, Nga, nằm cách biên giới Ukraine khoảng 1.450 km.
Nhà máy lọc dầu này giải quyết khoảng 13 triệu tấn dầu thô mỗi năm và sản xuất nhiên liệu cùng các sản phẩm dầu mỏ khác. Theo Chuẩn tướng Oleksii Hromov, cơ sở này tham gia cung cấp nhiên liệu và chất bôi trơn cho quân đội Nga.
Chuẩn tướng Oleksii Hromov nhấn mạnh rằng nhà máy lọc dầu thứ hai là mục tiêu tấn công ở Novoshakhtinsk, tỉnh Rostov, cách lãnh thổ do Ukraine kiểm soát, nơi phát động cuộc tấn công, khoảng 200 km.
Một vụ cháy đã được báo cáo tại cơ sở này, nơi có công suất chế biến hàng năm khoảng 7,5 triệu tấn. Theo thông báo, nhà máy lọc dầu này cũng là nhà cung cấp chính các sản phẩm dầu mỏ ở miền nam nước Nga và góp phần cung cấp cho quân đội Nga.
Ngoài ra, lực lượng Ukraine đã tấn công 64 trạm radar Gamma-S1 L6 và 39 trạm radar Kasta-2E2 N6 tại khu vực Novoshakhtinsk.
Chuẩn tướng Oleksii Hromov cũng cho biết, lực lượng nước này cũng đã tấn công vào nhà máy Iskra ở thành phố Ulyanovsk của Nga, cách biên giới Ukraine khoảng 800 km.
Nhà máy này là một phần của tập đoàn hàng không vũ trụ và quốc phòng Almaz-Antey và tham gia vào tổ hợp công nghiệp quốc phòng của Nga. Theo Chuẩn tướng Oleksii Hromov, nhà máy chuyên sản xuất các thiết bị bán dẫn, thiết bị điện tử, dụng cụ đo lường, hệ thống thông tin liên lạc và các thiết bị chuyên dụng khác.
Nhà máy này cũng tham gia sản xuất hỏa tiễn không đối không dẫn đường Kh-59M2/M2A và hệ thống pháo-hỏa tiễn phòng không 72V6 Pantsir-S cùng các biến thể của nó.
[Kyiv Independent: Ukraine strikes Russian oil refineries, missile production facilities, General Staff confirms]
8. Úc cam kết hỗ trợ lâu dài cho Ukraine, đồng thời ban hành hơn 100 lệnh trừng phạt mới đối với Nga.
Bên lề Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York, Ukraine và Úc Đại Lợi đã ký một thỏa thuận an ninh toàn diện, có thời hạn 10 năm, củng cố sự hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực.
"Người dân Úc luôn sát cánh cùng Ukraine. Cảm ơn sự ủng hộ thiết thực và cụ thể của các bạn", Tổng thống Volodymyr Zelenskiy phát biểu sau cuộc gặp với Thủ tướng Úc Anthony Albanese.
"Một lần nữa, cảm ơn sự ủng hộ của các bạn và vì luôn sát cánh cùng chúng tôi - cả về chính trị và địa chính trị," Tổng thống Zelenskiy nói.
Thỏa thuận giữa Úc và Ukraine liên tục chỉ ra mối liên hệ địa chính trị trực tiếp giữa khu vực "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và khu vực Âu-Đại Tây Dương", chẳng hạn như viện dẫn "mối đe dọa mà Bắc Hàn gây ra cho cả hai khu vực và an ninh toàn cầu bằng việc trực tiếp tham gia vào cuộc xâm lược Ukraine".
Về cơ bản, văn bản này cam kết Úc Đại Lợi sẽ tiếp tục hỗ trợ Ukraine trên nhiều mặt trận, cho dù đó là tăng cường năng lực hải quân của Kyiv, giúp Ukraine bảo vệ cơ sở hạ tầng năng lượng quan trọng, hay chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất để hỗ trợ việc thông qua các cải cách dân chủ.
Ông Albanese nói: "Thỏa thuận an ninh song phương này nhấn mạnh cam kết liên tục và sự ủng hộ bền vững của Úc đối với Ukraine trong cuộc chiến chống lại sự xâm lược của Nga."
Canberra cũng công bố gói hỗ trợ trị giá 60 triệu đô la Úc (42,2 triệu đô la Mỹ) cho Kyiv, trong đó 75% dành cho trang thiết bị của Lực lượng Quốc phòng Úc, phần còn lại được chia cho Quỹ Hỗ trợ Năng lượng của Ukraine và viện trợ nhân đạo.
Ngày 24 tháng 9, Úc cũng ban hành thêm 106 lệnh trừng phạt mới, trong đó 38 lệnh nhắm vào các tàu được xác định là thuộc hạm đội ngầm của Nga, những con tàu cũ kỹ giúp Mạc Tư Khoa né tránh các hạn chế trong hoạt động buôn bán nhiên liệu hóa thạch.
Phần còn lại bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, với nhiều mục tập trung vào các tổ chức và thực thể chủ chốt có nhiệm vụ tẩy não và quân sự hóa trẻ em, bao gồm cả những người Ukraine mà Mạc Tư Khoa đã bắt cóc từ các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm.
Danh sách đó bao gồm các tên như Quỹ Kadyrov, Trung tâm Phát triển các Chương trình Xã hội hóa Thanh thiếu niên, Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quân sự và Giáo dục Yêu nước cho Thanh niên, và Trung tâm Trẻ em Toàn Nga.
Việc tập trung vào vấn đề trẻ em diễn ra chỉ vài ngày trước thềm hội nghị thượng đỉnh dự kiến tập trung vào việc đưa hơn 20.000 trẻ em Ukraine bị Nga bắt cóc trái phép trở về, dự kiến diễn ra tại Toronto vào ngày 28 tháng 9.
Ngoài ra, những người bị hạn chế mới còn có liên hệ với các trại giam, việc Nga xâm lược Crimea, một số ngân hàng, Mikhail Zvinchuk, blogger quân sự đứng sau kênh Telegram Rybar của Nga, và Chủ tịch Liên đoàn Đấu vật Nga, Mikhail Mamiashvili.
"Chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp sự hỗ trợ kiên định cho Ukraine, và chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác với các đối tác để gây tổn thất cho Nga và làm suy yếu cỗ máy chiến tranh của nước này", Ngoại trưởng Úc Penny Wong cho biết.
Tuy nhiên, các nhóm xã hội dân sự vẫn kỳ vọng Canberra sẽ có những động thái mạnh tay hơn nữa đối với các biện pháp trừng phạt Nga.
B4Ukraine gọi Úc Đại Lợi là "một trường hợp ngoại lệ quốc tế" vì cho phép các sản phẩm của nước thứ ba được sản xuất từ dầu thô của Nga nhập khẩu vào nước này.
Khắc phục lỗ hổng đó là một trong những khuyến nghị chính trong báo cáo tháng 8 của Thượng viện Úc, mà chính phủ phải phản hồi trước ngày 20 tháng 11.
[Kyiv Independent: Australia commits to long-term Ukraine support, rolls out 100-plus new Russia sanctions]
9. Giải thích thỏa thuận Greenland của Tổng thống Trump.
Tám tháng sau khi Ông Donald Trump suýt phá hủy NATO bằng cách đe dọa sáp nhập Greenland — bằng vũ lực nếu cần thiết — ông đã ký một thỏa thuận mới mà ông gọi là "tuyệt vời", theo đó sẽ trao cho Mỹ toàn bộ quyền kiểm soát và tiếp cận quân sự cần thiết đối với lãnh thổ của Đan Mạch.
Các đồng minh Âu Châu đã vô cùng lo ngại trước quyết tâm rõ ràng của Tổng thống Trump trong việc xâm lược lãnh thổ này vào đầu năm — và lời đe dọa áp thuế 25% đối với bất kỳ ai cản đường ông ta — đến nỗi họ bắt đầu bàn về tương lai của phương Tây mà không có Mỹ. Về nhiều mặt, mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương đã không còn như trước nữa.
Thỏa thuận về an ninh ở Bắc Cực và Bắc Đại Tây Dương được ký kết tại Liên Hiệp Quốc bởi Tổng thống Trump và các thủ tướng của Greenland và Đan Mạch đã chấm dứt tranh chấp. Nhưng chính xác thì thỏa thuận này bao gồm những gì? Ai sẽ trả tiền cho nó? Và ai là người thắng và người thua sau nhiều tháng đàm phán căng thẳng?
Cụ thể thì chuyện này là sao?
Thỏa thuận mới này, vẫn cần được các nhà lập pháp Đan Mạch và Greenland phê chuẩn, trên thực tế không hoàn toàn mới. Thay vào đó, nó nhằm mục đích "sửa đổi và bổ sung" một thỏa thuận trước đó giữa Mỹ và Đan Mạch có từ năm 1951. Nhiều chuyên gia đã nói trong nhiều tháng rằng thỏa thuận trước đó đã trao cho Tổng thống Trump hầu hết những gì ông ta muốn, về mặt tự do gần như không bị hạn chế trong việc thiết lập các căn cứ quân sự và kiểm soát an ninh khu vực.
Một điểm khác biệt quan trọng lần này là chính Greenland cũng là một bên ký kết.
Thỏa thuận này bao gồm những gì?
Phần mở đầu của văn bản tái khẳng định cam kết của các bên ký kết về việc tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng lãnh thổ Đan Mạch, thực hiện trách nhiệm của NATO và bảo vệ quyền của người dân Greenland. Phần lớn nội dung còn lại tập trung vào việc tiếp cận Greenland của quân đội và dân sự Mỹ cũng như kế hoạch thiết lập các cơ sở quân sự của Mỹ tại đó.
Tổng thống Trump từng hứa sẽ xây dựng hai căn cứ "rất lớn" ở Greenland. Theo văn bản do chính phủ Đan Mạch công bố, hai căn cứ mới được Mỹ nhắc đến này cũng không hoàn toàn mới, ít nhất là về vị trí địa lý.
Một căn cứ sẽ được đặt tại Narsarsuaq ở phía nam Greenland, vốn là căn cứ Bluie West One cũ của Mỹ đã đóng cửa vào những năm 1950. Căn cứ còn lại là Mestersvig ở phía đông Greenland, hiện là nơi đóng quân của đơn vị tuần tra xe trượt tuyết chó kéo Sirius của Đan Mạch và sẽ được tân trang lại.
Theo thỏa thuận, quân đội Mỹ sẽ được "tự do tiếp cận" các tuyến đường hàng không, đường bộ và đường biển trên và xung quanh Greenland giữa hai căn cứ. Greenland hiện đã là nơi đặt Căn cứ Không gian Pituffik của Mỹ, nơi có khoảng 150 binh sĩ Mỹ đóng quân để vận hành một trạm giám sát hỏa tiễn đạn đạo nhằm bảo vệ Bắc Mỹ khỏi các cuộc tấn công hỏa tiễn tầm xa.
Thỏa thuận này cũng nêu rõ cách thức Mỹ có thể thiết lập các cơ sở tác chiến máy bay điều khiển từ xa mới — "các cơ sở quân sự điều khiển từ xa" — ở Greenland với quy trình phê duyệt nhanh chóng từ chính quyền Đan Mạch và Greenland. Tuy nhiên, Đan Mạch và Greenland sẽ có tiếng nói cuối cùng về vị trí đặt các cơ sở này, hoặc liệu chúng có được xây dựng hay không.
Ngăn chặn kẻ thù
Một điểm mới nữa là một số điều khoản được thiết kế để ngăn chặn các đối thủ và kẻ thù tiềm năng nắm giữ lợi ích quân sự hoặc kinh tế ở Greenland trong tương lai. Văn bản này quy định rằng không một quốc gia nào không thuộc NATO được phép mở căn cứ trên đảo hoặc khai thác khoáng sản quan trọng hoặc đất hiếm mà không có sự đồng ý của ba bên ký kết.
Tàu tuần tra HDMS Ejnar Mikkelsen của hải quân Đan Mạch đang di chuyển trên vùng biển vịnh Nuuk, Greenland, vào ngày 6 tháng 3 năm 2026. | Florent Vergnes/AFP via Getty Images
Tổng thống Trump thường xuyên lên tiếng về các hoạt động quân sự của Trung Quốc và Nga xung quanh Greenland, tuyên bố hồi đầu năm nay rằng, "nếu nhìn ra ngoài Greenland ngay bây giờ, bạn sẽ thấy các tàu khu trục của Nga. Có các tàu khu trục của Trung Quốc… có tàu ngầm Nga ở khắp mọi nơi. Chúng ta sẽ không để Nga hay Trung Quốc xâm lược Greenland, và đó là điều họ sẽ làm nếu chúng ta không làm vậy."
Các quan chức NATO đã lặng lẽ bác bỏ những tuyên bố đó, với một nhà ngoại giao nói rằng "chúng tôi không thấy bất kỳ hoạt động nào của Trung Quốc" xung quanh Greenland, trong khi các hoạt động của Nga ở vùng Cực Bắc không thay đổi đáng kể và hầu như không có sự hiện diện nào của Nga gần Greenland.
Ai trả tiền?
Trong một bài đăng gần đây trên mạng xã hội, Tổng thống Trump nói rằng "Hoa Kỳ sẽ không phải trả bất kỳ chi phí nào" cho việc xây dựng lại các căn cứ và mở rộng sự hiện diện của Mỹ tại Greenland.
Không rõ điều đó sẽ hoạt động như thế nào vì một căn cứ được đề cập trong thỏa thuận đã bị Mỹ đóng cửa vào những năm 1950, còn căn cứ kia là một cơ sở nhỏ của Đan Mạch hiện đang nuôi chó kéo xe trượt tuyết.
Việc này phụ thuộc vào mục đích sử dụng các căn cứ đó của Ngũ Giác Đài, nhưng nhiều khả năng các dự án sẽ là xây dựng các hệ thống phòng không và radar mới, điều này sẽ đòi hỏi chi phí xây dựng rất lớn. Thỏa thuận không quy định cơ chế chia sẻ chi phí giữa ba bên. Ngũ Giác Đài không phản hồi yêu cầu bình luận.
Ai thắng?
Đầu năm nay, Đan Mạch đối mặt với nguy cơ mất hoàn toàn lãnh thổ này. Mặc dù niềm tin của người Âu Châu vào Mỹ với tư cách là đồng minh đã bị ảnh hưởng lâu dài, nhưng theo văn bản pháp lý, nguy cơ trước mắt đối với lãnh thổ Đan Mạch hiện đã không còn.
Thay vào đó, thỏa thuận này khẳng định rõ ràng chủ quyền của Đan Mạch và quyền tự quyết của Greenland — bao gồm cả khả năng lựa chọn độc lập khỏi Đan Mạch. Ngoài ra, thỏa thuận cũng công nhận rõ ràng sự cần thiết phải bảo vệ môi trường "nguyên sơ" của vùng lãnh thổ và các quyền văn hóa, xã hội và kinh tế của người dân Greenland.
"Đọc bản báo cáo này, người ta tự hỏi tại sao lại làm ầm ĩ lên vì một vấn đề nhỏ nhặt như vậy, trong khi việc này đáng lẽ có thể được giải quyết ngay từ đầu," Grégoire Roos, giám đốc chương trình Âu Châu tại viện nghiên cứu Chatham House ở Luân Đôn, cho biết. "Tôi cũng nghĩ rằng Đan Mạch đã giải quyết vấn đề rất khéo léo — sạch sẽ và ngoại giao. Có người gọi đó là phong cách Âu Châu tinh tế."
