1. Tổng thống Zelenskiy thực hiện chuyến thăm thứ hai tới Ả Rập Xê Út trong vòng chưa đầy một tháng.

Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã đến Ả Rập Xê Út vào ngày 24 tháng 4 để hội đàm với Thái tử Mohammed bin Salman Al Saud, trong bối cảnh Kyiv đang xây dựng quan hệ đối tác an ninh trong khu vực Vịnh.

“Hôm nay, chúng ta đang thúc đẩy các thỏa thuận với Ả Rập Xê Út trong các lĩnh vực an ninh, năng lượng và cơ sở hạ tầng”, tổng thống phát biểu vào ngày X.

Tổng thống Zelenskiy cho biết ông đã có một “cuộc gặp rất hiệu quả” với thái tử, khi hai quốc gia đang phát triển quan hệ đối tác chiến lược trong lĩnh vực phòng không, năng lượng và an ninh lương thực.

“Chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho các đội của mình, và tôi kỳ vọng họ sẽ thực hiện nhiệm vụ đó một cách nhanh chóng và đầy đủ”, tổng thống nói thêm.

Hai nhà lãnh đạo trước đó đã gặp nhau tại Jeddah vào ngày 27 tháng 3, ngày mà Kyiv và Riyadh ký kết một thỏa thuận quan trọng về hợp tác công nghệ phòng không.

Ukraine đã tăng cường hợp tác với các nước vùng Vịnh về hệ thống chống máy bay điều khiển từ xa, tận dụng kinh nghiệm chiến trường của mình trong việc đối phó với các máy bay điều khiển từ xa do Iran thiết kế và được Nga triển khai.

Ả Rập Xê Út và các quốc gia khác trong khu vực đã phải hứng chịu các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa liên tục từ Iran trong cuộc chiến tranh Mỹ-Iran gần đây, hiện đang trong giai đoạn ngừng bắn mong manh.

Chuyến thăm Trung Đông của Tổng thống Zelenskiy diễn ra chỉ một ngày sau khi ông đến dự hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Âu Châu tại Síp để củng cố sự ủng hộ dành cho Ukraine từ các đối tác Âu Châu.

Ngày 23 tháng 4, khối Âu Châu đã thông qua khoản vay 90 tỷ euro (106 tỷ đô la) cho Kyiv và gói trừng phạt thứ 20 chống lại Nga, một sự hỗ trợ lớn cho Ukraine trong bối cảnh cuộc xâm lược toàn diện đang diễn ra.

[Kyiv Independent: Zelensky makes second Saudi Arabia visit in less than a month]

2. Cựu Đại Sứ Mỹ tại NATO cảnh báo về ‘những sai lầm rất lớn’ khi người Âu Châu chỉ trích và chế giễu Tổng thống Trump về vấn đề Iran.

Cựu đại sứ Mỹ tại NATO đang kêu gọi các chính trị gia Anh và Âu Châu không nên làm mất lòng Ông Donald Trump bằng cách chế giễu và chỉ trích cách chính quyền của ông giải quyết cuộc chiến tranh Iran và những hậu quả của nó.

Kurt Volker, Đại Sứ Mỹ tại NATO giai đoạn 2008-2009, sau đó giữ chức đặc sứ của Mỹ về Ukraine trong chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu tiên, cảnh báo rằng các nhân vật Âu Châu lên án đường lối của tổng thống Mỹ đang “mắc phải những sai lầm rất lớn”.

“Bạn có thể nghĩ rằng cuộc chiến Iran là một sai lầm lớn và sẽ dẫn đến những hậu quả khủng khiếp, nhưng bạn không cần phải nói ra điều đó,” Volker nói với Anne McElvoy trong chương trình podcast EU Confidential của POLITICO, được phát sóng hôm thứ Sáu. “Nếu nói ra, bạn sẽ làm mất lòng Ông Donald Trump và có nguy cơ ông ấy sẽ liên kết sự không hài lòng của bạn với các chính sách của ông ấy với sự không hài lòng của ông ấy đối với một số chính sách của bạn.”

Volker nói thêm rằng điều đó có nguy cơ “làm rạn nứt mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương vẫn còn có giá trị đối với cả hai bên. Vì vậy, tôi không nghĩ đó là cách khôn ngoan để giải quyết vấn đề với tổng thống.”

Các nhà lãnh đạo Âu Châu đã vướng vào những cuộc xung đột leo thang với chính quyền Mỹ về cuộc chiến ở Iran, do Mỹ và Israel phát động vào ngày 28 tháng 2. Iran đã trả đũa bằng cách tấn công các căn cứ quân sự của Mỹ và các đồng minh khu vực, sau đó phong tỏa eo biển Hormuz, một tuyến đường thủy quan trọng cung cấp khoảng 1/5 nhu cầu dầu mỏ của thế giới.

Tổng thống Trump đã chỉ trích mạnh mẽ các quốc gia NATO đã hạn chế quyền tiếp cận các căn cứ quân sự - đặc biệt là Anh và Tây Ban Nha - trong khi ca ngợi các quốc gia ủng hộ hơn.

Các đồng minh của Mỹ đã nhiều lần cam kết giúp khôi phục hoạt động vận chuyển hàng hóa dọc theo điểm nghẽn thương mại này — nhưng chỉ khi nào giao tranh chấm dứt hoàn toàn — điều này đang khiến Tổng thống Trump tức giận.

Anh Quốc đã phản đối.

Tại Anh, Thủ tướng Keir Starmer khẳng định rõ ràng rằng ông không ủng hộ cuộc chiến.

