Theo truyền thống phụng vụ có từ thế kỷ thứ 7, ngày Thứ Tư Lễ Tro là một ngày quan trọng, và không một lễ nào có thể vượt lên trên. Người ta cũng gọi ngày này là “Ðầu Mùa Chay”. Việc ăn chay trong Mùa này đã có từ thời Ðức Giáo Hoàng Gregoriô Cả vào cuối thế kỷ thứ Sáu.

Những Quy luật tổng quát của Năm phụng vụ nói về ngày Thứ Tư Lễ Tro như sau: “Mùa Chay bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro và kết thúc ngay trước Thánh lễ Tiệc Ly. Ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay có xức tro; ngày đó khắp nơi ăn chay”. Lời chỉ dẫn này cho chúng ta biết ý nghĩa của Ngày Thứ Tư Lễ Tro trong Năm phụng vụ, cũng như trong suốt Mùa Chay thánh. Với Thứ Tư Lễ Tro, Giáo hội bắt đầu Mùa Chay Thánh.

Vào lúc 16:30 ngày thứ Tư lễ Tro, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chủ sự cuộc rước thống hối từ nhà thờ Thánh Anselmo của dòng Biển Đức đến Vương cung Thánh Đường Thánh nữ Sabina của dòng Đa Minh trên đồi Aventino ở Rôma. Trên quãng đường dài 500 mét, các vị vừa đi vừa hát kinh cầu các thánh, và thánh ca thống hối.

Trong đoàn rước, có gần hai mươi Hồng Y, hàng chục giám mục, đông đảo tu sĩ Dòng Biển Đức và Đa Minh, trong đó có hai vị Bề trên Tổng quyền của hai dòng.

Tại Vương cung Thánh Đường thánh nữ Sabina, có từ thế kỷ thứ 5, Đức Thánh Cha đã chủ sự thánh lễ đồng tế với nghi thức xức tro, cùng với các Hồng Y và Giám Mục, trước sự tham dự của các linh mục tu sĩ nam nữ và giáo dân, đặc biệt là các vị lãnh đạo Hội Hiệp sĩ Malta.

Trong bài giảng thánh lễ, Đức Thánh Cha nói:

Anh chị em thân mến,

Vào đầu mỗi mùa phụng vụ, chúng ta hân hoan tái khám phá ân sủng được là Giáo Hội, tức là một cộng đồng quy tụ lại để lắng nghe lời Chúa. Tiếng nói của tiên tri Giôen vang vọng đến chúng ta, đưa mỗi người ra khỏi sự cô lập và chỉ cho chúng ta thấy nhu cầu cấp thiết về sự hoán cải, là điều luôn mang tính cá nhân và cộng đồng: “Hãy tập hợp dân chúng lại. Hãy thánh hóa cộng đoàn; hãy tập hợp những người già; hãy tập hợp trẻ em, cả những trẻ sơ sinh còn bú mẹ” (Ge 2:16). Vị tiên tri đã nhắc đến những người yếu đuối nhất và ít thích hợp nhất cho những cuộc tụ họp đông người, những người mà sự vắng mặt của họ dễ dàng được biện minh. Vị tiên tri tiếp tục đề cập đến vợ chồng: dường như ông kêu gọi họ ra khỏi sự riêng tư của đời sống hôn nhân, để họ cảm thấy mình là một phần của cộng đồng lớn hơn. Sau đó, ông hướng đến các linh mục, những người đã thấy mình – gần như là do bổn phận – phải “ở giữa tiền sảnh và bàn thờ” (câu 17). Họ được mời gọi than khóc và bày tỏ những lời thích hợp này thay mặt cho tất cả mọi người: “Xin thương xót dân Chúa, lạy Chúa!” (thượng dẫn).

Ngay cả ngày nay, Mùa Chay vẫn là thời gian quan trọng để cộng đồng gắn kết: “Hãy quy tụ dân chúng lại. Hãy thánh hóa hội thánh” (Ge 2:16). Chúng ta biết rằng việc quy tụ mọi người lại với nhau và khiến họ cảm thấy mình là một cộng đồng ngày càng trở nên khó khăn hơn — không phải theo cách chủ nghĩa dân tộc và hung hăng, mà là trong sự hiệp thông nơi mỗi người chúng ta tìm thấy vị trí của mình. Thật vậy, trong Mùa Chay, một dân tộc được hình thành trong đó họ nhận biết tội lỗi của mình. Những tội lỗi này là những điều xấu xa không đến từ những kẻ thù được tường trình có thật, mà là những điều làm tổn thương trái tim chúng ta và tồn tại bên trong chúng ta. Chúng ta cần đáp lại bằng cách can đảm chấp nhận trách nhiệm về chúng. Hơn nữa, chúng ta phải chấp nhận rằng mặc dù thái độ này đi ngược lại với văn hóa hiện hành, nhưng nó cấu thành một lựa chọn chân thực, trung thực và hấp dẫn, đặc biệt là trong thời đại của chúng ta, khi rất dễ cảm thấy bất lực trước một thế giới đang chìm trong máu lửa loạn ly. Thật vậy, Giáo hội tồn tại như một cộng đồng các chứng nhân nhận biết tội lỗi của mình.