Phát biểu trước khi thỏa thuận được công bố, Daniel Fried của Hội đồng Đại Tây Dương, cựu đại sứ Mỹ tại Ba Lan, cho biết thỏa thuận này mang lại cho Washington điều gì đó mà họ có thể gọi là thắng lợi, và "cho phép Mỹ rút lui khỏi những lời đe dọa gây hại và vô nghĩa của mình".
Liệu nó có bền lâu?
Một mối lo ngại dai dẳng trong giới ngoại giao Âu Châu và các quan chức Đan Mạch trong khoảng một năm trở lại đây là ngay cả khi Tổng thống Trump không phải lúc nào cũng nói về Greenland, ông vẫn không quên tham vọng của mình về việc Mỹ sẽ sở hữu vùng đất này.
Trong quá khứ, Tổng thống Trump không phải lúc nào cũng tuân thủ các thỏa thuận đã ký kết nếu ông cảm thấy có thể đạt được các điều khoản tốt hơn — đây cũng là một nguồn lo ngại dai dẳng trong giới ngoại giao Âu Châu.
Có thể yếu tố quan trọng nhất sẽ là nguồn lực của Tòa Bạch Ốc. Với rất nhiều ưu tiên khác — từ Iran, đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, đến cuộc đua tổng thống tiếp theo — liệu Tổng thống Trump hay các đồng minh của ông có đủ thời gian và tâm trí để xem xét lại những sửa đổi đối với một thỏa thuận đã có hiệu lực 75 năm hay không?
[Politico: Trump’s Greenland deal, explained]
10. Các cuộc tấn công của Nga vào Kyiv khiến 7 người thiệt mạng, trong đó có một cậu bé 14 tuổi, và 59 người bị thương khi các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa tiếp tục diễn ra suốt cả ngày.
Tính đến 8 giờ tối giờ địa phương ngày 25 tháng 9, ít nhất bảy người, trong đó có hai trẻ em, đã thiệt mạng và 59 người khác bị thương trong các cuộc tấn công của Nga vào Kyiv, phát ngôn nhân cảnh sát quốc gia Ukraine, Đại Úy Alyona Lyutnytska, cho biết như trên sáng Thứ Bẩy, 26 Tháng Chín.
Nga tiếp tục các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa không ngừng nghỉ vào Kyiv, tấn công một tòa nhà chung cư 16 tầng ở quận Pecherskyi trung tâm đêm qua, khiến một cậu bé 14 tuổi thiệt mạng và 7 người bị thương. Theo Cảnh sát Quốc gia, máy bay điều khiển từ xa đã đâm vào tòa nhà giữa tầng 10 và 11.
Thị trưởng Vitali Klitschko cho biết vào khoảng 4 giờ chiều rằng 25 người, trong đó có hai trẻ em, đã phải vào bệnh viện.
Giới chức trách đã thông báo về mối đe dọa từ máy bay điều khiển từ xa vào khoảng 4 giờ 50 phút sáng, ngay sau khi chuông báo động không kích vang lên do mối đe dọa từ hỏa tiễn.
Bộ Ngoại giao Israel tại Ukraine cho biết, cậu bé thiệt mạng là công dân Israel, còn mẹ cậu cũng bị thương trong vụ tấn công.
Khoảng 9 giờ 30 phút sáng giờ địa phương, người dân Kyiv lại được đặt trong tình trạng báo động không kích, sau đó là một vụ nổ. Ông Klitschko cho biết một máy bay điều khiển từ xa của Nga đã tấn công một tòa nhà năm tầng không phải là nơi ở tại quận Shevchenkivskyi.
Khoảng 2 giờ 30 chiều, thủ đô đã được đặt trong tình trạng báo động không kích lần thứ bảy kể từ đầu ngày.
Theo các báo cáo sơ bộ, trong vụ tấn công ban ngày, một máy bay điều khiển từ xa đã tấn công một tòa nhà văn phòng ở quận Solomianskyi, khiến 4 người thiệt mạng và 7 người khác bị thương, trong đó có một trẻ em, tại bãi đậu xe của tòa nhà.
Một cơ sở y tế ở quận Solomianskyi cũng bị hư hại. Ông Klitshchko cho biết, ba người, trong đó có một trẻ em, đã được đưa vào bệnh viện sau khi bị thương gần đó.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã bày tỏ lời chia buồn sâu sắc nhất tới gia đình các nạn nhân thiệt mạng và bị thương trong các vụ tấn công.
Theo Tổng thống Zelenskiy, một kho hàng của McDonald’s tại thành phố Brovary thuộc tỉnh Kyiv cũng bị hư hại trong vụ tấn công.
"Người Nga liên tục mở rộng chiến dịch leo thang của họ: các doanh nghiệp Mỹ và các doanh nghiệp khác, trung tâm dữ liệu, nhà cung cấp internet - đối với Nga, cuộc sống bình thường tự thân nó đã là một mục tiêu", Tổng thống Zelenskiy nói.
[Kyiv Independent: Russian attacks on Kyiv kill 7, including 14-year-old boy, injure 59 as drone strikes continue into daytime]
11. Liên Hiệp Âu Châu phê duyệt 3 tỷ euro cho Ukraine sau khi Kyiv thông qua các cải cách.
Ngày 24 tháng 9, các bộ trưởng Liên Hiệp Âu Châu đã phê duyệt khoản hỗ trợ 3 tỷ euro (3,4 tỷ đô la) cho Ukraine, một ngày sau khi các đại sứ xác nhận rằng Kyiv đã hoàn thành thành công 10 cải cách khác nhau.
Khoản tiền này đã được phê duyệt hai ngày sau cuộc gặp giữa Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen và Tổng thống Volodymyr Zelenskiy, trong đó bà Leyen nhắc nhở Ukraine cần giải ngân 37 tỷ euro (42 tỷ đô la) vào năm 2026 bằng cách thực hiện các cải cách đã được đồng ý trước đó.
Các cải cách này là một phần của Kế hoạch Ukraine, một danh sách các thay đổi mà Kyiv phải thực hiện để thúc đẩy nỗ lực gia nhập Liên Hiệp Âu Châu, cải thiện hoạt động của các thể chế nhà nước và mở khóa hỗ trợ tài chính từ khối này.
Trong số các cải cách được thông qua có những thay đổi về tuyên bố liêm chính của thẩm phán, việc bổ nhiệm một nhà điều hành thị trường điện mới, một kế hoạch nhằm khắc phục khoảng cách tiền lương giữa nam và nữ, và các luật nhằm cải thiện an toàn giao thông.
Phạm vi chủ đề của những cải cách đó cho thấy Kế hoạch Ukraine có tính chất bao quát như thế nào, nhưng cũng cho thấy vẫn còn rất nhiều việc cần phải làm.
Tốc độ cải cách của Ukraine đã chậm hơn so với thời hạn dự kiến trong kế hoạch, nhưng yêu cầu thanh toán lần này của Kyiv bao gồm cả những cải cách bị trì hoãn và một số cải cách đã hoàn thành trước thời hạn.
Áp lực cải cách vẫn rất cao, bởi vì Chủ tịch Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã chỉ ra khoản thiếu hụt ngân sách 27 tỷ đô la cho năm 2026, và Liên Hiệp Âu Châu liên tục tập trung vào việc làm thế nào để cải cách có thể giải phóng nguồn tài chính.
Tuần trước, các Ủy viên Kinh tế và Mở rộng của Liên Hiệp Âu Châu, Valdis Dombrovskis và Marta Kos, đã viết thư cho nghị viện, kêu gọi đẩy nhanh tiến độ.
Họ nhắc lại rằng hơn 20 tỷ euro (23 tỷ đô la) có thể được giải ngân vào cuối năm 2026 nếu họ thực hiện tất cả các cam kết liên quan đến Kế hoạch Ukraine và một nguồn tài trợ thứ hai - Hỗ trợ tài chính vĩ mô.
Thỏa thuận thứ hai đi kèm với những điều kiện tương tự như những điều kiện mà một nhà tài trợ quan trọng khác, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đặt ra cho Ukraine.
Hai ủy viên cũng cung cấp một phụ lục nêu chi tiết danh sách 21 cải cách cần thực hiện, trong đó có chiến lược chống tham nhũng, đơn giản hóa việc quản lý thuế giá trị gia tăng, gọi tắt là VAT cho các doanh nghiệp cá thể và một số quy định nhằm ngăn chặn rửa tiền.
Các bộ trưởng cũng chính thức hoan nghênh khoản đóng góp 92 triệu euro (104 triệu đô la) từ Na Uy, nhằm khuyến khích hơn nữa Ukraine tiếp tục thực hiện các cải cách.
[Kyiv Independent: EU approves 3 billion euros for Ukraine after Kyiv passes reforms]
12. Liên Hiệp Âu Châu cảnh báo về "khủng hoảng giá năng lượng".
Theo một bức thư mà hãng tin Reuters thu được, nhà lãnh đạo cơ quan năng lượng của Liên minh Âu Châu cho biết cuộc chiến tranh với Iran đang gây ra "khủng hoảng giá cả" cho Liên Hiệp Âu Châu.
Theo Reuters, Ủy viên Âu Châu phụ trách Năng lượng và Nhà ở Dan Jorgensen đã kêu gọi các nước Liên Hiệp Âu Châu xem xét các biện pháp hạn chế nhu cầu năng lượng trước tác động của chiến tranh đối với thị trường dầu khí.
Trong thư gửi các bộ trưởng năng lượng khác của Liên Hiệp Âu Châu, Jorgensen viết: "Chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng giá cả liên quan đến một cuộc khủng hoảng nguồn cung", đồng thời nói thêm: "Tôi mời các vị xem xét việc thực hiện hoặc tiếp tục thực hiện các biện pháp có thể duy trì việc bơm khí vào kho dự trữ hoặc giảm nhu cầu khí đốt và điện năng trong thời gian cần thiết."
[CBSNews: EU warns of energy "price crisis," report says]
1. Tổng thống Zelenskiy cho biết Ukraine đã đạt được thỏa thuận ‘rất quan trọng’ về lô hỏa tiễn Patriot mới.
Tại cuộc gặp với đại diện cộng đồng người Ukraine tại Hoa Kỳ, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết Ukraine đã đạt được một thỏa thuận "rất quan trọng" về gói hỏa tiễn sắp tới dành cho hệ thống phòng không Patriot do Mỹ sản xuất.
Thông báo này được đưa ra trong bối cảnh Kyiv đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng các loại vũ khí phòng không, đặc biệt là hỏa tiễn Patriot - loại vũ khí duy nhất có khả năng đánh chặn hỏa tiễn đạn đạo của Nga một cách đáng tin cậy.
Tổng thống Zelenskiy nói với các lãnh đạo cộng đồng người Ukraine tại Mỹ rằng sẽ sớm có thêm hỏa tiễn đánh chặn Patriot được chuyển đến Kyiv, mặc dù ông không tiết lộ quốc gia nào sẽ cung cấp các hỏa tiễn này.
Theo hãng tin European Pravda của Ukraine, tổng thống cho biết: "Hôm nay chúng tôi đã đạt được thỏa thuận — tôi sẽ không nói là với ai — về việc vận chuyển hỏa tiễn cho hệ thống Patriot."
"Đây là một quyết định quan trọng, rất quan trọng. Chúng ta đã đạt được kết quả."
Tổng thống Zelenskiy không nói rõ khi nào hỏa tiễn sẽ được giao hoặc Ukraine sẽ nhận được bao nhiêu hỏa tiễn.
Thông tin này được đưa ra trong chuyến thăm Mỹ của Tổng thống Zelenskiy, nơi ông đã phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và gặp gỡ nhiều nhà lãnh đạo thế giới, trong đó có Tổng thống Donald Trump. Tổng thống Zelenskiy và Tổng thống Trump đã thảo luận về nhu cầu cấp thiết của Ukraine đối với hệ thống hỏa tiễn Patriot khi mùa đông đến gần, nhưng không có quyết định cụ thể nào được công bố sau cuộc hội đàm.
Các tài liệu của Quốc hội ngày 15 tháng 9 cho thấy Mỹ sẵn sàng bật đèn xanh cho việc chuyển giao 10 hỏa tiễn đánh chặn Patriot từ Đức sang Ukraine, mặc dù chưa rõ chính xác khi nào Kyiv sẽ nhận được lô hàng này. Lô hàng trị giá 29,6 triệu đô la.
Ngày 18 tháng 9, Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo đã phê duyệt khả năng bán thiết bị phòng không cho Ukraine trị giá 2,7 tỷ đô la. Gói hàng bao gồm hỏa tiễn S-300 Clone và GAM-67, hệ thống radar chống máy bay điều khiển từ xa, hệ thống phòng không dẫn đường bằng laser tầm xa, radar chống máy bay điều khiển từ xa và bộ dụng cụ cải tiến bệ phóng di động.
Kể từ khi Tổng thống Trump tái đắc cử vào năm 2025, Mỹ đã chấm dứt việc tài trợ quốc phòng quy mô lớn và cung cấp vũ khí cho Ukraine, khiến Kyiv phải dựa vào sự hỗ trợ từ các đối tác khác để có được các hệ thống vũ khí quan trọng.
Việc tìm mua hỏa tiễn đánh chặn Patriot càng trở nên khó khăn hơn do cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran đã làm chuyển hướng nguồn cung sang Trung Đông.
[Kyiv Independent: Ukraine strikes 'very important' deal on new batch of Patriot missiles, Zelensky says]
2. Liên Hiệp Âu Châu trừng phạt cựu giám đốc RT France, Xenia Fedorova
Liên minh Âu Châu đã đưa cựu giám đốc đài RT Pháp, Xenia Fedorova, vào danh sách trừng phạt, cáo buộc bà lan truyền tuyên truyền của Điện Cẩm Linh trên các phương tiện truyền thông Pháp như một phần trong chiến dịch hỗn hợp rộng lớn hơn của Nga chống lại Âu Châu.
Hội đồng Liên minh Âu Châu cho biết trong một tuyên bố được công bố hôm Thứ Sáu, 25 Tháng Chín, rằng bà Fedorova đã tham gia vào hoạt động thao túng và can thiệp thông tin nước ngoài, gọi tắt là FIMI, điều này có thể làm suy yếu nền dân chủ và sự ổn định tại các quốc gia thành viên của khối.
Ở tuổi 46, Fedorova vẫn là một người đàn bà đẹp, có thể nói là rất đẹp đến mức hớp hồn hoàn toàn tài phiệt truyền thông Pháp Vincent Bolloré, người thường được gọi là nhà tạo vương của Pháp, nghĩa là sự ủng hộ hay không ủng hộ của ông ta có thể thăng tiến hay phá nát sự nghiệp chính trị của một người. Bộ Nội Vụ Pháp và Liên Hiệp Âu Châu cho rằng nhờ Vincent Bolloré, Fedorova đã có thể thao túng dư luận Pháp và Âu Châu. Vì thế, họ đã ra lệnh trừng phạt bà ta.
Fedorova sinh ra tại Kazan, thuộc Nga Xô viết. Bà gia nhập cơ quan truyền thông nhà nước Nga Russia Today, gọi tắt là RT, vào năm 2006. Tháng 12 năm 2017, bà trở thành người đứng đầu chi nhánh RT France mới được thành lập. Sau khi RT France bị cấm hoạt động tại Pháp vào năm 2022 và phải đóng cửa vào năm sau đó, Fedorova vẫn tiếp tục ở lại quốc gia này. Sau đó, bà trở thành bình luận viên thường xuyên cho một số kênh truyền thông bảo thủ của Pháp thuộc sở hữu của Vincent Bolloré, bao gồm CNews, Europe 1 và Le Journal du Dimanche. Ở vai trò này, bà được cho là người lan truyền các quan điểm của chính phủ Nga, bao gồm cả những nội dung liên quan đến cuộc chiến Nga-Ukraine.