“Đây không phải là cuộc chiến của chúng tôi… Tôi sẽ không thay đổi ý định. Tôi sẽ không nhượng bộ,” ông nói với quốc hội Anh hồi đầu tháng này.

Tuần trước, trước thềm chuyến đi tới Washington, Rachel Reeves, Bộ trưởng Tài chính Anh, cho biết quyết định của Tổng thống Trump về việc phát động chiến tranh mà không có chiến lược rõ ràng là “ngu ngốc” và “Tôi không tin rằng chúng ta an toàn hơn ngày hôm nay so với vài tuần trước.”

Phó Thủ tướng David Lammy gọi những lời đe dọa của Tổng thống Trump đối với Starmer là “nhỏ nhặt và tầm thường”.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron gọi cuộc chiến do Tổng thống Trump phát động là vi phạm luật pháp quốc tế.

Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez là người đi đầu trong việc lên án cuộc chiến, gọi đó là “bất hợp pháp, phi lý và nguy hiểm”.

Tổng thống Trump đã công kích Thủ tướng Anh Keir Starmer gần như hàng ngày. Thủ tướng Starmer đáp lại bằng cách giữ im lặng. Trong khi đó, Thủ tướng Sánchez phản ứng lại rất quyết liệt trước những chỉ trích của Tổng thống Trump. Ông cũng ra lệnh cho quân đội nước này bắn hạ bất cứ máy bay nào của Mỹ bay vào không phận Thủ đô Tây Ban Nha. Nhiều người cho rằng có lẽ ông ấy sợ bị bắt cóc như Nicolas Maduros. Không thể biết được có phải như vậy hay không.

Volker đã bảo vệ lý lẽ của Tổng thống Trump khi phát động chiến tranh, nói rằng ông ấy đã đúng khi tấn công để ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, Mỹ đã ném bom các cơ sở hạt nhân của Iran năm ngoái, và sau đó Tổng thống Trump gọi cuộc tấn công 12 ngày là “thành công quân sự ngoạn mục”, và khẳng định rằng cuộc tấn công đó đã phá hủy khả năng chế tạo bom của nước này.

Iran đã phủ nhận việc họ có kế hoạch chế tạo bom nguyên tử, nhưng Volker đã bác bỏ điều đó.

“Họ thực sự muốn chế tạo vũ khí hạt nhân, và họ đã cố gắng làm điều này trong nhiều thập niên, và ngay cả khi họ đồng ý rằng họ sẽ không làm điều đó, thì có lẽ họ vẫn sẽ làm. Và Mỹ sẽ phải đối mặt với thực tế đó”, ông nói.

Ông cũng ủng hộ quyết định năm 2018 của Tổng thống Trump rút khỏi thỏa thuận hạt nhân năm 2015 do cựu Tổng thống Barack Obama đàm phán, thỏa thuận này hạn chế chương trình hạt nhân của Iran và đặt nước này dưới sự giám sát của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế.

“Tôi nghĩ đó là một thỏa thuận thiếu sót và lẽ ra không nên được ký kết,” ông nói.

Điều đó trái ngược với quan điểm của nhiều quốc gia Âu Châu, những nước đã tham gia vào các cuộc đàm phán hạt nhân Iran ban đầu.

Theo POLITICO, chính quyền Trump ngày càng tức giận về việc Âu Châu thiếu nhiệt tình tham gia chiến tranh và đang lập một danh sách “tốt và xấu” các quốc gia NATO để trừng phạt những nước gây rắc rối.

Volker cho rằng các nhà lãnh đạo Âu Châu nên thận trọng hơn trong việc đáp trả dư luận trong nước - vốn phản đối mạnh mẽ chiến tranh - bằng cách đưa ra những lập trường khiến Tổng thống Trump tức giận.

Ông nói: “Có những cách để chủ động... mà không cần phải chỉ trích Tổng thống Trump một cách vô căn cứ, điều đó thực chất không giúp ích gì cả.”

Hãy đối xử tốt với Tổng thống Trump

Thay vào đó, các nhà lãnh đạo Âu Châu nên noi theo tấm gương của Tổng thư ký NATO Mark Rutte, người đã cẩn trọng không làm phật lòng Tổng thống Trump bằng cách ủng hộ cuộc chiến chống Iran. Volker nói: “Làm việc với Tổng thống Trump, khen ngợi ông ấy, thể hiện sự nhiệt tình, bởi vì… ông ấy đang giúp ích cho họ”.

Ông cũng kêu gọi Thủ tướng Đức Friedrich Merz thể hiện thái độ hòa nhã hơn với Tổng thống Trump. Đức không hạn chế việc sử dụng căn cứ không quân Ramstein quan trọng của mình và ông Merz không có xung đột với tổng thống Mỹ, mặc dù ông nhận xét rằng quan hệ với Mỹ hiện đang “rất khó khăn”.

Thủ tướng Merz tỏ ra thận trọng hơn với Tổng thống Trump so với ông Starmer, và Tổng thống Trump đã không trả đũa ông ấy như đã làm với thủ tướng Anh. “Không giống như Keir Starmer, người mà Tổng thống Trump dường như thích công kích, Tổng thống Trump không làm điều đó với cá nhân ông Merz,” Volker nói.

Thủ tướng Merz đã mời Tổng thống Trump đến thăm quê hương của ông nội mình ở miền tây nước Đức. Nếu điều đó xảy ra, “Tôi chỉ muốn bảo đảm rằng Tổng thống Trump cảm thấy mình được tôn trọng, bởi vì đó là điều ông ấy khao khát.”