Tất nhiên, tội lỗi là vấn đề cá nhân, nhưng nó thể hiện rõ trong bối cảnh thực tế và ảo của cuộc sống, trong thái độ mà chúng ta dành cho nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, và thường nằm trong những “cấu trúc tội lỗi” thực tế về kinh tế, văn hóa, chính trị và thậm chí cả tôn giáo. Kinh Thánh dạy chúng ta rằng chống lại sự thờ thần tượng bằng việc thờ phượng Thiên Chúa hằng sống có nghĩa là dám sống tự do, và tái khám phá sự tự do thông qua một cuộc xuất hành, một cuộc hành trình, nơi chúng ta không còn bị tê liệt, cứng nhắc hay tự mãn trong lập trường của mình, mà cùng nhau quy tụ để tiến lên và thay đổi. Thật hiếm hoi khi tìm thấy những người trưởng thành ăn năn – những cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức thừa nhận mình đã làm điều sai trái!

Hôm nay, chúng ta đang suy ngẫm chính xác về khả năng ăn năn này. Thật vậy, không phải ngẫu nhiên mà ngay cả trong bối cảnh thế tục hóa, nhiều người trẻ, hơn bao giờ hết, đang mở lòng đón nhận lời mời gọi của Thứ Tư Lễ Tro. Đặc biệt, người trẻ hiểu rõ rằng có thể sống một lối sống công chính, và cần phải có sự chịu trách nhiệm đối với những hành vi sai trái trong Giáo hội và trên thế giới. Vì vậy, chúng ta phải bắt đầu từ những nơi chúng ta có thể, với những người xung quanh chúng ta. “Bây giờ là thời điểm thuận lợi; kìa, bây giờ là ngày cứu rỗi!” (2 Cr 6:2). Vì vậy, chúng ta hãy đón nhận ý nghĩa truyền giáo của Mùa Chay, không phải theo cách làm chúng ta xao nhãng khỏi những nỗ lực cá nhân, mà theo cách giới thiệu mùa này đến nhiều người thiện chí đang bồn chồn tìm kiếm những cách thức đích thực để đổi mới cuộc sống của họ, trong bối cảnh Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.

“Tại sao người ta lại hỏi nhau rằng: ‘Thiên Chúa của họ ở đâu?’” (Ge 2:17). Câu hỏi của nhà tiên tri là một lời cảnh báo. Nó cũng nhắc nhở chúng ta về những gì người khác nghĩ về chúng ta, đặc biệt là những người quan sát dân Chúa từ bên ngoài. Mùa Chay thúc giục chúng ta thay đổi hướng đi — hoán cải — để lời rao giảng của chúng ta trở nên đáng tin cậy hơn.

Sáu mươi năm trước, vài tuần sau khi Công đồng Vatican II kết thúc, Thánh Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã quyết định cử hành Nghi thức Tro trong một buổi tiếp kiến chung tại Đền Thờ Thánh Phêrô, để hành động mà chúng ta sắp thực hiện hôm nay được mọi người chứng kiến. Ngài gọi đó là một “nghi thức sám hối nghiêm khắc và gây ấn tượng mạnh” (Phaolô VI, Buổi tiếp kiến chung, ngày 23 tháng 2 năm 1966) thách thức luận lý thường tình và đồng thời đáp ứng những yêu cầu của nền văn hóa chúng ta. Ngài nói: “Trong thời đại của chúng ta, chúng ta có thể tự hỏi liệu phương pháp giáo dục này còn dễ hiểu hay không. Chúng ta trả lời là có, bởi vì đó là một phương pháp giáo dục thực tế. Đó là một lời nhắc nhở nghiêm khắc về chân lý. Nó đưa chúng ta đến một nhận thức chính xác về sự tồn tại và vận mệnh của chúng ta.”

Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục nói rằng “phương pháp giáo dục sám hối này làm con người hiện đại ngạc nhiên theo hai cách”: thứ nhất là con người kinh ngạc trước “khả năng ảo tưởng, tự ám thị và tự lừa dối có hệ thống to lớn của họ về thực tại cuộc sống và các giá trị của nó”. Khía cạnh thứ hai là “chủ nghĩa bi quan cơ bản” mà Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã phát hiện ra ở khắp mọi nơi. Ngài nói: “Hầu hết các tài liệu mà triết học, văn học và giải trí cung cấp cho chúng ta ngày nay đều kết luận bằng việc tuyên bố sự phù phiếm không thể tránh khỏi của mọi thứ, nỗi buồn vô bờ bến của cuộc sống, siêu hình học của sự phi lý và hư vô. Những tài liệu này là sự biện minh cho việc sử dụng tro bụi.”

Ngày nay, chúng ta có thể nhận ra rằng lời nói của ngài mang tính tiên tri khi chúng ta thấy trong đống tro tàn ấy sức nặng của một thế giới đang bốc cháy, của toàn bộ những thành phố bị chiến tranh tàn phá. Điều này cũng được phản ánh trong đống tro tàn của luật pháp quốc tế và công lý giữa các dân tộc, đống tro tàn của toàn bộ hệ sinh thái và sự hài hòa giữa các dân tộc, đống tro tàn của tư duy phản biện và trí tuệ địa phương cổ xưa, đống tro tàn của cảm giác thiêng liêng ngự trị trong mỗi sinh vật.

“Chúa của họ ở đâu?” các dân tộc tự hỏi. Vâng, thưa anh chị em thân mến, lịch sử, và hơn thế nữa, lương tâm của chính chúng ta, kêu gọi chúng ta gọi cái chết đúng bản chất của nó, và mang dấu ấn của nó trong lòng mình đồng thời làm chứng cho sự phục sinh. Chúng ta nhận ra tội lỗi của mình để có thể hoán cải; chính điều này là một dấu hiệu và bằng chứng của sự Phục Sinh. Thật vậy, điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ không ở lại giữa đống tro tàn, mà sẽ trỗi dậy và xây dựng lại. Khi đó, Tam Nhật Phục Sinh, mà chúng ta sẽ cử hành như đỉnh cao của hành trình Mùa Chay, sẽ bộc lộ tất cả vẻ đẹp và ý nghĩa của nó. Điều này sẽ diễn ra nếu chúng ta tham gia, qua sự sám hối, vào sự chuyển tiếp từ cái chết đến sự sống, từ sự bất lực đến những khả năng của Chúa.

Các vị tử đạo thời xưa và hiện đại tỏa sáng như những người tiên phong trên hành trình hướng tới Lễ Phục Sinh của chúng ta. Truyền thống Rôma cổ đại về các nhà thờ chặng Mùa Chay – bắt đầu hôm nay với chặng đầu tiên – rất bổ ích: nó đề cập đến cả việc di chuyển, như những người hành hương, và việc dừng lại, statio, tại “những nơi tưởng nhớ” các vị tử đạo, nơi tọa lạc các vương cung thánh đường của Rôma. Chẳng lẽ đây không phải là lời mời gọi noi theo bước chân của những chứng nhân đáng ngưỡng mộ của đức tin, những người hiện đang hiện diện khắp thế giới sao? Chúng ta hãy nhớ đến những nơi chốn, những câu chuyện và tên tuổi của những người đã chọn con đường của Tám Mối Phúc và sống trọn vẹn chúng đến cùng. Cuộc đời của họ là vô số hạt giống, ngay cả khi dường như bị rải rác, đã được chôn vùi trong lòng đất và chuẩn bị cho mùa gặt bội thu mà chúng ta được mời gọi thu hoạch. Mùa Chay, như chúng ta đã thấy trong bài đọc Tin Mừng, giải phóng chúng ta khỏi mong muốn được người khác nhìn thấy bằng mọi giá (xem Mt 6:2, 5, 16), và thay vào đó dạy chúng ta nhìn thấy những gì đang được sinh ra, những gì đang phát triển, và thúc giục chúng ta phục vụ họ. Đó là sự hòa hợp sâu sắc được thiết lập với Thiên Chúa của sự sống, Cha chúng ta và Cha của muôn loài, trong bí mật của những người ăn chay, cầu nguyện và yêu thương. Chúng ta hãy hướng toàn bộ cuộc sống và trái tim mình về với Thiên Chúa một cách tiết độ và vui mừng.


Source:Dicastery for Communication - Libreria Editrice Vaticana