Fedorova có nhiều người tình, nhưng chưa bao giờ kết hôn và được cho là đã được đào tạo để trở thành một điệp viên thượng thặng của trùm mafia Vladimir Putin.
Theo các lệnh trừng phạt, tài sản của bà tại Liên Hiệp Âu Châu sẽ bị đóng băng, và công dân cũng như các công ty Liên Hiệp Âu Châu không được phép cung cấp tiền hoặc các nguồn lực kinh tế khác cho bà.
Tính đến thứ Năm, việc bà bị đưa vào danh sách đã nâng tổng số cá nhân và thực thể bị tấn công theo quy định của Liên Hiệp Âu Châu về các hoạt động gây bất ổn của Nga lên 81 người, cùng với 20 thực thể khác.
Từ RT France đến lệnh trục xuất
Với tư cách là chủ tịch kiêm giám đốc thông tin tại RT France – chi nhánh tại Pháp của mạng lưới truyền hình nhà nước Nga RT – bà Fedorova đã giúp lan truyền đường lối biên tập của đài truyền hình nhà nước Nga, bao gồm cả những thông điệp ủng hộ Mạc Tư Khoa về cuộc chiến ở Ukraine.
Vai trò của bà đã vấp phải sự chỉ trích từ chính phủ Pháp trong nhiều năm, cho đến khi RT France cuối cùng đóng cửa vào năm 2023, khoảng một năm sau khi Nga tiến hành cuộc xâm lược toàn diện.
Sau khi RT bị cấm phát sóng tại Liên Hiệp Âu Châu, bà vẫn ở lại Pháp và trở thành nhà bình luận thường xuyên cho các phương tiện truyền thông thuộc sở hữu của tỷ phú bảo thủ người Pháp Vincent Bolloré, bao gồm CNews, Europe1 và Le JDNews.
Những quan điểm đó cũng bao gồm sự ủng hộ của phương Tây đối với Kyiv, NATO và quan hệ ngoại giao giữa Nga và Liên Hiệp Âu Châu.
Vào năm 2024, giấy phép cư trú tại Pháp của cô ấy được gia hạn thêm 10 năm.
Không lâu sau đó, Liên Hiệp Âu Châu đã thiết lập khuôn khổ trừng phạt hiện đang được sử dụng chống lại bà, nhắm vào những kẻ đứng sau các chiến dịch thông tin sai lệch của Nga khi phương Tây ngày càng chuẩn bị cho sự leo thang các cuộc tấn công hỗn hợp của Nga.
Ngày 29 tháng 7, Pháp ra lệnh cho Fedorova rời khỏi đất nước và quản thúc tại gia, yêu cầu bà phải trình diện cảnh sát hàng ngày.
Theo tờ Le Monde, lệnh trục xuất mô tả bà là "một kênh truyền tải các chiến dịch tung tin giả do chính quyền Nga dàn dựng".
Luật sư của cô gọi quyết định này là sự vi phạm nghiêm trọng quyền tự do báo chí và cho biết cô sẽ kháng cáo, trong khi các nhà tuyển dụng của cô cũng chỉ trích động thái này.
Áp lực của Nga lên Pháp
Các lệnh trừng phạt được đưa ra trong bối cảnh các mạng lưới thông tin sai lệch của Nga đang tấn công vào các ứng cử viên trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp vào tháng 4 năm 2027, theo phân tích của Trung tâm Truyền thông Chiến lược Ukraine.
Theo các báo cáo, Pháp đã trở thành quốc gia bị Nga tấn công thao túng thông tin nhiều thứ hai sau Ukraine.
Hôm thứ Ba, Liên Hiệp Âu Châu đã đồng ý gia hạn các lệnh trừng phạt đối với Nga trong ba năm thay vì sáu đến mười hai tháng như thường lệ, theo thỏa hiệp là loại bỏ hai nhà tài phiệt Nga khỏi danh sách đen – Alisher Usmanov và Mikhail Fridman – cả hai đều có liên hệ mật thiết với nỗ lực chiến tranh của Mạc Tư Khoa và Putin.
Latvia và Estonia đã đáp trả bằng cách áp đặt các biện pháp trừng phạt quốc gia đối với cả hai người, trong khi Anh chỉ trích động thái của Liên Hiệp Âu Châu và tuyên bố sẽ tiếp tục duy trì các biện pháp trừng phạt của mình.
Hôm thứ Năm, Marine Le Pen, lãnh đạo đảng Tập hợp Quốc gia cực hữu và ứng cử viên hàng đầu để kế nhiệm Emmanuel Macron trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm 2027, cho biết bà sẽ chấm dứt viện trợ tài chính cho Ukraine và phủ nhận việc Pháp đang trong tình trạng chiến tranh với Nga.
[Kyiv Post: EU Sanctions Former RT France Chief Xenia Fedorova]
3. Cơ quan tình báo Đan Mạch cho biết, máy bay điều khiển từ xa, hỏa tiễn hoặc binh lính Nga có thể thử thách NATO trong vòng vài tháng tới.
Cơ quan tình báo quân sự Đan Mạch cảnh báo rằng Nga có thể tăng cường các cuộc tấn công chống lại phương Tây và có khả năng phát động một chiến dịch quân sự hạn chế nhằm vào một quốc gia thành viên NATO trong vòng vài tháng tới.
Cơ quan Tình báo Quốc phòng Đan Mạch, gọi tắt là DDIS đã đưa ra cảnh báo trong một báo cáo đánh giá mối đe dọa được công bố vào thứ Năm, ngày 24 tháng 9.
Hãng Reuters đưa tin rằng DDIS dự đoán Mạc Tư Khoa sẽ tiến hành các cuộc tấn công hỗn hợp thường xuyên hơn nhằm vào các nước NATO và phương Tây, với hậu quả tiềm tàng nghiêm trọng hơn so với các hoạt động trước đây.
Báo cáo cũng chỉ ra "nguy cơ thấp nhưng ngày càng tăng" rằng Nga có thể tiến hành một cuộc tấn công quân sự hạn chế nhằm vào một hoặc nhiều quốc gia NATO giáp biên giới với Nga trong khi vẫn tiếp tục cuộc xâm lược Ukraine.
Các cơ quan tình báo Âu Châu cũng đã cảnh báo trong nhiều tháng về những động thái leo thang hạn chế của Nga ở khu vực Baltic.
Vào tháng Tư, chỉ huy quân sự hàng đầu của Thụy Điển cảnh báo rằng Nga có thể thử thách NATO bằng cách chiếm giữ một trong số hàng ngàn hòn đảo Baltic. Vào tháng Sáu, Latvia cho biết họ đã phát hiện những dấu hiệu cho thấy Nga có thể đang chuẩn bị "các hành động khiêu khích quân sự" chống lại các quốc gia Baltic hoặc Ba Lan.
Một cuộc tấn công hạn chế của Nga có thể trông như thế nào?
Đánh giá của Đan Mạch phân biệt một chiến dịch hạn chế với một cuộc xâm lược thông thường nhằm xâm lược toàn bộ một quốc gia.
Theo Giám đốc DDIS Thomas Ahrenkiel, các kịch bản có thể xảy ra bao gồm các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa hoặc hỏa tiễn riêng lẻ nhằm vào cơ sở hạ tầng được sử dụng để hỗ trợ Ukraine.
Nga có thể tìm cách miêu tả cuộc tấn công đó như một tai nạn do chiến tranh điện tử của Ukraine gây ra hoặc tiến hành một chiến dịch giả mạo sử dụng máy bay điều khiển từ xa do Ukraine sản xuất.
Một kịch bản khác có thể liên quan đến việc điều động một số lượng nhỏ binh lính, có thể không mang phù hiệu quốc gia, vào vùng biên giới của một quốc gia NATO với lý do bảo vệ một nhóm thiểu số người Nga.
"Mục đích không phải là chiếm đoạt đất nước, mà là chia rẽ NATO", Ahrenkiel nói.
Một chiến dịch như vậy có thể kiểm tra xem các thành viên NATO có sẵn sàng phản ứng tập thể hay không và liệu một cuộc tấn công không rõ ràng hoặc có thể phủ nhận có kích hoạt điều khoản phòng thủ chung theo Điều 5 của liên minh hay không.
Điều khoản này coi một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào một thành viên liên minh là một cuộc tấn công nhằm vào tất cả các thành viên. Tổng thư ký NATO Mark Rutte gần đây cho biết liên minh cố tình tránh xác định ngưỡng chính xác để kích hoạt Điều 5 vì làm như vậy có thể giúp các đối thủ tính toán xem họ có thể leo thang đến mức nào.
Theo đánh giá của Đan Mạch, Mạc Tư Khoa có thể sẵn sàng thử thách NATO hơn nếu họ kết luận rằng các thành viên đang bị chia rẽ về chính trị hoặc Mỹ không có khả năng hoặc không muốn bảo vệ các đồng minh Âu Châu của mình.
[Politico: Russian Drones, Missiles or Troops Could Test NATO Within Months, Danish Intelligence Says]
4. Tổng thống Trump viện dẫn an ninh quốc gia và việc đưa tin về cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ để biện minh cho lệnh cấm báo chí.
Tổng thống Trump đang yêu cầu các tòa án liên bang cho phép ông lựa chọn những hãng truyền thông nào được phép tiếp cận Tòa Bạch Ốc và khởi động một chiến dịch pháp lý nhằm lật đổ một tiền lệ đã tồn tại hàng thập niên, vốn cung cấp sự bảo vệ rộng rãi cho các nhà báo làm việc tại Cánh Tây của Tòa Bạch Ốc.
Trong một hồ sơ tòa án được đệ trình tối thứ Ba, Bộ Tư pháp đã bảo vệ quyết định của Tổng thống Trump về việc cấm POLITICO, CNN và MS NOW vào Tòa Bạch Ốc, mô tả đây là động thái xuất phát từ việc các hãng truyền thông này công bố thông tin nhạy cảm.
"Tổng thống đã xác định rằng các nguyên đơn đã không duy trì các tiêu chuẩn báo chí chuyên nghiệp tối thiểu bằng cách công bố thông tin mật và an ninh quốc gia," bản tóm tắt của Tổng thống Trump nêu rõ.
Bản đệ trình, nhằm đáp trả vụ kiện khẩn cấp do ba tổ chức tin tức đệ trình, yêu cầu khôi phục ngay lập tức quyền tiếp cận Cánh Tây của Tòa Bạch Ốc, đã trích dẫn một số bài báo của mỗi cơ quan, bao gồm các bài viết về tình hình chiến tranh với Iran, kho dự trữ đạn dược của Mỹ đang cạn kiệt và chi tiết về cuộc điều tra rò rỉ thông tin liên quan đến những câu chuyện không hay về Giám đốc FBI Kash Patel. Bản đệ trình chỉ trích POLITICO vì đã công bố một tài liệu mà Cơ quan Mật vụ cung cấp cho các Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa để biện minh cho việc xây dựng phòng khiêu vũ mới của tổng thống tại Tòa Bạch Ốc.
Bản tóm tắt của Bộ Tư pháp cũng đính kèm các bức thư mà chính quyền được tường trình đã gửi cho từng hãng truyền thông vào đầu ngày thứ Ba, viện dẫn những câu chuyện đó làm cơ sở cho quyết định của Tổng thống Trump về việc thu hồi quyền tiếp cận Tòa Bạch Ốc của họ, và cho họ thời hạn đến thứ Sáu để phản đối.
Tuy nhiên, những bức thư này — không có chữ ký và không được in trên giấy tiêu đề chính thức — không khẳng định bất kỳ câu chuyện nào được trích dẫn có chứa thông tin mật. Thêm vào đó, một số ví dụ dường như không liên quan gì đến an ninh quốc gia. Bức thư gửi cho POLITICO phàn nàn về một bài báo mô tả "không khí" không tốt tại đại hội giữa nhiệm kỳ của đảng Cộng hòa gần đây ở Texas.
Các luật sư của Bộ Tư pháp miễn cưỡng thừa nhận rằng những bức thư được gửi sau sự việc không thể đáp ứng các yêu cầu của tiền lệ Sherrill v. Knight của Tòa phúc thẩm khu vực DC đã có hiệu lực 49 năm, trong đó kết luận rằng chính phủ không thể chọn lọc cấm các hãng tin tức tiếp cận không gian báo chí của Tòa Bạch Ốc dựa trên quan điểm được tường trình của các bài báo của họ.
Bộ Tư pháp đang yêu cầu tòa án lật ngược phán quyết Sherrill — và cùng với đó là quyền hợp pháp của các hãng tin về việc tiếp cận bình đẳng khu vực báo chí Tòa Bạch Ốc. Bộ này đang thúc giục tòa án mở rộng một phán quyết khác của Tòa án phúc thẩm khu vực DC năm ngoái, trong đó cho rằng tổng thống có thể có thẩm quyền hạn chế một cách có chọn lọc việc tiếp cận các khu vực nhạy cảm nhất của khu phức hợp Tòa Bạch Ốc, chẳng hạn như Phòng Bầu dục.
POLITICO, CNN và MS NOW đã đệ đơn kiện hôm thứ Hai, cho rằng việc thu hồi thẻ tác nghiệp của các phóng viên vi phạm Tu chính án thứ nhất. Họ cũng đang yêu cầu lệnh cấm tạm thời buộc Tòa Bạch Ốc phải khôi phục quyền tiếp cận trong khi vụ kiện đang được giải quyết.
Thẩm phán Tòa án Quận Hoa Kỳ Timothy Kelly, người được Tổng thống Trump bổ nhiệm, đã ấn định phiên điều trần vào lúc 3:30 chiều thứ Tư.
Luật sư của các hãng tin, Theodore Boutrous Jr., cho biết bản tóm tắt của Bộ Tư pháp không gây ấn tượng.
"Đây là một phản hồi vô cùng yếu kém. Chúng tôi mong chờ phiên điều trần", ông nói.
Thẩm phán Kelly từng chủ trì một vụ kiện tương tự vào năm 2018, bắt nguồn từ việc Tòa Bạch Ốc dưới thời Tổng thống Trump thu hồi thẻ tác nghiệp của phóng viên Jim Acosta của CNN tại Tòa Bạch Ốc sau một tranh chấp về hành động của ông tại một cuộc họp báo. Vị thẩm phán đã nhanh chóng đưa ra phán quyết có lợi cho Acosta, yêu cầu Tòa Bạch Ốc trả lại thẻ tác nghiệp cho ông.
Kelly không có cơ hội tìm hiểu chi tiết về vụ việc, bởi vì nó đã bị hủy bỏ chỉ vài ngày sau khi các quan chức tuyên bố sẽ từ bỏ việc tước bỏ bằng cấp của Acosta.
Hôm thứ Hai, Tổng thống Trump đã ra tín hiệu rằng ông nghĩ Kelly sẽ phán quyết chống lại ông trong cuộc tranh chấp hiện tại và lập trường của ông chỉ có thể được chứng minh là đúng đắn thông qua việc kháng cáo.
[Kyiv Independent: Trump cites national security, midterms coverage to defend press ban]
5. Thượng viện sẽ bỏ phiếu về nghị quyết nhằm chấm dứt chiến tranh Iran.
Ngày càng lo ngại về cuộc chiến với Iran, các Thượng Nghị Sĩ sẽ bỏ phiếu về một nghị quyết về quyền lực chiến tranh nhằm ngăn chặn hành động quân sự của Tổng thống Trump, vốn bị đổ lỗi phần lớn cho sự tăng vọt giá nhiên liệu và trở thành điểm nóng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.