Volker cũng bảo vệ lập trường của Tổng thống Trump về Iran, là điều đã khiến nhiều nhà lãnh đạo Âu Châu lo ngại. Tổng thống đã thay đổi lập trường một cách đột ngột, từ việc tuyên bố chấm dứt chiến sự sang đe dọa “xóa sổ” nền văn minh Iran và phá hủy cơ sở hạ tầng dân sự của nước này.

“Ông ta đang cố gắng sử dụng những lời lẽ gay gắt và lập trường cực đoan để thể hiện sức mạnh và sự cứng rắn theo kiểu nam tính thái quá, nhằm thu hút sự chú ý của người Iran”, Volker nói.

Đối với nhiều người lời khuyên dĩ hòa vi quý của Volker là một lời khuyên khôn ngoan. Tuy nhiên, nhìn chung lời khuyên này được đón nhận một cách lạnh nhạt. Tờ El País của Tây Ban Nha chế giễu rằng xung quanh Trump toàn những kẻ bất tài sống bằng nịnh hót, tìm mọi cách và mọi cơ hội để tâng bốc ông ta; và điều đó đã dẫn đến một Donald Trump càng ngày càng ngông cuồng đang đẩy đưa thế giới vào vực thẳm của bất hạnh.

[Politico: Former NATO envoy warns of ‘very big mistakes’ in criticizing Trump on Iran]

3. Mỹ treo thưởng 10 triệu đô la cho ai bắt được thủ lĩnh của một nhóm dân quân được Iran hậu thuẫn.

Mỹ đã treo thưởng 10 triệu đô la cho ai bắt được thủ lĩnh của một lực lượng dân quân Shiite được Iran hậu thuẫn ở Iraq.

Chương trình “Thưởng cho công lý” của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã ra thông báo truy tìm thủ lĩnh của nhóm Kataib Sayyid al-Shuhada. Thông báo cho biết Hashim Finyan Rahim al-Saraji là nhà lãnh đạo nhóm này, các thành viên của nhóm đã “giết hại thường dân Iraq và tấn công các cơ sở ngoại giao của Mỹ tại Iraq”.

Thông báo cũng cho biết Kataib Sayyid al-Shuhada đã tấn công các căn cứ và binh lính Mỹ tại Iraq và Syria.

Iraq có một số lực lượng dân quân Shiite được Iran hậu thuẫn, là một phần của Lực lượng Huy động Nhân dân nước này, được thành lập sau khi Mosul thất thủ năm 2014 để chính thức hóa các đơn vị tình nguyện đã đánh bại nhóm Nhà nước Hồi giáo.

Tháng trước, các phần tử cực đoan thuộc nhóm Kata'ib Hezbollah, một nhóm khác được Iran hậu thuẫn ở Iraq, đã bắt cóc nhà báo người Mỹ Shelly Kittleson. Sau đó, bà đã được thả.

[Kyiv Independent: U.S. puts $10 million bounty on leader of Iran-backed militia group]

4. Liên Hiệp Âu Châu nỗ lực làm rõ hiệp ước quốc phòng chung mà không xâm phạm NATO.

Tuần này, Síp đã gây áp lực lên các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Âu Châu để làm rõ cách thức hoạt động của điều khoản phòng thủ chung ít được sử dụng của khối, nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn các quốc gia thành viên mà không làm suy yếu NATO.

“Hiệp ước rất rõ ràng về nội dung,” Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen phát biểu trong cuộc họp của các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Âu Châu tại Síp về Điều 42.7 của Hiệp ước Liên Hiệp Âu Châu, quy định các nước thành viên phải hỗ trợ lẫn nhau nếu bị tấn công, nhưng bà nói thêm: “Hiệp ước không rõ ràng về việc điều gì sẽ xảy ra, khi nào và ai sẽ làm gì.”

Síp rất muốn thúc đẩy cuộc thảo luận này trong hội nghị thượng đỉnh vì đây là một trong bốn quốc gia Liên Hiệp Âu Châu không thuộc NATO. Những lo ngại về an ninh của nước này đã được nêu bật khi bị máy bay điều khiển từ xa của Iran tấn công trong những ngày đầu của cuộc chiến Trung Đông.

Trong khi Síp muốn điều khoản này được định nghĩa rõ ràng hơn, các quốc gia ở tuyến đầu chống lại Nga lại lo ngại cam kết của Liên Hiệp Âu Châu sẽ xung đột với Điều 5 của hiệp ước phòng thủ chung NATO.

Nhằm trấn an họ, Ngoại trưởng Síp Constantinos Kombos nói với POLITICO bên lề cuộc họp của các nhà lãnh đạo rằng điều khoản 42.7 “không phải về quốc phòng, tôi đồng ý với điều đó, mà là về hỗ trợ lẫn nhau”.

Nếu một quốc gia bị tấn công, điều khoản này không bắt buộc các thành viên khác phải đáp trả bằng vũ lực. Điều khoản nêu rõ họ có “nghĩa vụ viện trợ và hỗ trợ bằng mọi phương tiện trong khả năng của mình”. Theo cơ quan ngoại giao của Liên Hiệp Âu Châu, điều đó có thể bao gồm nhiều hình thức khác nhau, từ hỗ trợ ngoại giao đến hỗ trợ kỹ thuật hoặc y tế cũng như viện trợ dân sự hoặc quân sự.

Ông Kombos cho biết Síp đã xem xét kinh nghiệm của Pháp sau khi nước này kích hoạt điều khoản đó vào năm 2015 để đáp trả các vụ tấn công khủng bố, nghiên cứu ý kiến pháp lý của Hội đồng và tài liệu của Ủy ban về những bài học kinh nghiệm.

Ông Kombos cho biết, tài liệu của Hội đồng nêu rõ rằng “khi xảy ra một cuộc tấn công trên lãnh thổ của một quốc gia khác, 26 quốc gia còn lại có nghĩa vụ pháp lý phải đáp trả, chứ không phải chỉ mang tính biểu tượng”. Tuy nhiên, tài liệu của Ủy ban cho thấy “không có cơ chế hay sự rõ ràng nào về cách thức kích hoạt thủ tục, điều gì sẽ xảy ra sau đó, ai sẽ liên lạc với ai”.

Có một nỗ lực rộng hơn nhằm làm rõ hơn con số 42,7 — điều này đã được bà von der Leyen, Thủ tướng Đức Friedrich Merz và các nhà lãnh đạo khác bày tỏ.

Theo một quan chức cao cấp của Liên Hiệp Âu Châu tại Nicosia, trong hội nghị thượng đỉnh, Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk đã thể hiện sự ủng hộ việc đưa Điều 42.7 vào thực tiễn.

Vấn đề này đã được thảo luận trong bữa tối của các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Âu Châu vào tối thứ Năm. Quan chức này cho biết thêm, Tổng thống Síp Nikos Christodoulides đã trình bày một số ý tưởng về vấn đề này với các nhà lãnh đạo khác.

Mặc dù muốn điều khoản 42.7 được cụ thể hóa hơn, Tusk và các nhà lãnh đạo khác vẫn rất thận trọng về việc Liên Hiệp Âu Châu đóng vai trò lớn trong quốc phòng — điều mà thường được giao cho NATO và các chính phủ quốc gia.

Một nhà ngoại giao cao cấp nói với POLITICO rằng các thể chế Liên Hiệp Âu Châu “không có vai trò gì trừ khi các quốc gia thành viên phân bổ vai trò đó”, đồng thời cho biết thêm: “Điều này không làm ảnh hưởng đến các nghĩa vụ mà các quốc gia thành viên NATO phải thực hiện đối với NATO”.

[Politico: EU works to clarify common defense pact without treading on NATO]

5. Thủ tướng Donald Tusk của Ba Lan đặt câu hỏi về lòng trung thành của Mỹ đối với NATO.

Theo báo cáo của Financial Times ngày 24 tháng 4, Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk đã đặt câu hỏi về sự sẵn sàng của Washington trong việc bảo vệ Âu Châu theo các nghĩa vụ của NATO.

Thủ tướng Tusk nói với Financial Times trong một cuộc phỏng vấn rằng “câu hỏi lớn nhất và quan trọng nhất của Âu Châu là liệu Hoa Kỳ có sẵn sàng trung thành như những gì được mô tả trong các hiệp ước, gọi tắt là NATO của chúng ta hay không”.

Những bình luận này nhấn mạnh sự bất an ngày càng gia tăng trong số các đồng minh NATO sau khi Tổng thống Donald Trump công khai đề cập đến việc rời khỏi liên minh.

Tổng thống Trump, người từ lâu đã chỉ trích NATO, đã đe dọa sẽ có những biện pháp trả đũa đối với các đồng minh từ chối tham gia cuộc chiến của Mỹ với Iran. Trước đó, ông cũng đã mạnh mẽ thúc đẩy việc sáp nhập Greenland, một lãnh thổ của Đan Mạch, một đồng minh của NATO.

Các động thái này đã làm dấy lên nghi ngờ về thiện chí của Washington trong việc tôn trọng điều khoản phòng thủ của Điều 5 và hỗ trợ liên minh nếu Nga đe dọa biên giới phía đông của NATO.

Đối với các nước nằm ở sườn phía đông của liên minh, vấn đề là liệu NATO có sẵn sàng đáp trả trong trường hợp bị Nga tấn công hay không, ông Tusk nói, đồng thời lập luận rằng một số thành viên đã giả vờ như “không có chuyện gì xảy ra” khi máy bay điều khiển từ xa của Nga bị bắn hạ trong không phận Ba Lan vào mùa thu năm ngoái.

“Tôi muốn tin rằng (Điều 5) vẫn còn hiệu lực, nhưng tất nhiên, đôi khi tôi cũng gặp một số vấn đề,” nhà lãnh đạo Ba Lan nói với Financial Times, đồng thời cảnh báo rằng Nga có thể tấn công liên minh này trong vòng vài tháng tới.

Ba Lan, giáp cả vùng Kaliningrad được quân sự hóa cao độ của Nga và Belarus, đồng minh của Mạc Tư Khoa, đã trở thành quốc gia chi tiêu quốc phòng nhiều nhất trong NATO và đang nhanh chóng xây dựng lực lượng lục quân lớn nhất Âu Châu.

[Kyiv Independent: Poland's Tusk questions US loyalty to NATO]

6. Các nhà lập pháp Mỹ trình dự luật nhằm chống lại sự đàn áp tôn giáo của Nga tại Ukraine.

Theo một thông báo chính thức, một nhóm lưỡng đảng gồm các nhà lập pháp Hoa Kỳ đã đệ trình dự luật vào ngày 23 tháng 4 nhằm chống lại sự tấn công của Nga vào tự do tôn giáo ở Ukraine.

Dự luật được đề xuất, có tên gọi là Đạo luật Chống Cuộc chiến bài Niềm tin của Nga, sẽ yêu cầu Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cùng báo cáo về những nỗ lực của chính phủ Nga trong việc bức hại, đàn áp, phân biệt đối xử hoặc vi phạm các quyền tự do tôn giáo của người dân ở Ukraine và các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm tạm thời.

Văn bản này cũng chỉ thị tổng thống Mỹ “áp đặt tất cả các biện pháp trừng phạt thích hợp đối với các cá nhân nước ngoài được chứng nhận đã tham gia vào các nỗ lực đó, và cho các mục đích khác”.