Thượng Nghị Sĩ Tim Kaine, đảng Dân chủ, tiểu bang Virginia, người đã thúc đẩy nghị quyết về quyền lực chiến tranh, nói: "Tổng thống Trump đã ráo riết đổ lỗi sự tăng vọt giá nhiên liệu cho các cuộc tấn công dữ dội của Ukraine vào các nhà máy lọc dầu Nga. Tuy nhiên, những người tỉnh táo đều nhận ra rằng chính cuộc chiến của ông với Iran đã gây ra hàng loạt vấn đề, nổi cộm nhất là sự tăng vọt giá nhiên liệu."
Cuộc bỏ phiếu tại Thượng viện, diễn ra vài ngày sau bài phát biểu đầy khoa trương của Tổng thống Trump trước Liên Hiệp Quốc, trong đó ông đe dọa "tiêu diệt" Iran, có thể là cơ hội cuối cùng để các nhà lập pháp chính thức lên tiếng về cuộc chiến trước tháng 11. Ngày càng nhiều đảng viên Cộng hòa quay lưng lại với tổng thống khi cuộc chiến kéo dài, một phản ứng hiếm hoi nhằm đáp trả Tổng thống Trump, trong bối cảnh họ đang vận động tranh cử để giành quyền kiểm soát Quốc hội.
Thượng Nghị Sĩ Tim Kaine, nói về các Thượng nghị sĩ Đảng Cộng Hòa rằng: "Họ đã dung túng cho cuộc chiến tranh phi lý và bất hợp pháp này suốt nhiều tháng trời mà không hề lắng nghe cử tri của mình. Và giờ thì cuối cùng họ cũng đã lắng nghe."
Theo một cuộc khảo sát mới của hãng tin AP phối hợp với KFF, khoảng một nửa cử tri nông thôn Mỹ tin rằng nền kinh tế hiện nay tồi tệ hơn so với thời điểm Tổng thống Trump nhậm chức. Chi phí thực phẩm, xăng dầu và chăm sóc sức khỏe là những vấn đề gây bức xúc hàng đầu đối với cử tri nông thôn.
"Chúng ta phải phá vỡ vòng luẩn quẩn này," Thượng Nghị Sĩ Thom Tillis, thuộc đảng Cộng hòa, cho biết. Ông nói sẽ bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết chấm dứt chiến tranh. Ông Tillis không tranh cử lại vào tháng 11 này sau khi bị Tổng thống Trump chỉ trích.
Các nghị quyết về quyền lực chiến tranh chủ yếu là những tuyên bố chính trị, không có đầy đủ hiệu lực pháp luật, nhưng là một trong những công cụ sắc bén nhất mà Hạ viện và Thượng viện có để bày tỏ sự không đồng tình với Tòa Bạch Ốc, ngoài việc cắt giảm ngân sách cho các hành động quân sự của Tổng thống Trump. Là các nghị quyết, chúng không được trình lên tổng thống để ký.
Theo hãng tin Tân Hoa Xã, hôm thứ Năm, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi Tổng thống Trump nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến với Iran thông qua đàm phán, trong khi cuộc gặp giữa hai người đang diễn ra tại Tòa Bạch Ốc.
Hãng thông tấn nhà nước Tân Hoa Xã đưa tin, sau khi Tổng thống Trump dành cho người đồng cấp Trung Quốc một buổi tiếp đón trọng thể tại Washington, ông Tập Cận Bình đã kêu gọi Mỹ và Iran giải quyết "các vấn đề thông qua đàm phán càng sớm càng tốt".
[CBSNews: Senate to vote on resolution to halt the Iran war]
6. Thủ tướng Israel Netanyahu tuyên bố với Liên Hiệp Quốc rằng "chúng tôi sẽ tiếp tục bảo vệ nhà nước của mình" trong bối cảnh nhiều nhà lãnh đạo khác bỏ ra ngoài.
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm thứ Năm trong bối cảnh đất nước ông đang phải đối mặt với sự lên án rộng rãi và sự cô lập ngày càng tăng do các hành động của Israel tại Dải Gaza và Bờ Tây bị tạm chiếm.
Khi Netanyahu bước lên sân khấu, nhiều người tham dự đã bỏ đi.
Netanyahu đã phản ứng lại và bắt đầu bài phát biểu bằng cách nói rằng: "Nếu vẫn còn những kẻ hèn nhát về mặt đạo đức nào chưa rời khỏi hội trường này, xin hãy rời đi ngay bây giờ".
Ông Netanyahu đã đến New York vào sáng sớm thứ Năm và dự kiến sẽ rời đi chỉ vài giờ sau bài phát biểu của mình.
Các nhà lãnh đạo từ Âu Châu và Trung Đông, bao gồm Pháp, Anh, Jordan, Syria, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ, đã dành ít nhất một phần thời gian của họ trên bục phát biểu của Liên Hiệp Quốc hôm thứ Tư để lên án mạnh mẽ Israel.
Các nhà phân tích dự đoán rằng Netanyahu sẽ tận dụng sự chú ý gay gắt dành cho Israel để chứng minh khả năng bảo vệ đất nước mình trên trường quốc tế chỉ vài tuần trước cuộc bầu cử Israel đầy cạnh tranh.
Đây là chuyến đi ngắn ngày bất thường đến New York của ông Netanyahu trong thời gian diễn ra Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Ông thường tận dụng các chuyến thăm mùa thu để gặp gỡ các nhà lãnh đạo thế giới khác, đặc biệt là tổng thống và ngoại trưởng Mỹ.
Nhắc đến vụ tấn công khủng bố do Hamas thực hiện ngày 7 tháng 10 năm 2023, Netanyahu nói rằng thay vì sụp đổ, "chúng tôi đã đứng dậy và chiến đấu như những con sư tử."
"Với sự giúp đỡ của những người bạn Mỹ vĩ đại, chúng ta đã đánh bại quân đội, hải quân, không quân và các cơ sở hạt nhân của Iran," ông nói, sau đó cảm ơn Tổng thống Trump vì "sự lãnh đạo táo bạo" của Tổng thống Mỹ.
"Chúng tôi sẽ tiếp tục bảo vệ đất nước của mình. Chúng tôi sẽ tiếp tục giành chiến thắng vì chúng tôi không còn lựa chọn nào khác," ông nói.
Văn phòng của ông cho biết ông đã gặp gỡ vào thứ Năm với các tổng thống của Á Căn Đình, Bolivia, Paraguay, Panama và Ethiopia, phó tổng thống Colombia, và thủ tướng của Hy Lạp, Slovenia và Papua New Guinea. Ông không dự kiến gặp Tổng thống Trump.
Văn phòng của ông Netanyahu cho biết chuyến đi năm nay sẽ rất ngắn vì thủ tướng cần trở về Israel để tham dự lễ Sukkot của người Do Thái, bắt đầu vào tối thứ Sáu.
Trong bài phát biểu của mình, ông Netanyahu tập trung chủ yếu vào Iran. Ông cũng bảo vệ các chiến dịch quân sự đang diễn ra của Israel ở Gaza và các nước láng giềng như Syria.
Ông Netanyahu đã từng sử dụng các bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc để đưa ra những tuyên bố về các nỗ lực quân sự và hạt nhân của Iran, và ông đã hứa hẹn sẽ có những bất ngờ trong các bài phát biểu sắp tới.
Ông Netanyahu cũng đáp trả trong bài phát biểu tại Liên Hiệp Quốc về những lời chỉ trích mới nhất từ Thị trưởng thành phố New York, Zohran Mamdani.
Trong một video đáp trả việc Mamdani gọi ông là "tội phạm chiến tranh" hồi đầu tuần này, Netanyahu nói rằng ông sẽ sử dụng bài phát biểu của mình tại Liên Hiệp Quốc để "nói lên sự thật về" thị trưởng này, người mà ông cáo buộc là ủng hộ Hamas.
Phản hồi của Netanyahu được đưa ra gần 30 phút sau khi ông bắt đầu bài phát biểu, trong đó ông cáo buộc Mamdani lan truyền "những lời dối trá" về người Do Thái và gọi ông ta là "kẻ bài Do Thái".
"Thật đáng xấu hổ," Netanyahu nói. "Thật đáng xấu hổ vì đã xuyên tạc sự thật, thật đáng xấu hổ vì đã đảo ngược vai trò nạn nhân và kẻ gây hấn, thật đáng xấu hổ vì đã coi thường sự thật."
"Các ông liên tục vu cáo Israel tội diệt chủng một cách sai trái," ông nói tiếp. "Các ông cố gắng ngăn cản tôi đến đây. Các ông cố gắng bịt miệng tôi. Nhưng các ông không thể bịt miệng tôi. Các ông không thể bịt miệng sự thật. Đây là một sự thật đơn giản: Israel không phạm tội diệt chủng. Israel đã ngăn chặn tội diệt chủng."
Trong chiến dịch tranh cử của mình, Mamdani đã đe dọa sẽ yêu cầu chính quyền New York thực thi lệnh bắt giữ do Tòa án Hình sự Quốc tế ban hành đối với Netanyahu nếu ông ta tham dự cuộc họp của Liên Hiệp Quốc.
Sau đó, thị trưởng thừa nhận rằng ông không thể ra lệnh bắt giữ Netanyahu, nhưng ông đã thúc giục chính quyền liên bang Mỹ bắt giữ Netanyahu và lưu ý rằng người dân New York vẫn sẽ có cơ hội bày tỏ cảm xúc của mình về nhà lãnh đạo Israel, gọi hành động phản đối là "một trong những nền tảng của thành phố chúng ta".
Gần hai chục người đã bị cảnh sát bắt giữ trong các cuộc biểu tình ở New York hôm thứ Năm, trong đó có đồng minh của Mamdani, ứng cử viên đảng Dân chủ tại Hạ viện Darializa Avila Chevalier. Netanyahu đã lên án các cuộc biểu tình dự kiến trong một video hồi đầu tuần này.
"Thật đáng xấu hổ khi các người kích động bạo loạn chống lại người Do Thái ở New York. Tôi sẽ đến Liên Hiệp Quốc, tôi sẽ nói sự thật về những người lính anh hùng của chúng ta, và tôi cũng sẽ nói sự thật về các người," Netanyahu nói.
Ông Netanyahu phát biểu sau hàng loạt bài diễn văn lên án các chính sách của chính phủ ông.
Thủ tướng Anh Andy Burnham phát biểu trước các nhà lãnh đạo tập trung tại Liên Hiệp Quốc hôm thứ Tư rằng, mặc dù vụ tấn công khủng bố của Hamas vào Israel ngày 7 tháng 10 năm 2023 là "vô cùng kinh hoàng", nhưng quy mô phản ứng của Israel là không chính đáng.
"Quá nhiều người đã chết - trong đó có rất nhiều trẻ em. Viện trợ đến được quá ít, và tình trạng này đã kéo dài quá lâu", Burnham nói về Gaza, nơi lực lượng Israel đã xâm lược hơn một nửa lãnh thổ Palestine kể từ cuộc chiến với Hamas.
Bài phát biểu của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã gây ra sự phẫn nộ ở Israel sau khi ông cáo buộc nước này vi phạm nhân quyền hàng ngày tại vùng lãnh thổ Palestine khác, Bờ Tây do Israel xâm lược.
"Hãy nhìn những gì đang xảy ra ở Bờ Tây, nơi mà các vụ vi phạm diễn ra hàng ngày. Nhân danh điều gì? Hamas chưa bao giờ tấn công Bờ Tây", nhà lãnh đạo Pháp nói. "Điều này càng khiến việc đạt được sự tôn trọng đối với quyền tồn tại chính đáng của người dân Palestine trở nên bất khả thi hơn. "
Ông Netanyahu gọi tuyên bố của ông Macron về Hamas là "một sự phi lý lố bịch", đồng thời lưu ý rằng hôm Chúa Nhật, công dân Pháp và là cha của sáu đứa con, ông Netanel Shukrun, đã thiệt mạng trong một vụ tấn công mà ông Netanyahu cho rằng do một phần tử khủng bố Hamas thực hiện.
Hamas đã ra tuyên bố ca ngợi vụ tấn công, nhưng không nhận trách nhiệm.
Nhóm này, từ lâu đã bị Mỹ, Israel và Liên minh Âu Châu liệt vào danh sách tổ chức khủng bố, không còn là một phần của chính quyền Palestine ở Bờ Tây kể từ năm 2007. Tuy nhiên, theo các quan chức Israel và Palestine, nhóm này vẫn duy trì mạng lưới chiến binh riêng của mình ở Bờ Tây trong nhiều thập niên.
"Những kẻ khủng bố Hamas thực hiện các cuộc tấn công nhằm vào người Do Thái gần như mỗi ngày. Chúng đã sát hại vô số thường dân Israel ở Judea và Samaria", ông Netanyahu nói thêm hôm thứ Tư, sử dụng tên chính thức của Israel dành cho Bờ Tây.
Hôm thứ Tư, Quốc vương Abdullah của Jordan, quốc gia đã ký hiệp định hòa bình với Israel cách đây nhiều thập niên, tuyên bố với Liên Hiệp Quốc rằng Israel nên bị trừng phạt, đóng băng tài sản, cấm vận và cô lập về mặt ngoại giao.
[CBSNews: Israel's Netanyahu tells U.N. "we will continue to defend our state" as many leaders walk out]
7. Thủ tướng Pakistan gọi các cuộc tấn công của lực lượng Houthi vào Mecca là "lằn ranh đỏ" tại Liên Hiệp Quốc.
Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif phát biểu tại Liên Hiệp Quốc hôm thứ Sáu rằng các cuộc tấn công tiếp theo vào thánh địa Mecca của Hồi giáo sẽ là "lằn ranh đỏ" đối với Islamabad.
Pakistan duy trì quan hệ với Iran, quốc gia ủng hộ lực lượng Houthi chịu trách nhiệm bắn hỏa tiễn vào Ả Rập Xê Út, nơi có thánh địa Mecca.
Tuần trước, Riyadh cáo buộc lực lượng Houthi lần đầu tiên kể từ năm 2017 tấn công vào Mecca bằng một máy bay điều khiển từ xa đã bị bắn hạ, một cáo buộc mà lực lượng Houthi kịch liệt phủ nhận.
Pakistan nằm gần Ả Rập Xê Út về mặt chiến lược và đã ký kết một thỏa thuận quốc phòng với vương quốc này và Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng trước.
"Chúng tôi một lần nữa lên án mạnh mẽ nhất các cuộc tấn công đáng lên án gần đây của lực lượng Houthi nhằm vào Vương quốc Ả Rập Xê Út", ông Sharif phát biểu tại cuộc họp của các nhà lãnh đạo thế giới thuộc Liên Hiệp Quốc ở New York.
"Vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa nhằm vào thành phố thánh Mecca al-Mukarramah đã gây phẫn nộ cho người Hồi giáo trên toàn thế giới. Bất kỳ mối đe dọa nào đối với sự an toàn và thiêng liêng... đều là lằn ranh đỏ không bao giờ được vượt qua. Không một người Hồi giáo nào dám nghĩ đến việc thực hiện một hành động tàn bạo như vậy."
[CBSNews: Pakistan PM calls Houthi Mecca attacks "red line" at U.N.]
8. Liên Hiệp Âu Châu tuyên bố sẽ lên án Nga tại G20 ngay cả khi Putin tham dự.
Liên minh Âu Châu tuyên bố sẽ sử dụng hội nghị thượng đỉnh G20 vào tháng 12 tại Miami để lên án cuộc xâm lược toàn diện Ukraine của Nga, bất kể Putin có chấp nhận lời mời tham dự của Washington hay không.