Dự luật này được Dân biểu Joe Wilson trình lên Hạ viện, cơ quan lập pháp cấp dưới của Quốc hội Hoa Kỳ, và được Dân biểu Steve Cohen cùng các nhà lập pháp khác từ cả hai đảng ủng hộ. Một dự luật tương tự đã được Thượng Nghị Sĩ John Kennedy và Sheldon Whitehouse trình lên Thượng viện, cơ quan lập pháp cao cấp hơn.

Theo tuyên bố của các nhà lập pháp, hơn 600 nhà thờ, giáo đường Do Thái, đền thờ Hồi giáo và các địa điểm tôn giáo khác đã bị hư hại hoặc phá hủy, và hơn 50 giáo sĩ Ukraine đã bị giết kể từ khi cuộc xâm lược toàn diện của Nga bắt đầu vào năm 2022.

Các cộng đồng Tin Lành, Công Giáo, Hồi giáo Tatar Crimea và Chính thống giáo không thuộc Giáo hội Chính thống Nga đã phải đối mặt với các cuộc truy quét, việc ghi danh lại bắt buộc và truy tố hình sự.

“Nga tấn công và giết hại những người có tín ngưỡng như một chính sách bất khả xâm phạm ở bất cứ nơi nào nước này xâm lược”, Dân biểu Wilson nói trong tuyên bố, đồng thời cho biết thêm rằng “tội phạm chiến tranh Putin tìm cách ngăn cản tự do tín ngưỡng của tất cả các tín hữu và đàn áp bất kỳ tín ngưỡng nào không phục tùng nhà thờ do nhà nước kiểm soát”.

Ông nói thêm rằng “những tín hữu ở các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm tạm thời của Ukraine đang bị tấn công một cách đặc biệt tàn bạo.”

Dân biểu Cohen cho biết dự luật này nhấn mạnh cam kết của Hoa Kỳ trong việc giải quyết các hành vi vi phạm nhân quyền như một phần trong chính sách đối ngoại của nước này.

“Putin là một tội phạm chiến tranh đang tiến hành diệt chủng ở Ukraine,” Cohen nói. “Ông ta cũng đang cố gắng xóa bỏ những biểu hiện bản sắc Ukraine, bao gồm cả tự do tôn giáo.”

Các nhà lập pháp khác cũng bày tỏ những lo ngại tương tự. Đại diện Brian Fitzpatrick mô tả cuộc chiến này là “một cuộc tấn công có tính toán, có hệ thống vào tự do tôn giáo”, đồng thời cho biết thêm rằng luật này sẽ bảo đảm “những tội ác này được ghi nhận, thủ phạm được xác định và những hậu quả thực sự sẽ xảy ra”.

Dân biểu Marcy Kaptur cho rằng hành động của Nga phản ánh một mô hình lịch sử lâu dài hơn, gọi đó là “lời nhắc nhở kinh hoàng rằng cuộc chiến xâm lược mới này chưa bao giờ chỉ đơn thuần là về đất đai, mà là về việc Nga hóa cưỡng bức và xóa bỏ lối sống đa nguyên và tự do của Ukraine”.

Ngoại trưởng Andrii Sybiha hoan nghênh biện pháp này và bày tỏ lòng biết ơn đối với các nhà lập pháp.

“Điều này không chỉ kịp thời mà còn đã quá muộn. Nga phải chịu trách nhiệm về hành động tấn công có hệ thống vào tự do tôn giáo”, Sybiha nói.

Ông nói thêm: “Trên khắp các vùng lãnh thổ bị Nga tạm thời xâm lược, Nga đàn áp và sát hại các giáo sĩ, phá hủy nhà thờ, cấm đoán toàn bộ cộng đồng tín ngưỡng và lợi dụng tôn giáo để gieo rắc nỗi sợ hãi và kiểm soát”.

“Đây cũng là một cuộc tấn công trực tiếp vào một quyền cơ bản của con người - quyền tự do tín ngưỡng, thờ phượng và sống mà không sợ hãi.”

[Kyiv Independent: US lawmakers introduce bill to counter Russia's religious repression in Ukraine]

7. Estonia kêu gọi Liên Hiệp Âu Châu đánh thuế hàng hóa Nga để tài trợ cho công cuộc tái thiết Ukraine.

Thủ tướng Estonia Kristen Michal cho rằng Âu Châu nên tài trợ cho công cuộc tái thiết Ukraine bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu từ Nga.

Ông Michal nói với POLITICO bên lề hội nghị thượng đỉnh hai ngày của các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Âu Châu tại Síp, nơi đang diễn ra để thảo luận về địa chính trị, an ninh và ngân sách của khối, rằng chi phí để sửa chữa cơ sở hạ tầng bị tàn phá và các thành phố bị ném bom của Ukraine lên tới hàng trăm tỷ euro.

Âu Châu đã áp đặt các biện pháp trừng phạt, cấm nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Nga và áp thuế đối với ngũ cốc và phân bón. Tuy nhiên, họ chưa tăng thuế đối với các mặt hàng được phép nhập khẩu với mục đích rõ ràng là hỗ trợ Ukraine, và ý tưởng sử dụng chính sách thương mại cho mục đích an ninh vẫn còn gây tranh cãi trong khối.

“Chúng ta cần áp thuế đối với hàng hóa từ Nga để bù đắp thiệt hại,” ông nói. “Đây là chủ đề được thảo luận ở nhiều diễn đàn và cuộc họp khác nhau, rằng các loại thuế khác nhau đối với hàng hóa Nga có thể tài trợ cho việc tái thiết Ukraine.”

Hồi tháng 11 năm ngoái, bảy quốc gia, trong đó có Estonia, đã kêu gọi áp thuế đối với các sản phẩm của Nga như thép và phân bón, nhưng nỗ lực này đã bị đình trệ và không nằm trong gói trừng phạt thứ 20 mà Liên Hiệp Âu Châu đã đồng ý trong tuần này.

Michal lập luận rằng ngay cả 210 tỷ euro tài sản bị đóng băng của Mạc Tư Khoa, được giữ trong một kho lưu ký tài chính có trụ sở tại Brussels, cũng không đủ để trang trải khoản nợ khổng lồ đó.

Thật khó để tính toán toàn bộ chi phí tài chính của cuộc xâm lược Ukraine kéo dài bốn năm của Nga, vốn đã khiến hàng trăm ngàn người Ukraine thiệt mạng hoặc bị thương, hàng triệu người khác phải di dời và san bằng nhiều thành phố.

Tuy nhiên, một nghiên cứu do chính phủ Ukraine, Liên Hiệp Quốc, Ủy ban Âu Châu và Ngân hàng Thế giới ủy nhiệm, được công bố vào tháng 2 năm ngoái, cho thấy sẽ cần 500 tỷ euro trong vòng một thập niên để tái thiết Ukraine. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 13% số nhà ở của Ukraine đã bị phá hủy trong ba năm đầu tiên của cuộc xung đột.

“Họ phải chịu trách nhiệm,” Michal nói, ám chỉ Mạc Tư Khoa. “Bởi vì nếu họ không chịu trách nhiệm, thì điều này sẽ lặp lại. Chúng tôi, Estonia, có lịch sử lâu dài hơn với Nga. Chúng tôi biết Nga là gì. Chúng tôi chỉ mới giành được độc lập cách đây không lâu.”

Nền kinh tế Ukraine đã bị suy kiệt do cuộc chiến với Nga và chi phí khổng lồ để đẩy lùi cuộc xâm lược, trong khi Liên Hiệp Âu Châu tuần này đã phê duyệt khoản vay 90 tỷ euro để giúp Kyiv trụ vững.

Ông Michal nhắc lại lời kêu gọi Âu Châu cập nhật các quy định về thị thực để cấm các chiến binh Nga nhập cảnh vào khối, lập luận rằng một khi chiến tranh ở Ukraine kết thúc, họ sẽ tràn vào Âu Châu và gây ra hỗn loạn. Ông là một trong tám nhà lãnh đạo đã cùng với ông Friedrich Merz của Đức và ông Donald Tusk của Ba Lan ký vào bức thư gửi Chủ tịch Hội đồng Âu Châu António Costa và Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen hồi tháng trước, kêu gọi siết chặt các quy định về thị thực.

“Chúng là tội phạm, chúng sẽ tìm việc làm trong các đội quân tư nhân, ở nhiều nơi khác nhau,” ông nói. “Vì vậy, đây là vấn đề liên quan đến an ninh nội địa của chúng ta… Nếu các anh tham gia vào loại hành động gây hấn này chống lại Ukraine, thì hãy ở lại Nga.”

Michal cho biết Tallinn hy vọng Ủy ban Âu Châu sẽ dẫn đầu nỗ lực hậu cần khổng lồ nhằm đưa vào danh sách đen hơn một triệu người Nga. Ông nói: “Tôi biết rằng [Đại diện cao cấp của Liên Hiệp Âu Châu và cựu thủ tướng Estonia] Kaja Kallas đang giải quyết vấn đề này rồi”.

“Chúng tôi cũng đang thúc đẩy họ… Tôi hy vọng rằng trước mùa hè, chúng ta sẽ có được một số điểm nhất định trong chương trình nghị sự của Hội đồng Âu Châu về vấn đề này.”

[Politico: Estonia calls on EU to tax Russian goods to fund Ukraine’s reconstruction]

8. Ngày càng nhiều hãng vận chuyển chuyển sang kênh đào Panama do tình trạng tắc nghẽn ở eo biển Hormuz.

Theo Cơ quan quản lý kênh đào Panama, các doanh nghiệp đã chi tới 4 triệu đô la để cho phép tàu thuyền di chuyển qua kênh đào Panama trong bối cảnh eo biển Hormuz bị đóng cửa, động thái này đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong dòng chảy thương mại toàn cầu.

Mặc dù việc đi qua tuyến đường thủy này thường có mức phí cố định thông qua đặt chỗ trước, các công ty không đặt chỗ trước vẫn có thể đi qua bằng cách trả thêm phí trong một cuộc đấu giá để giành chỗ, và các suất đi qua sẽ được trao cho người trả giá cao nhất thay vì phải chờ đợi nhiều ngày ngoài khơi thành phố Panama.

Giá cả đã tăng vọt trong những tuần gần đây khi Iran và Hoa Kỳ phong tỏa tuyến đường vận chuyển quan trọng, eo biển Hormuz, và nhu cầu về các suất vận chuyển này đã tăng cao. Các tàu ngày càng đi qua kênh đào Panama nhiều hơn do các lô hàng được chuyển hướng và người mua mua hàng từ các quốc gia khác để tránh giao thương qua tuyến đường thủy Trung Đông hiện đang rất nguy hiểm.

“ Với tất cả các vụ đánh bom, hỏa tiễn, máy bay điều khiển từ xa… các công ty đang nói rằng việc đi qua kênh đào Panama an toàn hơn và ít tốn kém hơn”, luật sư kiêm nhà phân tích Rodrigo Noriega tại thành phố Panama cho biết. “Tất cả những điều này đang ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu.”

Ông Noriega cho biết chính phủ Panama đang “tối đa hóa lợi ích thu được từ kênh đào Panama”.