Phó phát ngôn viên chính của Ủy ban Âu Châu, Olof Gill, cho biết khối này đã sử dụng mọi cuộc họp G20 kể từ năm 2022 để lên án chiến tranh và kêu gọi chấm dứt nó, theo Euronews đưa tin. Ông nói rằng đường lối tương tự sẽ tiếp tục "bất kể ai tham gia vào bất kỳ cuộc họp G20 nào".
Ông Gill phát biểu hôm thứ Năm: "G20 là diễn đàn quan trọng để giải quyết các thách thức toàn cầu hiện tại và đang nổi lên. Một số thách thức trong số đó chính là do cuộc xâm lược Ukraine của Nga tạo ra."
"Tôi cũng nhớ rằng Nga đang leo thang các cuộc tấn công nhằm vào thường dân Ukraine ngay lúc này. Tháng 7 và tháng 8 là những tháng chết chóc nhất kể từ khi chiến tranh bắt đầu", ông nói tiếp.
Cuộc họp có sự tham dự của Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen và Chủ tịch Hội đồng Âu Châu António Costa, cùng với tổng cộng 19 quốc gia, bên cạnh Liên Hiệp Âu Châu và Liên minh Phi Châu.
Kallas của Liên Hiệp Âu Châu đã chỉ trích lời mời này.
"Việc Tổng thống Trump mời Putin tham dự G20 rất khó chấp nhận, bởi vì chỉ vài ngày trước đó, các sĩ quan tình báo Nga đã bị buộc tội giết hại người Mỹ trên lãnh thổ Mỹ", nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Âu Châu, Kaja Kallas, cho biết.
"Vậy câu hỏi của tôi là, những sĩ quan tình báo này hoạt động độc lập hay họ nhận lệnh từ Vladimir Putin? Và tôi có thể nói với các bạn, họ nhận lệnh từ Tổng thống Putin," bà nói thêm.
Kallas đang đề cập đến bản cáo trạng được Bộ Tư pháp Hoa Kỳ công bố vào ngày 15 tháng 9, trong đó buộc tội năm người có liên hệ với Cơ quan An ninh Liên bang Nga, gọi tắt là FSB. Ba trong số họ cũng bị buộc tội âm mưu giết người thuê.
Theo Đài phát thanh Liberty, các bị cáo bao gồm cựu đại tá FSB Kirill Khrameyev và con trai ông, Yury, được xác định là một sĩ quan FSB bị tình nghi, cùng với ba người đàn ông khác được thuê để theo dõi và ám sát một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng của Nga.
Nga từ chối bình luận cho đến khi có "bằng chứng đáng tin cậy" xuất hiện.
Liên Hiệp Âu Châu đã bị chia rẽ bởi lời mời
Hôm thứ Năm, bà Marine Le Pen, ứng cử viên hàng đầu của đảng cực hữu Pháp trong cuộc bầu cử tổng thống, đã hoan nghênh lời mời tham dự G20 của Putin.
Cùng ngày, trả lời phỏng vấn tờ Politico, lãnh đạo đảng Tập hợp Quốc gia cho biết Pháp không thể tiếp tục viện trợ tài chính cho Ukraine dưới sự lãnh đạo của bà, mặc dù vẫn có thể tiếp tục huấn luyện binh lính Ukraine và cung cấp hỗ trợ quân sự cho nước này.
Bà cũng bác bỏ những tuyên bố cho rằng Pháp đã ở trong tình trạng chiến tranh với Nga và nhắc lại mong muốn Pháp rời khỏi NATO sau khi cuộc xâm lược Ukraine của Nga kết thúc.
Những phát biểu của bà được đưa ra trong bối cảnh các chiến dịch thông tin sai lệch của Nga nhắm vào các ứng cử viên tiềm năng trong cuộc bầu cử tháng 4 năm 2027 bằng công nghệ deepfake, các báo cáo truyền thông bịa đặt và những tuyên bố sai sự thật.
Những tín hiệu trái chiều từ Điện Cẩm Linh
Hôm thứ Tư, Điện Cẩm Linh hoan nghênh lời mời của Mỹ, nhưng đến thứ Năm lại rút lại tuyên bố của mình, cho rằng còn quá sớm để bàn về vấn đề này.
Theo hãng tin Interfax của Nga, phát ngôn viên Điện Cẩm Linh Dmitry Peskov nói với các nhà báo rằng: "Hiện tại còn quá sớm để bàn về vấn đề này, vẫn chưa có quyết định nào được đưa ra".
Ngày 12 tháng 9, ông cho rằng cuộc gặp giữa Putin và Tổng thống Zelenskiy tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Miami là "không thể xảy ra", nhắc lại lập trường của Mạc Tư Khoa rằng hai nhà lãnh đạo chỉ có thể gặp nhau tại Mạc Tư Khoa.
Hôm thứ Tư, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã thông báo về lời mời này sau cuộc gặp với Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov bên lề Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 81, gọi tắt là UNGA tại New York.
Hôm thứ Ba, Tổng thống Donald Trump đã gặp Tổng thống Volodymyr Zelenskiy bên lề hội nghị thượng đỉnh tương tự, nơi ông nói rằng Putin sẵn sàng gặp mặt. Ông nói thêm: "Ông ấy muốn chiến tranh kết thúc".
Tuy nhiên, Putin vẫn chưa chấp nhận bất kỳ lời mời gặp mặt trực tiếp nào của Tổng thống Zelenskiy và không tham dự Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm nay, nơi Lavrov đại diện cho Nga.
Trong khi Tổng thống Zelenskiy nhắc lại rằng ông sẵn sàng gặp trực tiếp Tổng thống Nga và kêu gọi Mỹ tổ chức các cuộc đàm phán ba bên, Putin lại liên tục tránh các cuộc gặp trực tiếp.
Trước những phát biểu mới nhất hôm thứ Năm, Lavrov cho biết Điện Cẩm Linh sẽ không tạm dừng "chiến dịch quân sự đặc biệt" của mình ngay cả trong các cuộc đàm phán.
Ngày 18 tháng 9, Putin cáo buộc Kyiv phá hoại các nỗ lực hòa bình, cho rằng các quan chức Ukraine "nói về hòa bình" trong khi "làm mọi cách để bảo đảm" điều đó không xảy ra.
Ba ngày sau, Peskov cho biết các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh của Nga với Ukraine vẫn chưa có tiến triển, nhưng Mạc Tư Khoa hy vọng các cuộc đàm phán ba bên có sự tham gia của Mỹ sẽ được nối lại.
Trong khi đó, bất kỳ động thái ngoại giao nào đạt được đều liên tục bị đáp trả bằng các cuộc tấn công mạnh mẽ hơn từ phía Nga.
[Kyiv Post: EU Vows to Condemn Russia at G20 Even if Putin Attends]
9. Iran tuyên bố sẽ kiểm soát eo biển Hormuz vô thời hạn trừ khi Mỹ chấp nhận các điều kiện.
Một quan chức quân sự Iran cho biết, nước này sẽ duy trì quyền kiểm soát và quản lý eo biển Hormuz vô thời hạn trừ khi Mỹ chấp nhận các điều kiện của Iran, trích dẫn một thỏa thuận về việc tàu thuyền đi lại đạt được với Oman.
Mohsen Rezaei, Tổng Thư Ký Hội đồng An ninh Quốc gia Iran, và là cố vấn cao cấp của Lãnh tụ tối cao Ayatollah Mojtaba Khamenei, nói với hãng thông tấn Defa Press rằng: "Iran sẽ kiểm soát và quản lý eo biển và tuyến đường thủy quốc tế này mãi mãi". Ông nói thêm: "Chúng tôi đã đạt được thỏa thuận với Oman về việc quá cảnh qua eo biển Hormuz theo luật pháp quốc tế".
Ông Rezaei cho biết Iran sẽ cho phép tàu thuyền từ các nước, bao gồm cả Trung Quốc, đi lại tự do qua tuyến đường thủy chiến lược này, nhưng sẽ không cho phép các tàu thuyền bị coi là thù địch đi qua.
Ông nói thêm rằng, nếu Mỹ chấp nhận các đề xuất của Iran về vùng biển chiến lược, "tôi nghĩ rằng các quan chức cao cấp của Cộng hòa Hồi giáo Iran có thể xem xét lại các cơ chế di chuyển của tàu thuyền qua eo biển Hormuz theo một cách khác."
Ông Rezaei nói: "Một phần lớn lượng dầu xuất khẩu của chúng tôi được vận chuyển bằng đường biển, và kẻ thù của chúng tôi đang tìm cách gây áp lực lên chúng tôi thông qua việc phong tỏa hải quân." Ông cũng nói thêm rằng do đó Iran cần duy trì "sự kiểm soát và quản lý khôn ngoan" đối với eo biển này.
Lưu lượng giao thông qua eo biển đã giảm mạnh, một thỏa thuận vẫn chưa được ký kết và các tàu thuyền thường xuyên bị tấn công khi cố gắng di chuyển qua. Theo hải quân Oman, một tàu thương mại đã bị tấn công tại điểm thắt cổ chai hôm thứ Tư, khiến một thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng và hơn 20 thủy thủ khác phải di tản.
[CBSNews: Iran says it will control Strait of Hormuz indefinitely unless U.S. accepts conditions]
10. Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lên án các cuộc tấn công của lực lượng Houthi vào Ả Rập Xê Út.
Hôm thứ Sáu, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã lên án các cuộc tấn công leo thang nhằm vào Ả Rập Xê Út do phiến quân Houthi được Iran hậu thuẫn ở Yemen thực hiện, trong một động thái hiếm hoi thể hiện sự đoàn kết từ cơ quan cao nhất của Liên Hiệp Quốc.
Lực lượng Houthi đã áp đặt lệnh phong tỏa hải quân đối với Ả Rập Xê Út, tấn công các tàu chở dầu và lãnh thổ của nước này, đồng thời chiếm giữ nhiều vùng biển thuộc bờ Biển Đỏ của Yemen, vốn rất quan trọng đối với xuất khẩu dầu mỏ của Ả Rập Xê Út, khiến giá năng lượng tăng vọt.
"Các thành viên Hội đồng Bảo an lên án mạnh mẽ nhất các cuộc tấn công liên tục của lực lượng Houthi nhằm vào Vương quốc Ả Rập Xê Út, bao gồm các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng dân sự và năng lượng, dẫn đến thương vong cho dân thường, trong đó có phụ nữ và trẻ em ", Chủ tịch luân phiên của Hội đồng, đặc phái viên Pháp tại Liên Hiệp Quốc Jerome Bonnafont, cho biết trong một tuyên bố chung.
Hội đồng "nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc hành động phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, và việc duy trì các quyền và tự do hàng hải."
Theo tuyên bố, tổ chức này "yêu cầu lực lượng Houthi ngay lập tức chấm dứt việc leo thang quân sự và các cuộc tấn công nhằm vào dân thường và các mục tiêu dân sự".
Washington và các đồng minh, bao gồm Ả Rập Xê Út và chính phủ Yemen do Ả Rập Xê Út hậu thuẫn, cáo buộc Iran ủng hộ phong trào phiến quân Houthi.
Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian đã bác bỏ điều đó hôm thứ Năm, tuyên bố rằng "lực lượng Houthi phải chịu trách nhiệm về hành động của chính họ".
[CBSNews: U.N. Security Council condemns Houthi attacks on Saudi Arabia]
Như chúng tôi đã đưa tin, lúc 7:50 sáng Thứ Sáu, 25 Tháng Chín, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã khởi hành bằng máy bay từ phi trường quốc tế Fiumicino của Rôma để bay đến phi trường Orly của Paris. Sau 2 giờ 10 phút, máy bay đã đáp xuống phi trường Orly lúc 10 giờ sáng.
Tại đây đã có các nghi thức chào mừng Đức Thánh Cha. Sau đó, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dùng xe hơi để đến thăm xã giao Tổng thống Pháp tại Cung Điện Élysée vào lúc 11 giờ sáng.
Sau khi đàm đạo với Tổng thống trong 45 phút, lúc 11 giờ 45, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.
Ban chiều, lúc 15 giờ, Đức Thánh Cha đã thăm Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc, gọi tắt là UNESCO.
Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:
Thưa ngài Chủ tịch Đại hội đồng,
Thưa Chủ tịch Hội đồng điều hành,
Kính thưa các Ngài,
Kính thưa quý vị,
Tôi rất vui mừng được có mặt cùng quý vị hôm nay trong hội nghị quốc tế này, nơi các ngôn ngữ và văn hóa cùng hội tụ để hợp tác trong một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với toàn thể nhân loại: đó là "góp phần vào hòa bình và an ninh bằng cách thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia thông qua giáo dục, khoa học và văn hóa nhằm tăng cường sự tôn trọng phổ quát đối với công lý, pháp quyền và nhân quyền cũng như các quyền tự do cơ bản" (Hiến pháp UNESCO, điều 1, khoản 1). Nỗ lực xây dựng một thế giới công bằng thực chất là nền tảng của hợp tác quốc tế. Chúng ta chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng và chuyên môn của mình để tạo ra một môi trường mà tất cả mọi người đều cảm thấy thoải mái và mỗi cá nhân đều có thể phát triển, để các dân tộc trên khắp thế giới có thể sống trong hòa bình và thịnh vượng.
Chính với tư cách là một chứng nhân cho hòa bình, tôi gửi lời chào đến mỗi người trong quý vị, các Đại diện của các Quốc gia Thành viên và Quan sát viên, các Tổ chức Quốc tế, và giới học thuật cũng như xã hội dân sự. Tôi cảm ơn ngài Khaled El-Enany, Tổng Giám đốc của Tổ chức này, vì lời mời trân trọng và những lời tốt đẹp của ngài. Tôi đến đây với tư cách là một Mục tử, để nói chuyện với quý vị thay mặt cho Giáo Hội Công Giáo, một Giáo hội không ngừng tìm kiếm sự đối thoại và có một thông điệp muốn chia sẻ với mọi dân tộc, với tất cả những người nam nữ thiện chí (xem Thông điệp Ecclesiam Suam, 65 của Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục).
Cam kết xây dựng một thế giới công bằng là một phần của sứ mệnh mà chúng ta đã học cách chia sẻ trong suốt chiều dài lịch sử. Trong thời đại của chúng ta, UNESCO vừa là mục tiêu vừa là phương tiện để theo đuổi cam kết đó với quyết tâm cao hơn, phù hợp với các lĩnh vực hoạt động đa dạng của chúng ta. Năm 2027 sẽ đánh dấu kỷ niệm 75 năm sự hiện diện của Tòa Thánh tại UNESCO, một sự hiện diện dựa trên niềm tin rằng tương lai trước hết và trên hết phụ thuộc vào nhu cầu tôn trọng và thúc đẩy phẩm giá bất khả xâm phạm vốn có trong mỗi người nam nữ được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Do đó, chúng ta coi Tổ chức này là một đối tác đặc quyền trong việc phục vụ lợi ích chung, đó là "biểu hiện xã hội của phẩm giá" mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ ngay từ đầu và ở mức độ bình đẳng (xem Thông điệp Magnifica Humanitas, 59). Từ năm 1952, Phái đoàn Quan sát viên Thường trực của Tòa Thánh đã xem xét và đồng hành cùng các sáng kiến của UNESCO từ quan điểm này, đóng góp cụ thể vào cuộc đối thoại giữa các quốc gia. Việc này được thực hiện với mục đích thúc đẩy sự phát triển đích thực của con người, điều chỉ có thể đạt được khi nó hướng đến việc nuôi dưỡng "sự phát triển của mỗi người và toàn thể con người" (Phaolô Đệ Lục, Thông điệp Populorum Progressio – Phát Triển Các Dân Nước, 14).