Giá trung bình để qua kênh đào dao động từ 300.000 đến 400.000 đô la, tùy thuộc vào loại tàu. Trước đây, để được qua kênh sớm hơn, các doanh nghiệp phải trả thêm từ 250.000 đến 300.000 đô la. Trong những tuần gần đây, chi phí bổ sung trung bình đã tăng lên khoảng 425.000 đô la.

Ricaurte Vásquez, người quản lý kênh đào, cho biết một công ty khác mà ông không muốn nêu tên đã phải trả thêm 4 triệu đô la khi tàu chở nhiên liệu của họ phải thay đổi điểm đến do căng thẳng địa chính trị đang diễn ra.

[Kyiv Independent: More shippers turning to Panama Canal due to Strait of Hormuz chokehold]

9. Chỉ trong 8 tuần, cuộc chiến tranh Iran đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Mỹ. Các nhà kinh tế cho rằng, hậu quả có thể kéo dài.

Trong tám tuần kể từ khi chiến tranh Iran bắt đầu, xung đột đã đẩy giá xăng lên trên 4 đô la một gallon, gây khó khăn cho người mua nhà và đẩy lạm phát lên mức cao nhất trong gần hai năm. Ngay cả khi chiến tranh kết thúc sớm, người Mỹ có thể sẽ phải chịu ảnh hưởng tài chính trong nhiều tháng, các nhà kinh tế cho biết.

“Tôi nghĩ thiệt hại đã xảy ra rồi, một phần vì giá dầu không thể quay trở lại mức cũ, ít nhất là trong tương lai gần”, Mark Zandi, nhà kinh tế trưởng tại Moody's Analytics, nói với CBS News.

Cuộc chiến đã làm gián đoạn giao thông qua eo biển Hormuz, một tuyến đường thủy chiến lược mà thông thường vận chuyển một phần năm lượng dầu mỏ của thế giới. Giá dầu đã tăng vọt, gây ra những hậu quả trên quy mô lớn đối với người dân Mỹ khi họ đổ xăng cho xe và đặt vé du lịch. Tính đến trưa thứ Sáu, dầu thô Brent, chuẩn mực quốc tế, đang được giao dịch ở mức 105 đô la một thùng, tăng 44% so với trước khi chiến tranh bắt đầu.

Ông Zandi cho biết, do thiệt hại lan rộng đối với các cơ sở năng lượng trên khắp Trung Đông, sản lượng dầu sẽ mất một thời gian dài để phục hồi trở lại mức trước chiến tranh là 100 triệu thùng mỗi ngày.

Mặc dù các nhà kinh tế dự báo giá dầu sẽ giảm vào cuối năm nay, nhưng theo nhiều dự báo, giá dầu có khả năng vẫn duy trì ở mức cao hơn so với trước chiến tranh trong suốt năm 2026.

“Quan điểm của chúng tôi là việc bình thường hóa hoàn toàn vẫn sẽ cần thời gian, đặc biệt là đối với chuỗi cung ứng và năng lực năng lượng”, Lydia Boussour, nhà kinh tế cao cấp tại EY-Parthenon, cho biết, đồng thời lưu ý đến “những tác động dai dẳng” của chiến tranh.

Tòa Bạch Ốc chưa đưa ra phản hồi ngay lập tức về yêu cầu bình luận.

Chắc chắn, chiến tranh Iran không phải là yếu tố duy nhất tạo ra những khó khăn cho nền kinh tế Mỹ. Trí tuệ nhân tạo cũng đang định hình lại thị trường lao động, với việc các công ty như Meta và Microsoft thông báo cắt giảm việc làm quy mô lớn trong tuần này. Sự bất ổn và chi phí cao hơn liên quan đến chính sách thuế quan của chính quyền Trump cũng vẫn tiếp diễn, khi chính quyền này cam kết sẽ áp dụng thêm thuế nhập khẩu sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ thuế quan “ngày giải phóng” của họ.

Lạm phát dự kiến sẽ tăng cao.

Các nhà kinh tế nói với đài CBS News rằng họ dự đoán lạm phát sẽ tăng mạnh trong tháng Tư và duy trì ở mức cao trong suốt năm 2026. Tháng trước, Chỉ số Giá tiêu dùng, gọi tắt là CPI đạt mức 3,3% tính theo năm, mức cao nhất kể từ tháng 5 năm 2024, do giá năng lượng tăng vọt.

Một chỉ số quan trọng khác về lạm phát, Chỉ số Chi tiêu Tiêu dùng Cá nhân, gọi tắt là PEP, có thể đạt 4% vào cuối năm nay, gấp đôi mục tiêu 2% của Cục Dự trữ Liên bang, theo Scott Lincicome, phó chủ tịch phụ trách kinh tế tổng quát tại Viện Cato, một tổ chức tư vấn phi đảng phái. Chỉ số này đã tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước trong tháng Hai.

“Dĩ nhiên, người tiêu dùng muốn giảm phát, và chúng ta chắc chắn không đạt được điều đó,” ông nói. “Chúng ta nên dự đoán rằng giá cả sẽ vẫn cao hơn mức mà mọi người mong muốn.”

Áp lực tài chính do giá năng lượng tăng cao có thể khiến người tiêu dùng giảm chi tiêu, từ đó tạo ra trở ngại cho tăng trưởng GDP vì khoảng 70 xu trong mỗi đô la GDP đến từ chi tiêu tiêu dùng.

Nhà kinh tế trưởng của EY-Parthenon, Gregory Daco, dự báo chiến tranh có thể kéo GDP giảm 0,3 điểm phần trăm trong năm nay, với tốc độ tăng trưởng GDP cả năm là 1,8%. Con số này thấp hơn so với mức 2,1% được ghi nhận vào năm 2025.