Trong bài phát biểu trước hội nghị này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Thánh Gioan Phaolô II, đã nhận xét rằng "genus humanum arte et ratione vivit." Do đó, "con người sống một cuộc sống thực sự nhân văn nhờ văn hóa."[1] Bản thân từ này — văn hóa — hàm ý quá trình mà nhân loại ban tặng ý nghĩa cho tất cả các hoạt động của mình. Giờ đây, bốn mươi sáu năm sau, khi tôi tái khẳng định, trước sự hiện diện của quý vị, cam kết hợp tác của Tòa Thánh, tôi khuyến khích quý vị hãy nhìn nhận UNESCO không chỉ là một tổ chức quốc tế nổi bật, mà còn là nơi nhân loại có thể suy ngẫm về chính mình, về lịch sử và về tương lai của mình. Thật vậy, việc thúc đẩy giáo dục, khoa học và văn hóa là không thể nếu không đồng thời cải thiện cuộc sống của những người đang tham gia vào các hoạt động này.
Trong lĩnh vực giáo dục, Giáo Hội Công Giáo thừa hưởng một truyền thống lâu đời. Trong nhiều thế kỷ, các cộng đồng của Giáo hội đã thành lập các trường học và đại học, dạy người dân đọc và viết, và hiện diện ngay cả ở những nơi nghèo khó và xa xôi nhất. Với Hiệp ước Toàn cầu về Giáo dục, vị tiền nhiệm của tôi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đã tìm cách biến kinh nghiệm này thành một phần của giao ước giáo dục rộng lớn hơn, mở ra cho sự đóng góp của tất cả mọi người. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói với quý vị không phải chủ yếu là những nỗ lực đã được thực hiện, mà là niềm tin xuất phát từ những nỗ lực đó. Không một nền giáo dục nào có thể được coi là hoàn chỉnh nếu nó không giải quyết được câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống. Trong bài phát biểu đã đề cập ở trên, Thánh Gioan Phaolô II đã lưu ý rằng giáo dục có nghĩa là giúp mọi người "trở nên" tốt hơn chứ không chỉ đơn thuần là "có" nhiều hơn, và thừa nhận trong họ sự siêu việt của con người vốn là một phần của sự trọn vẹn trong nhân tính của họ (xem ibid., 10–11).
Trong hội nghị này, một câu hỏi cơ bản cần được khám phá, một câu hỏi khẩn cấp cần được trả lời: đó là ý nghĩa của việc làm người là gì? Mọi nền văn hóa đều phải đối mặt với câu hỏi này, vốn nằm ở cốt lõi của mọi hình thức tri thức, mọi loại hình nghệ thuật và mọi tôn giáo. Ngay cả trong thế kỷ 21, chúng ta cũng không thể coi là điều hiển nhiên đối với nhận thức con người là ai hoặc sống như một con người có nghĩa là gì. Thật vậy, mỗi thế hệ đều được kêu gọi phải vật lộn với câu hỏi này, đặc biệt là trước những bi kịch mà, đáng tiếc thay, vẫn xảy ra ngay cả ngày nay.
Trước hết, con người là một cá thể được thụ thai và sinh ra. Vì vậy, trước tiên, làm người có nghĩa là làm một đứa trẻ. Không ai trong chúng ta lựa chọn trở thành con người. Không ai trong chúng ta quyết định mình được sinh ra từ ai, khi nào hay ở đâu. Chân lý hiển nhiên này làm sáng tỏ một điều không chỉ mang tính sinh học mà còn mang tính đạo đức: khi còn nhỏ, chúng ta đều là anh chị em ruột thịt. Ngay từ đầu, nhân tính của chúng ta là một món quà và một thử thách, một lời hứa và một trách nhiệm. Đối với mỗi con người, sự ra đời thiết lập một mối liên kết nguyên thủy — một sự hiệp thông của cuộc sống có nguồn gốc và môi trường giáo dục đầu tiên nằm trong gia đình.
Thứ hai, tất cả chúng ta đều sinh ra trần truồng và thiếu thốn. Chúng ta nghèo khó từ khi sinh ra, thiếu thốn lương thực và lời nói, thiếu thốn sự chăm sóc và tình cảm – nghĩa là, thiếu thốn tất cả những gì nuôi dưỡng cả thể xác lẫn tinh thần. Chúng ta biết rõ điều này, thế nhưng, khi trưởng thành, chúng ta lại có nguy cơ quên mất nó. Chính những người thiếu thốn là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của sự lãng quên này, bất cứ khi nào nhân tính của họ bị phản bội hoặc bị gạt bỏ, bị bóc lột hoặc bị lừa dối. Quên đi hoàn cảnh khi sinh ra làm lu mờ chính ý niệm về cuộc sống con người, bởi vì nó tách rời cuộc sống khỏi lịch sử chung của tất cả chúng ta. Do đó, cuộc sống không còn được hiểu là một món quà, mà là một món hàng hóa. Nó không còn được coi là lời kêu gọi chăm sóc và trách nhiệm, mà là một sản phẩm để bị bóc lột. Thật vậy, sự lựa chọn bi thảm này nhắc nhở chúng ta rằng làm người là tự do theo bản chất. Vì tất cả chúng ta đều từng là trẻ con, nên sự tự do của chúng ta bắt đầu từ phản ứng của chúng ta đối với sự tự do của người đầu tiên hướng về chúng ta – dù bằng những cử chỉ yêu thương hay từ chối, bằng sự chào đón nồng ấm hay sự thờ ơ và tàn nhẫn.
Thứ ba, để giữ gìn ký ức về nhân loại chung của chúng ta, cần phải nhận ra sự vĩ đại của nó – tức là tiềm năng to lớn của nó – ngay cả khi nó bị suy giảm bởi nhiều hình thức xấu xa và bất công. Những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa càng được kêu gọi quan tâm đến mọi người hơn nữa, để vẻ đẹp của tự do chúng ta có thể tỏa sáng. Vẻ đẹp này có tên là: công lý. Tự do thực sự đẹp đẽ khi nó hướng đến điều tốt đẹp và chân lý; nó bị biến dạng khi nó sa vào sự độc đoán, bạo lực hoặc khát vọng quyền lực. Do đó, làm người hàm chứa trách nhiệm trước lịch sử: con người là người trưởng thành, học hỏi và lao động bằng cả tay và trí. Bằng lao động đó, chúng ta có thể vun trồng trái đất hoặc làm biến dạng nó, tạo ra các tác phẩm nghệ thuật hoặc phá hủy chúng. Tại thời điểm đặc biệt này, chúng ta phải nhận ra rằng "tác phẩm của con người" khủng khiếp nhất là chiến tranh, bởi vì khi đó chính khoa học bị đặt vào phục vụ cho ý chí vô nhân đạo muốn hủy diệt và giết chóc.
Về vấn đề này, Lời mở đầu của Hiến pháp UNESCO bắt đầu bằng những từ ngữ vẫn giữ nguyên tính thời sự đáng chú ý cho đến ngày nay — như chúng ta đã thấy tại "Bức tường Hòa bình" — "Vì chiến tranh bắt đầu từ trong tâm trí con người, nên chính trong tâm trí con người mà những nền tảng bảo vệ hòa bình phải được xây dựng" (Hiến pháp UNESCO, Lời mở đầu, 1945). Những lời này được viết ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là thảm kịch tàn khốc nhất của thế kỷ trước. Nhân loại đã nhận ra rằng tiến bộ khoa học, khi tách rời khỏi trí tuệ, có thể trở thành vũ khí hủy diệt; rằng văn hóa, khi bị lệ thuộc vào ý thức hệ, có thể thoái hóa thành dối trá và tuyên truyền; và rằng giáo dục, khi từ bỏ sự thật, có thể trở thành công cụ thao túng lương tâm. Các quốc gia sáng lập UNESCO hiểu rằng các hiệp ước là cần thiết, nhưng tự bản thân chúng không đủ. Chúng đòi hỏi một nền văn hóa hòa bình và một cam kết chung về hòa bình để duy trì chúng. Hòa bình không thể được xây dựng chỉ bằng các hiệp ước, cũng không thể bằng những thỏa hiệp giữa các lực lượng đối lập. Hòa bình đích thực khi nó nảy sinh từ đức tính công bằng chứ không phải từ một hợp đồng đơn thuần, và từ một ý chí ngay thẳng chứ không phải từ sự cân bằng lợi ích không ổn định. Thật vậy, chỉ có một ý chí ngay thẳng mới có thể nhận ra ở người khác một người anh em hoặc chị em, một người giống như mình.
Tám mươi năm sau, những lời trong Hiến chương thành lập của quý vị vẫn không hề mất đi sức mạnh. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy nguyên tắc chung này đang bị đe dọa sâu sắc bởi những hình thức tàn bạo gây ra sự ganh đua và xung đột. Trong số những thách thức mà thế giới khoa học và giáo dục đang phải đối mặt ngày nay, tôi muốn đặc biệt lưu ý đến những thách thức phát sinh từ lĩnh vực công nghệ rộng lớn. Nỗ lực của chúng ta trong lĩnh vực này phải bảo đảm rằng các công nghệ mới vẫn phục vụ con người, chứ không trở thành một công cụ thống trị và bất công khác.
Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều công việc từng do con người thực hiện đã được giao phó cho máy móc, và khả năng cũng như ứng dụng của chúng không ngừng được mở rộng. Gần đây hơn, một số hệ thống nhân tạo thậm chí còn được đặt tên theo khả năng tư duy của con người: là trí tuệ. Tuy nhiên, đồng thời, các ý tưởng và mối quan hệ của chúng ta lại có nguy cơ bị suy yếu bởi quá trình phi nhân hóa. Nghịch lý ngày càng trở nên rõ ràng: trong khi "trí tuệ" được gán cho các hệ thống tính toán, chúng ta lại khó nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, những người mà cuộc sống bị đánh giá theo tiêu chuẩn hiệu quả và, khi bị coi là không còn hữu ích, sẽ bị từ chối và loại bỏ.
Thực tế đau lòng này mời gọi chúng ta suy ngẫm về sự mong manh của bản chất con người và phẩm giá vô bờ bến của mỗi con người — một phẩm giá không hề suy giảm ngay cả trong những hoàn cảnh dễ tổn thương nhất, thậm chí cho đến khi chết. Con người chắc chắn là một người được sinh ra, nhưng cũng là một người sẽ chết đi. Phẩm giá của chúng ta không bị hủy hoại bởi bệnh tật hay đau khổ, cũng không phụ thuộc vào khả năng của chúng ta. Thay vào đó, nó cần được chăm sóc yêu thương ở mọi giai đoạn của cuộc đời.
Đối với đức tin Kitô giáo, mầu nhiệm con người tìm thấy ánh sáng viên mãn nhất nơi Chúa Kitô, Đấng mà, "trong chính sự mặc khải mầu nhiệm của Chúa Cha và tình yêu của Người, đã mạc khải trọn vẹn cho nhân loại chính nó và soi sáng ơn gọi cao cả của nhân loại" (Công đồng Vatican II, Hiến chương Mục vụ Gaudium et Spes, 22). Trong ánh sáng của Người, mỗi người hiện ra trước mắt chúng ta như một tạo vật được Thiên Chúa yêu thương và mong muốn. Ánh sáng này cũng giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của kinh nghiệm chung của con người.
Kính thưa quý vị, với tư cách là những nhà khoa học, quý vị được kêu gọi hợp tác không ngừng nghỉ vì lịch sử chung của chúng ta, để từ sự đa dạng về quan điểm, một tầm nhìn chung có thể hội tụ, và từ sự hội tụ này, một hành động hài hòa. Sự hài hòa này được thể hiện trong công việc của UNESCO khi tổ chức này cất lên một tiếng nói hòa âm cho những khát vọng cao cả nhất vì lợi ích và sự quan tâm đến nhân loại. Nơi nào có sự hài hòa, nơi đó có sự đồng thuận giữa các tiếng nói khác nhau, và các quốc gia mà quý vị đại diện do đó được gắn kết lại với nhau trong sự đồng thuận.
Về vấn đề này, tôi muốn viện dẫn hai hình ảnh từ Kinh Thánh, là kho tàng văn hóa vĩ đại của nhân loại. Đó là tháp Babel và quảng trường Lễ Ngũ Tuần. Tôi đưa ra chúng như những cách để thể hiện sự thống nhất của gia đình nhân loại, mà ngay cả ngày nay vẫn luôn được kêu gọi để phân định hướng đi đúng đắn và ý nghĩa của lịch sử mà mình đang sống trong đó. Những câu chuyện Kinh Thánh này mô tả hai hình thức sống trong xã hội, mời gọi chúng ta suy ngẫm về hoàn cảnh của thời đại mình.
Tháp Babel tượng trưng cho sự thống nhất được áp đặt thông qua sự thống trị (xem Sáng thế ký 11:4). Đồng thời, công trình này cho thấy rằng quyền lực càng tìm cách áp bức, nó càng tự làm suy yếu mình, phơi bày bộ mặt vô nhân đạo của nó. Chúng ta thấy điều này trong sự đau khổ và bất công do chế độ chuyên chế gây ra, cũng như trong các hình thức bóc lột làm tổn hại cả xã hội và môi trường. Như lịch sử đã dạy chúng ta, nhiều đế chế đã say sưa trong quyền lực của mình trước khi bị chính quyền lực đó nuốt chửng và sụp đổ như một tòa tháp. Kết quả của sự kiêu ngạo này, được tôn cao rồi bị hạ thấp, là sự phân tán. Sự tự phụ cho mình là giống như Chúa và bắt các dân tộc phải chịu một ách thống trị duy nhất dẫn đến sự hỗn loạn ngôn ngữ và sự thất bại trong việc hiểu nhau. Thay vì vươn tới thiên đường như nó đã từng hy vọng, tháp Babel đã sụp đổ, với hai kết quả tiêu cực. Vì sự thống nhất mà nó áp đặt là cưỡng bức, sự đa dạng sau đó đã trở thành nguồn gốc của xung đột. Ngày nay, cám dỗ của tháp Babel lại xuất hiện trong toàn cầu hóa được theo đuổi mà không có tình huynh đệ, trong các hình thức tân thực dân tham lam, trong những áp đặt ý thức hệ và trong tất cả những "mối liên hệ không ràng buộc" làm giảm giá trị cuộc sống con người xuống thành thương mại (xem Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, Quo Vadis, Humanitas?, 42). Bản thân khoa học, khi bị thu hẹp thành một kỹ thuật quyền lực, không còn phục vụ mục đích nâng cao nhân cách con người, mà thay vào đó có nguy cơ làm suy giảm thành quả lao động của con người.
Ngày nay, đặc biệt là khi chúng ta có phương tiện để kết nối con người và các châu lục tức thì, nhưng đồng thời, chúng ta cũng đang chứng kiến những hình thức cô lập mới, sự nghèo khó về vật chất và tinh thần, và sự bỏ rơi. Giao tiếp trở nên nhanh hơn nhiều, nhưng không nhất thiết là trung thực hơn. Thông tin thì dồi dào, nhưng không đồng nghĩa với sự khôn ngoan. Nếu thiếu một nền tảng đạo đức chung, nhiều kênh giao tiếp có nguy cơ làm gia tăng thông tin sai lệch và tạo ra sức lan truyền cho những từ ngữ vô nghĩa, từ đó cản trở đối thoại thay vì thúc đẩy nó.
Trí tuệ nhân tạo làm trầm trọng thêm vấn đề này. Mặc dù các hệ thống như vậy có thể liên kết dữ liệu, nhưng chúng không thể trả lời những câu hỏi liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống con người, vốn bắt nguồn từ kinh nghiệm sống. Tuy nhiên, con người không thể sống thiếu ý nghĩa. Ý nghĩa là oxy của tâm trí. Vì lý do này, những thách thức của giao tiếp, vốn luôn là thách thức của giáo dục, khiến việc tìm kiếm chân lý trở thành vấn đề công bằng xã hội và bình đẳng lịch sử. Đó là lý do tại sao giáo dục trong lĩnh vực này là rất cần thiết, và tôi hoan nghênh sáng kiến của UNESCO thông qua chương trình Giáo dục Truyền thông và Thông tin, gọi tắt là MIL, nhằm thúc đẩy việc sử dụng có trách nhiệm các phương tiện truyền thông và công cụ kỹ thuật số.
Thật vậy, nếu thiếu đi sự thật, ngôn ngữ sẽ trở thành nô lệ cho logic của bạo lực và ý chí độc đoán của kẻ nắm quyền. Những người khác bị loại trừ nhân danh lợi nhuận, và người vô tội bị giết hại nhân danh tự do. Thay vì tôn trọng pháp luật, những người nắm quyền viện dẫn pháp luật khi nó phục vụ lợi ích của họ và coi thường nó khi nó hạn chế họ, thậm chí coi công lý như một món hàng để mua bán. Nếu nhận ra rằng sự tha hóa của pháp luật bắt đầu từ sự tha hóa của tâm hồn, chúng ta có thể nhận thấy mọi ngành khoa học đều có nguy cơ đánh mất ý nghĩa đích thực của nó khi được theo đuổi mà thiếu đạo đức, và do đó không còn phục vụ và phản ánh phẩm giá con người.
Về vấn đề này, tôi khuyến khích toàn thể cộng đồng quốc tế dành sự quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên. Trong thời đại kỹ thuật số, sự dễ bị tổn thương của các em không bao giờ được trở thành cơ hội để bị lợi dụng. Mong rằng những công nghệ này sẽ hỗ trợ sự phát triển, giáo dục và các mối quan hệ của các em, bảo vệ quyền tự do tư tưởng và nhận thức, và luôn luôn phục vụ phẩm giá con người.
Sự tha hóa văn hóa mà chúng ta đang xem xét tìm thấy sự cứu chuộc của nó trong quảng trường công cộng của Lễ Ngũ Tuần. Ở đó, một thông điệp hòa bình được đón nhận như tin mừng bởi người dân của mọi quốc gia. Thông điệp này loan báo sự phục sinh của Chúa Giêsu, nghĩa là chiến thắng của sự sống trên cái chết và ơn cứu độ mang lại hy vọng cho thế giới. Vào ngày Lễ Ngũ Tuần, quảng trường công cộng trở thành nơi mà hòa bình chữa lành mọi tội lỗi chống lại con người được cử hành. Mỗi người hiện diện đều nghe được thông điệp "bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình" (xem Công vụ 2:8). Sự hiệp thông không hề đàn áp sự đa dạng. Trái lại, nó cho phép sự đa dạng phát triển mạnh mẽ trong sự hài hòa của các giọng nói và khuôn mặt. Trong lời loan báo hòa bình, sự phong phú của các nền văn hóa trở thành người mang một chân lý phổ quát. Giáo huấn Kinh Thánh do đó chỉ cho chúng ta con đường để đạt được điều mà tất cả chúng ta tìm kiếm: "sự hiệp nhất không xóa bỏ sự khác biệt mà coi trọng lịch sử cá nhân của mỗi người và văn hóa xã hội và tôn giáo của mỗi dân tộc" (Bài giảng trong Thánh lễ Khởi đầu Triều Đức Giáo Hoàng, ngày 18 tháng 5 năm 2025). Không phải sự thống trị của tháp Babel, mà chính là hòa bình của Lễ Ngũ Tuần, đã tạo nên sự hiệp thông giữa tất cả các dân tộc. Do đó, mỗi nền văn hóa đều đạt được trí tuệ cao nhất của mình khi tìm kiếm hòa bình và lợi ích chung, làm chứng cho ý nghĩa đích thực của nhân loại chúng ta.
Những người làm công tác giáo dục biết rằng chỉ có chân lý mới giải phóng chúng ta. Những người giảng dạy và những người nghiên cứu biết rằng sai lầm trói buộc chúng ta vào sự ngu dốt và mê tín. Bất cứ khi nào chúng ta gặp trở ngại trong sứ mệnh của mình, hãy nhớ rằng chỉ có một trái đất cho tất cả và một bản chất con người chung. Con người không thể được hiểu bằng cách tách rời những gì thuộc về nhau: thể xác và linh hồn, đời sống cá nhân và các mối quan hệ, mối quan hệ của chúng ta với người khác và với môi trường. Tất cả đều là một phần của sự thống nhất trong sự tồn tại của chúng ta. Vì lý do này, việc vun trồng trái đất cũng có nghĩa là vun trồng nhân loại sinh sống trên đó. Giáo dục và khoa học được kêu gọi thực hiện nhiệm vụ này. Thật vậy, không phải ngẫu nhiên mà mọi nền văn hóa, theo chính từ nguyên thủy của từ này, đều là một hành động vun trồng. Do đó, tôi xin nhắc lại lời kêu gọi của những người tiền nhiệm của tôi về việc cùng nhau chăm sóc con người và tạo hóa: Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã nói về sự cần thiết của một hệ sinh thái của con người, trong khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã phát triển quan điểm về hệ sinh thái toàn diện (xem Bênêđíctô XVI, Bài phát biểu trước Quốc hội Liên bang, ngày 22 tháng 9 năm 2011; Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’, 137–162).
Tiêu chuẩn để đánh giá sự cam kết của chúng ta chính là sự quan tâm mà chúng ta dành cho những người yếu thế nhất và người nghèo: trẻ em trong bụng mẹ và trên các chiến trường, người khuyết tật về thể chất và trí tuệ, người già, người di cư, người tị nạn và tất cả những người bị gạt bỏ một cách kiêu ngạo vì bị coi là vô dụng. Họ là thước đo thực sự cho tuyên bố của chúng ta về việc tôn trọng phẩm giá con người, và việc bảo vệ và thúc đẩy họ cũng mở rộng đến cả tạo hóa. Trái ngược với điều này là ý chí khai thác và cướp bóc, lấy càng nhiều càng tốt từ mọi sinh vật, tiêu thụ mà không bảo vệ, phá hủy mà không vun trồng. Do đó, cuộc khủng hoảng sinh thái hiện nay là một cuộc khủng hoảng nhân học; hơn nữa, Giáo hội tin chắc rằng mỗi nền văn hóa đều mang trong mình một trí tuệ trưởng thành trong một hệ sinh thái của các dân tộc. Môi trường sống của con người là xã hội - không chỉ là một môi trường vật chất đơn thuần, như sa mạc hay đại dương đối với động vật, mà là một môi trường đạo đức và quan hệ. Nơi nào có hòa bình xã hội, nơi đó các dân tộc phát triển thịnh vượng trong công lý.
Tại đây, sứ mệnh giáo dục và khoa học cao cả của UNESCO tìm thấy mục tiêu tối thượng của mình: trong công việc kiên trì kiến tạo hòa bình. Giữa nhiều vấn đề phức tạp và cấp bách của thời đại hiện nay, thế giới nhìn nhận các thể chế quốc tế với nhiều cảm xúc lẫn lộn. Một mặt, các thể chế này được kỳ vọng sẽ đáp ứng những thách thức mà không một quốc gia nào có thể đơn độc đối mặt. Mặt khác, chính những thể chế này lại đang trải qua một cuộc khủng hoảng về hiệu quả, đặc biệt là trong những tình huống mà đối thoại bị coi là trở ngại cho hành động hơn là nguồn lực cho hòa bình, là một trò hề hơn là một cơ hội để cùng nhau tìm kiếm lợi ích chung. Trong trường hợp này, chúng ta thấy nhu cầu cấp thiết phải thúc đẩy một đức tính dường như rất được mong muốn nhưng lại hiếm khi được tìm thấy, đó là đức tính tin tưởng. Tin tưởng rằng sự khác biệt không nhất thiết cấu thành mối đe dọa; tin tưởng rằng đối thoại chân thành có thể mang lại điều tốt đẹp hơn những gì các cá nhân có thể đạt được một mình. Tòa Thánh mong muốn tăng cường niềm tin này vào UNESCO, cũng như các tổ chức quốc tế khác, trong nhận thức rằng mỗi dân tộc đều có vai trò quý giá của riêng mình trong việc theo đuổi sự tiến bộ đích thực của nhân loại mà chỉ có hòa bình mới có thể bảo đảm. Điều này không phải là ôm ấp một sự lạc quan ngây thơ bỏ qua những khó khăn, mà là kiên trì với hy vọng rằng điều tốt đẹp mong muốn luôn luôn có thể đạt được. Mỗi đứa trẻ sinh ra trên thế giới này đều mang đến một niềm hy vọng mới. Mỗi người cống hiến cuộc đời mình cho việc theo đuổi chân lý đều đang thực hiện một hành động của hy vọng. Mong rằng UNESCO, về phần mình, sẽ làm chứng cho niềm hy vọng này bằng cách thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia thông qua đối thoại giữa các nền văn hóa của họ. Bởi vì chúng ta tin chắc rằng giáo dục là con đường để vượt qua sự ngờ vực lẫn nhau và khoa học có thể phục vụ mọi con người, gieo những hạt giống ngày hôm nay sẽ cho một mùa gặt bội thu trong tương lai. Niềm tin này củng cố niềm hy vọng của chúng ta vào lòng bác ái, vào sự tận tâm vì lợi ích của người láng giềng. Bởi vì nếu tất cả chúng ta đều vững vàng cam kết với sự vĩ đại của nhân loại chung, hòa bình cuối cùng có thể nở rộ.
Trong quá trình hợp tác này, các truyền thống tôn giáo đóng một vai trò cần thiết và không thể thay thế về mặt văn hóa. Tôn giáo lên tiếng cho những câu hỏi của chúng ta về nguồn gốc sự sống và mục đích của nó. Chúng đề cập đến ý nghĩa tối thượng của cuộc sống, điều được phản ánh trong những quyết định hàng ngày của chúng ta. Khi những người thiện chí hướng hành động của mình về phía Chúa, dưới ánh sáng của Ngài, những khác biệt văn hóa của họ không tan biến vào sự hỗn loạn của tháp Babel. Thay vào đó, họ thấy mình được đoàn kết trong một cuộc tìm kiếm ý nghĩa chung và hướng tới một vận mệnh không phải là cái chết. Chúng ta không đang hướng tới sự lãng quên. Đó là lý do tại sao tinh thần con người, trong mối quan hệ với Chúa, càng cảm nhận sâu sắc hơn lời kêu gọi vun đắp hòa bình thông qua một giao ước giữa các dân tộc nhận ra rằng họ là con cái của cùng một Cha, anh chị em của nhau.
Tôi hy vọng rằng cuộc gặp gỡ hôm nay sẽ củng cố thêm nỗ lực của tất cả chúng ta trong việc nuôi dưỡng một nhận thức sống động, sâu sắc và hiệu quả hơn về tư cách thành viên của chúng ta trong một gia đình nhân loại duy nhất. Trong bối cảnh này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ của UNESCO, những người đã thực hiện một cách chuyên nghiệp và tận tâm sứ mệnh cao cả của tổ chức này là thúc đẩy hòa bình thông qua việc trau dồi mọi ngành nghệ thuật và khoa học của nhân loại.
Tôi trình bày những suy nghĩ này với tất cả quý vị, với những người dân mà quý vị đại diện, và đặc biệt là với thế hệ trẻ. Thật vậy, chính thế hệ trẻ là những người quan sát hành động của chúng ta sát sao nhất. Khi bày tỏ sự ủng hộ của tôi đối với khát vọng công lý của họ, với lòng biết ơn và sự kính trọng, tôi cầu xin Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa toàn năng và nhân từ, ban phước lành dồi dào cho tất cả quý vị và đất nước của quý vị. Xin cảm ơn.
[1] Diễn văn tại UNESCO, ngày 2 tháng 6 năm 1980. Xem thêm. Thomas Aquinas, In Aristotelis Posteriora Analytica, 1.
Source:Dicastère pour la Communication - Libreria Editrice Vaticana
Như chúng tôi đã đưa tin, lúc 7:50 sáng Thứ Sáu, 25 Tháng Chín, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã khởi hành bằng máy bay từ phi trường quốc tế Fiumicino của Rôma để bay đến phi trường Orly của Paris. Sau 2 giờ 10 phút, máy bay đã đáp xuống phi trường Orly lúc 10 giờ sáng.
Tại đây đã có các nghi thức chào mừng Đức Thánh Cha. Sau đó, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dùng xe hơi để đến thăm xã giao Tổng thống Pháp tại Cung Điện Élysée vào lúc 11 giờ sáng.
Sau khi đàm đạo với Tổng thống trong 45 phút, lúc 11 giờ 45, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.
Ban chiều, lúc 15 giờ, Đức Thánh Cha đã thăm Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc, gọi tắt là UNESCO. Sinh hoạt tiếp theo của Đức Thánh Cha Lêô XIV là cuộc gặp gỡ với các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và chủng sinh tại Nhà thờ Đức Bà Notre-Dame.
Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói:
Chúng ta quy tụ lại cho buổi Kinh Chiều tại địa điểm này, nơi mà hơn bất cứ nơi nào khác, đã mời gọi người dân Paris trong nhiều thế kỷ hướng mắt nhìn lên trời. Bảy năm đã trôi qua kể từ khi cả thế giới nín thở chứng kiến nhà thờ bị nhấn chìm trong một trận hỏa hoạn khủng khiếp. Vào thời điểm đó, chúng ta cũng đã theo dõi trong lo lắng, ý thức được sự bất lực của con người trước những điều không lường trước được. Nỗi đau ấy không chỉ được cảm nhận bởi người Công Giáo, cũng không chỉ bởi những người có đức tin. Thật vậy, trong khoảnh khắc bi thảm đó, chúng ta đã nhận ra rằng Notre-Dame không chỉ là một tượng đài. Nỗ lực tập thể để xây dựng lại nó, và sự huy hoàng của kết quả cho thấy trái tim của một dân tộc đang đập ở đây, và chúng ta đang đứng ở trung tâm sống động của một nền văn minh, nơi quá khứ và tương lai giao thoa, nơi trời và đất gặp nhau.
Tôi rất mong được gặp anh chị em tại đây, ở nơi mang tính biểu tượng này của Giáo hội tại Pháp. Thật là một niềm vui khi tôi được bước qua ngưỡng cửa nơi đây cách đây không lâu, giống như hàng ngàn anh chị em khác mỗi ngày, đến từ khắp mọi nơi trên thế giới. Chỉ cần bước vào nơi này thôi cũng đủ đưa chúng ta đến gần một vẻ đẹp lay động trái tim bồn chồn và kêu gọi chúng ta tìm kiếm sự bình an. Sau khi không gian thiêng liêng này được trùng tu cho toàn nhân loại, người ta nhận thấy một cách đúng đắn rằng mỗi du khách đều có thể được đổi mới bởi những gì họ nhìn thấy, nghe thấy và trải nghiệm. Các tổ chức công, tư và giáo hội tham gia vào việc trùng tu Nhà thờ Đức Bà đều đã đóng góp theo cách riêng của mình vào việc khơi dậy những hành trình văn hóa, hiện sinh và tâm linh mà nhà thờ mở ra trước mắt chúng ta. Trong bối cảnh này, Giáo hội đã hiểu sứ mệnh của mình không chỉ ở khía cạnh bảo tồn mà còn ở khía cạnh sáng tạo, bằng cách giữ gìn truyền thống sống động với sự mạnh dạn của những người có đức tin và được dẫn dắt bởi niềm hy vọng. Tôi xin cảm ơn Đức Tổng Giám Mục, các cộng sự của ngài và cộng đồng giáo phận Paris, những người cũng đã phát triển một lộ trình mục vụ về việc rao giảng ban đầu và khai tâm Kitô giáo được mở ra cho tất cả mọi người. Giếng rửa tội là một dấu hiệu của điều này, được đặt ở lối vào như một lời chúc phúc và lời mời gọi.