Ông Boussour, cũng thuộc EY-Parthenon, cho biết việc cắt giảm chi tiêu từ phía người tiêu dùng “thực sự là kênh chính mà qua đó chúng ta dự đoán sẽ gây ra tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế”, đồng thời nói thêm rằng thị trường lao động yếu hơn và tăng trưởng tiền lương chậm cũng có thể làm giảm sức mua.

Chi tiêu vẫn duy trì ổn định kể từ khi chiến tranh bắt đầu, mặc dù dữ liệu của Bank of America cho thấy phần lớn sự tăng trưởng đến từ các gia cư có thu nhập cao hơn. Những người tiêu dùng này có xu hướng đầu tư nhiều tiền hơn vào thị trường chứng khoán, vốn tiếp tục lập kỷ lục mới bất chấp những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế do chiến tranh Iran gây ra.

Đánh vào điểm yếu của người Mỹ

Đối với nhiều người Mỹ, tác động lớn nhất của cuộc chiến tranh Iran có lẽ là ở các trạm xăng, nơi giá trung bình đã tăng hơn 1 đô la mỗi gallon kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu do tình trạng thiếu hụt nguồn cung dầu toàn cầu. Tính đến thứ Sáu, giá trung bình cho một gallon xăng ở Mỹ là 4,06 đô la, theo AAA.

Ông Zandi cho biết, trong kịch bản lạc quan nhất, giá xăng có thể ổn định ở mức khoảng 3,50 đô la một gallon vào cuối năm nay. Mặc dù điều đó có thể giúp người lái xe giảm bớt gánh nặng, nhưng nó vẫn cao hơn mức giá trước chiến tranh là 2,98 đô la.

Du lịch mùa hè cũng trở nên đắt đỏ hơn do chiến tranh Iran, khi các hãng hàng không tăng giá vé và thu phí hành lý để bù đắp chi phí nhiên liệu máy bay, vốn đã tăng hơn 2 đô la một gallon vào đầu tháng này.

Mặc dù phần lớn khó khăn kinh tế cho đến nay tập trung vào lĩnh vực du lịch, các nhà kinh tế cho rằng người Mỹ có thể sớm cảm nhận được áp lực ở các lĩnh vực khác trong cuộc sống khi giá dầu diesel tăng cao làm tăng chi phí vận chuyển hàng hóa, đẩy giá thực phẩm và giá các mặt hàng khác lên cao.

“Bất cứ thứ gì được chất lên xe tải đều sẽ tốn thêm chi phí,” Zandi nói. “Điều đó áp dụng cho cả thực phẩm lẫn các kiện hàng của Amazon.”

Các nhà kinh tế cho rằng, sự gián đoạn trong sản xuất và cung ứng phân bón có thể gây áp lực lên giá lương thực. Phân bón được sản xuất bằng khí đốt tự nhiên, nguồn cung đang bị hạn chế do chiến tranh. Trong một báo cáo được công bố hôm thứ Sáu, Cơ quan Năng lượng Quốc tế dự đoán rằng cuộc xung đột ở Trung Đông sẽ khiến nguồn cung khí đốt tự nhiên toàn cầu khan hiếm trong hai năm tới.

Ông Lincicome nói về sự gián đoạn chuỗi cung ứng do chiến tranh gây ra: “Các nhà bán buôn, nhà phân phối và nhà bán lẻ đều có thể gánh chịu một phần thiệt hại. Vì vậy, có thể không phải toàn bộ chi phí sẽ chuyển sang người tiêu dùng, nhưng chắc chắn sẽ có một phần bị ảnh hưởng.”

[CBSNews: In 8 weeks, the Iran war has dented the U.S. economy. The damage could linger, economists say.]

10. Giá dầu tăng nhẹ trong bối cảnh bất ổn tại eo biển Hormuz.

Giá dầu đã bắt đầu tăng nhẹ từ thứ Năm và vẫn tiếp tục xu hướng đó, trong bối cảnh bất ổn về cuộc xung đột Mỹ-Iran và khi cả hai nước đều tìm cách kiểm soát giao thông qua eo biển Hormuz, một tuyến đường vận chuyển dầu quan trọng từ Trung Đông.

Tính đến 22h00 giờ ET, giá dầu thô Brent quốc tế đang giao dịch ở mức gần 107 Mỹ Kim/thùng cho các lô giao tháng 6, tăng 1,5% trong ngày. Giá dầu Brent đang ở mức cao nhất kể từ khi Mỹ và Iran bắt đầu thỏa thuận ngừng bắn cách đây hơn hai tuần.

Giá dầu thô chuẩn của Mỹ, West Texas Intermediate, giao dịch ở mức hơn 97 đô la một thùng, tăng 1,5%.

Iran đã tìm cách kiểm soát eo biển Hormuz, được tường trình đã tấn công và chiếm giữ ít nhất hai tàu vào thứ Tư. Mỹ cũng đã lên tàu các tàu có liên hệ với Iran trong những ngày gần đây và đang thực thi lệnh phong tỏa các cảng của Iran, khi Tổng thống Trump khẳng định Mỹ đang kiểm soát eo biển này.

Theo dữ liệu từ công ty theo dõi Kpler, lưu lượng tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz vẫn thấp hơn nhiều so với mức trước chiến tranh, mặc dù đã tăng nhẹ sau khi thỏa thuận ngừng bắn tạm thời giữa Mỹ và Iran bắt đầu vào đầu tháng 4.

[Kyiv Independent: Oil prices tick up amid Strait of Hormuz uncertainty]