Việc xây dựng lại Nhà thờ chính tòa là một cơ hội cho cuộc gặp gỡ mở rộng tầm nhìn về sự chào đón và tham gia vượt ra ngoài ranh giới của sự liên kết giáo hội.
Các giám mục, linh mục, phó tế, nam nữ tu sĩ, chủng sinh của nước Pháp thân mến,
Hãy để bản thân được truyền cảm hứng bởi những gì đã diễn ra ở đây! Hãy đặt tầm nhìn của Evangelii Gaudium lên hàng đầu, đó là sự hoán cải truyền giáo mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói đến trong Tông huấn thứ nhất của ngài.
Trong Thư gửi tín hữu Galát, chúng ta đã nghe lý do tại sao chúng ta không nên sợ hãi: "Thiên Chúa đã sai Con Ngài đến trong thế gian" (Gal 4:4). Ngài đã sai Con Ngài đến giữa chúng ta, vào thế giới của chúng ta. Theo lời Thánh Phaolô, động từ này mô tả một sự kiện có thật, mang tính lịch sử, chứ không phải một tập hợp các hoàn cảnh lý tưởng nào đó. Các Kitô hữu không trốn tránh sự phức tạp, vì chính Thiên Chúa đã kêu gọi họ đi theo Con Ngài trong một thế giới đã có người sinh sống, đã vận động, đã được đánh dấu bởi cả sự khốn khổ và lòng nhân hậu của con người. Con đường Thập tự giá chắc chắn cho thấy bóng tối đang bao trùm thế giới chúng ta, nhưng sâu sắc hơn nữa, nó cho thấy tình yêu của Thiên Chúa chiến thắng sự chết.
Kiến trúc hình chữ thập của Nhà thờ, nơi đá và ánh sáng hòa quyện, gợi lên sự giao thoa giữa đất và trời. Nó tập hợp và sắp xếp các sự kiện lịch sử, đan xen với niềm vui và nỗi buồn của con người. Nó giữ chúng lại với nhau trong một động lực mang tính biểu tượng, biến những biểu hiện đa dạng này thành một ngôn ngữ sống động, thống nhất chúng thành một chỉnh thể.
Anh chị em thân mến, chính từ sự Nhập Thể — "Thiên Chúa đã sai Con mình đến" — mà bản sắc của Giáo Hội được hình thành, bởi vì Giáo Hội luôn được kêu gọi trở thành một Giáo Hội "tiến bước". Là môn đệ của Chúa Kitô, anh chị em biết rõ rằng cộng đồng Kitô giáo không phải là nơi ẩn náu để chúng ta rút lui nhằm bảo vệ mình khỏi thời đại. Trái lại, giống như các nhà thờ chính tòa thời xưa, Giáo Hội là nơi chào đón, tôn trọng, mặc khải và là ý nghĩa cho tất cả mọi người. Sức mạnh của một Giáo Hội sống động nằm ở việc chào đón những người ở bên lề nhưng đã có chỗ trong trái tim Giáo Hội; chào đón những người ở xa nhưng thực ra đã ở gần; chào đón người lạ, người mà Chúa Kitô đã gõ cửa.
Nếu Nhà thờ Đức Bà là dấu hiệu của cuộc gặp gỡ này ở trung tâm Paris, thì các thành phố và vùng miền khác của nước Pháp, ngay cả những vùng xa xôi và nông thôn nhất, cũng có thể được biến đổi hơn nữa nhờ sự hiện diện truyền giáo giản dị và thân thiện. Sự hiện diện như vậy có thể giúp dung hòa những khác biệt văn hóa và hàn gắn những vết thương hiện hữu trong xã hội ta. Từ các bờ biển phía bắc đến Địa Trung Hải, từ các vùng nội địa đến các tỉnh hải ngoại, hãy là một Giáo hội sống động, đa dạng và gần gũi. Thiếu thốn nguồn lực vật chất không ngăn cản sứ mệnh, vì chính ân sủng của Chúa mang lại sự tự do nội tâm và lối sống giản dị, cho phép chúng ta phản ánh một lối sống Tin Mừng. Trong tất cả những điều này, hãy tin tưởng trân trọng sự hiện diện truyền giáo của các tín hữu giáo dân, những người là tuyến đầu sống động của Giáo hội tại những ngã tư của cuộc sống hằng ngày.
Đồng thời, thưa anh chị em, chúng ta không được quên rằng Nhà thờ chính tòa này, cũng như mọi nhà thờ khác, được xây dựng với mục đích cầu nguyện và thờ phượng Thiên Chúa. Đây là nơi cộng đồng Kitô giáo cử hành hình thức cầu nguyện và thờ phượng cao nhất, và canh tân trong Hy Tế cứu chuộc của Chúa Kitô. Nhà thờ chính tòa này không chỉ đơn thuần là một công trình kiến trúc bằng đá để chiêm ngưỡng; thay vào đó, nó sống nhờ mầu nhiệm thiêng liêng được cử hành bên trong nó. Nếu không có phụng vụ, nó sẽ mất đi linh hồn của mình. Tại Notre-Dame, chân lý này được thể hiện rõ ràng qua việc đặt bàn thờ ở trung tâm. Cộng đồng quy tụ để ca ngợi Chúa do đó đứng ở trung tâm của tòa nhà, trong khi du khách, ngay cả trong các buổi lễ, vẫn đi xung quanh và quan sát nó. Ở đây, Giáo hội hiện ra với bản chất thực sự của mình, đó là một sinh vật sống, một cộng đồng tín hữu quy tụ vào sự ca ngợi của mình tất cả những gì văn hóa và truyền thống đã truyền lại cho Giáo hội. Giáo hội là một thân thể mà, thông qua các buổi lễ, cho mỗi người biết lý do tồn tại của mình.
Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta đang sống trong một thời đại dường như thiếu đi sự trọn vẹn, chiều sâu và lời hứa. Sự giản dị cao quý của các bài hát, lời nói và cử chỉ phụng vụ có thể là tia hy vọng cho nhiều người, một ốc đảo bình yên trong một xã hội siêu kết nối và ồn ào, nơi chúng ta có thể cảm nhận sự hiện diện của Đấng Sáng Tạo nên tình yêu vĩ đại nhất: "Khi đến hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình đến" (Gal 4:4). Việc cử hành năm phụng vụ, các Chúa nhật và các lễ trọng, cũng biến chúng ta thành những người bạn đồng hành của Chúa Kitô, chú tâm đến những khoảnh khắc khác nhau trong cuộc đời Ngài, mà Ngài đã hiến dâng trọn vẹn cho Chúa Cha vì lợi ích của thế giới. Bằng cách này, chúng ta trở nên nhạy cảm hơn và cởi mở hơn với những dấu hiệu của thời đại. Thật vậy, lời cầu nguyện và việc cùng nhau lắng nghe Kinh Thánh cho phép chúng ta nhìn thấy các sự kiện lịch sử dưới ánh sáng của Chúa, làm cho chúng ta nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình, cho phép chúng ta vạch trần những mối quan hệ quyền lực bất công và gieo mầm mống công lý và hòa bình. Vì vậy, chính niềm hy vọng thúc đẩy chúng ta, chứ không phải sự cam chịu. Từ đó nảy sinh những mối dây liên kết huynh đệ sâu sắc hơn và những mạng lưới đoàn kết, là kết quả của sự hiệp thông trong một hy sinh duy nhất của Chúa Kitô.
Với tất cả những ai cử hành Thánh Thể mỗi ngày, tôi khẩn cầu anh chị em hãy bảo đảm rằng các nghi thức phụng vụ luôn được thực hiện với phẩm giá và lòng tôn kính, ngay cả ở những cộng đồng nhỏ hơn. Hãy khắc cốt ghi tâm di sản của các Giáo phụ và các thánh, những người qua nhiều thế kỷ đã truyền lại cho chúng ta ý nghĩa sâu sắc và vẻ đẹp của phụng vụ, luôn luôn nêu gương về sự khiêm nhường lớn lao trước Mầu nhiệm được cử hành. Công đồng Vatican II, với sự phong phú phần lớn nhờ vào nước Pháp, đã tập hợp và đào sâu di sản này một cách nổi bật, công nhận vai trò trung tâm của phụng vụ trong đời sống của Giáo hội (xem Sacrosanctum Concilium – Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, số 10). Vì vậy, tôi khuyên nhủ tất cả anh chị em, các giám mục, linh mục, phó tế và những người thánh hiến, hãy vun đắp một tình yêu đích thực đối với phụng vụ và trở thành chứng nhân và tôi tớ của ơn gọi tiên tri, tư tế và vương giả của toàn thể dân Chúa.
Xét về khía cạnh này, phụng vụ vẫn là sự phản ánh của cuộc sống. Niềm vui Thánh Thể bén rễ và lan tỏa ở bất cứ nơi nào sự hòa thuận được khôi phục, bất cứ nơi nào phẩm giá được đổi mới, bất cứ nơi nào quyền uy trở thành sự phục vụ, và bất cứ nơi nào tự do có thể nở rộ trở lại. Đây là món quà lớn lao nhất mà chúng ta có thể chia sẻ. Vì vậy, hãy đặt sự hiệp thông với người kế vị Thánh Phêrô và với Giáo hội lên trên những sở thích cá nhân của bạn, để vun đắp sự hiệp nhất của dân Chúa. Như vậy, cùng nhau, chúng ta sẽ làm chứng tiên tri về khả năng của một thế giới hòa giải.
Kính thưa các giám mục, linh mục, chủng sinh và những người sống đời thánh hiến, những người được gọi để theo Chúa Kitô, tôi cảm ơn sự đáp lại và lòng trung thành của anh chị em đối với Chúa. Đừng bao giờ bỏ bê tình bạn mà Chúa mong muốn, tình bạn này cần được vun đắp trong lời cầu nguyện cá nhân, và là nền tảng của mọi ơn gọi. Như Madeleine Delbrêl đã nói: "Nếu không cầu nguyện, chúng ta sẽ không yêu mến Thiên Chúa của tình yêu. Có lẽ chúng ta có thể là tôi tớ, chiến binh, hoặc thậm chí là môn đệ của Ngài; nhưng chúng ta sẽ không phải là con cái yêu thương của Cha chúng ta cũng không phải là bạn hữu… của Chúa Giêsu Kitô" (Notre vie, Œuvres complètes vol. XV, Nouvelle Cité, 2017, tr. 41). Vậy nên, hãy nuôi dưỡng đời sống nội tâm của anh chị em với Chúa, noi theo gương các vị thánh đã đi trước, luôn luôn rút ra từ nguồn tình yêu vô biên của Thiên Chúa trong lời cầu nguyện thầm lặng. Sứ mệnh của anh chị em trên hết bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết này với Chúa, Đấng đang chờ đợi anh chị em ở đó.
Nằm ngay trung tâm thành phố, Nhà thờ Chính tòa mở cửa là dấu hiệu của một cộng đồng ca ngợi Chúa và sống lòng hiếu khách không chỉ như một cử chỉ nhất thời, mà như chính hình thức tồn tại của cộng đồng, để tất cả mọi người đều cảm thấy như ở nhà, không còn bị thống trị hay bị gạt ra ngoài lề trong một thế giới đang thay đổi. "Thiên Chúa đã sai Con Ngài đến, sinh bởi một người phụ nữ, […] để chúng ta được nhận làm nghĩa tử" (Gal 4:4-5). Và "nếu là con, thì anh em cũng là người thừa kế" (ibid 4:7). Là những người thừa kế bởi ân sủng, anh chị em quy tụ tại đây, giờ đây mỗi người trong anh chị em, cộng đoàn cầu nguyện và sống động này, phải trở thành hiện thân và tiếng nói của lời hứa này. Hỡi các vị giáo sĩ và những người thánh hiến của nước Pháp, anh chị em được kêu gọi trở thành những người bảo vệ đầu tiên của ngôi nhà mở này, những viên đá sống động của một Giáo hội hy vọng và không sợ hãi tương lai. Nhà thờ Chính tòa này đã được tái sinh để anh chị em cũng được tái sinh cùng với nó trong một động lực mới hướng tới sự thánh thiện và sứ mệnh hằng ngày. Giữa lòng dân, hãy là biểu hiện rõ ràng của thiên chức làm mẹ của Giáo hội, là Giáo hội, bằng việc làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa, phục hồi và chữa lành gia đình nhân loại.
Chúng ta hãy ngước mắt lên bức tượng Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng thế kỷ XIV, bức tượng không bị ảnh hưởng bởi đám cháy và nay lại tỏa sáng trước mắt chúng ta. Xin cho Đức Mẹ Maria, người đã mang Ngôi Lời trong lòng, giữ gìn lòng trung thành của anh chị em, và xin cho Mẹ là ngôi sao dẫn đường cho sứ mệnh của Giáo hội tại Pháp. Lạy Đức Mẹ Maria, Đức Mẹ Paris và Mẹ của Giáo hội, xin cầu bầu cho dân tộc Pháp, nâng đỡ các mục tử của họ, và luôn đồng hành cùng chúng con.
Source:Dicastère pour la Communication - Libreria Editrice Vaticana
Như chúng tôi đã đưa tin, lúc 7:50 sáng Thứ Sáu, 25 Tháng Chín, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã khởi hành bằng máy bay từ phi trường quốc tế Fiumicino của Rôma để bay đến phi trường Orly của Paris. Sau 2 giờ 10 phút, máy bay đã đáp xuống phi trường Orly lúc 10 giờ sáng.
Tại đây đã có các nghi thức chào mừng Đức Thánh Cha. Sau đó, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dùng xe hơi để đến thăm xã giao Tổng thống Pháp tại Cung Điện Élysée vào lúc 11 giờ sáng.
Sau khi đàm đạo với Tổng thống trong 45 phút, lúc 11 giờ 45, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.
Ban chiều, lúc 15 giờ, Đức Thánh Cha đã thăm Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc, gọi tắt là UNESCO. Sinh hoạt tiếp theo của Đức Thánh Cha Lêô XIV là cuộc gặp gỡ với các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và chủng sinh tại Nhà thờ Đức Bà Notre-Dame.
Sinh hoạt cuối cùng trong ngày là cuộc gặp gỡ với giới trẻ Pháp tại sân vận động Stade de France vào lúc 21 giờ.
Stade de France là sân vận động quốc gia mang tính biểu tượng của Pháp. Tọa lạc ngay phía bắc Paris tại khu vực Saint-Denis, sân có sức chứa tối đa 81.338 chỗ ngồi, trở thành sân vận động lớn nhất nước Pháp và lớn thứ tám tại Âu Châu. Được xây dựng để phục vụ Giải vô địch túc cầu thế giới năm 1998, đây là địa điểm duy nhất trên thế giới từng đăng cai cả trận chung kết World Cup túc cầu lẫn trận chung kết World Cup bóng bầu dục.