Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “In Thanksgiving for the Gift of Baptism”, nghĩa là “Trong niềm tri ân hồng ân phép rửa tội”
Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Nhà thờ Hai Thánh Philipphê và Giacôbê Tông Đồ, sự kết hợp tuyệt vời giữa phong cách kiến trúc Hy Lạp-Rôma và Byzantine, hiện đang được các Cha dòng Đa Minh thuộc Tỉnh dòng Thánh Giuse chăm sóc. Các ngài điều hành một giáo xứ sôi động và một hoạt động mục vụ tại trường Đại học Johns Hopkins gần đó. Nhà thờ có một số cửa sổ kính màu tuyệt đẹp và phần trang trí hậu cung, gợi nhớ đến nhiều vương cung thánh đường Rôma với hàng loạt các vị thánh, khiến tôi nhớ đến một chủ đề thích hợp để suy ngẫm nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày rửa tội của mình: đó là sự hiệp thông của các thánh.
Được rửa tội là được gia nhập vào Giáo Hội. Được tái sinh trong đời sống mới trong Chúa Kitô qua nước phép rửa tội đồng thời được gia nhập vào thân thể siêu thời gian của những người bạn hữu Chúa Giêsu Kitô: là điều mà truyền thống gọi là Giáo Hội Chiến Đấu (những người đang sống ngày nay), Giáo Hội Đau Khổ (những người đang trải qua thời kỳ thanh tẩy sau khi chết), và Giáo Hội Khải Hoàn (những người được chúc phúc khi được chiêm ngưỡng Thiên Chúa Ba Ngôi). Ba “trạng thái” này trong Giáo Hội tạo thành một thân thể, hay một sự hiệp thông, xuyên suốt các thế kỷ, và thực sự vượt ra ngoài thế giới tự nhiên như chúng ta nhận thức. Đó là một “sự hiệp thông của các thánh” bởi vì tất cả những ai thuộc về nó nhờ phép rửa tội đều được kêu gọi đến ơn gọi thánh thiện, mà không có một khuôn mẫu duy nhất nào.
Trong suốt 75 năm qua, tôi đã cảm nhận được sự thiêng liêng ấy bằng nhiều cách khác nhau, mỗi cách đều để lại dấu ấn trong tâm hồn và đời sống tâm linh của tôi. Xin kể ra một vài ví dụ:
Có lẽ tôi đã có được trực giác đầu tiên về ý nghĩa của sự thánh thiện thông qua tình yêu hy sinh của cha mẹ tôi, những người đã đưa tôi đến với phép rửa tội và đã làm rất nhiều điều cho tôi trong hai thập niên tôi sống cùng các ngài.
Nhìn lại, giờ đây tôi hiểu rằng những người thầy đã định hình sâu sắc tâm trí và rèn giũa kỷ luật cho thời thơ ấu và tuổi thiếu niên của tôi đã mang đến một trải nghiệm khác về sự hiệp thông của các vị thánh.
Tương tự như vậy, giáo viên dạy piano của tôi, Sơ Mary Arnold kiên nhẫn thuộc Dòng Nữ tu Notre Dame, và người chỉ huy dàn hợp xướng tuyệt vời của tôi, thiên tài nóng tính nhưng đầy nhiệt huyết Robert Twynham cũng vậy — bởi vì bất cứ khi nào tôi có những gì tôi cho là “trải nghiệm tâm linh”, thì hầu như nó đều liên quan đến âm nhạc.
Tôi đã học được rất nhiều điều từ kinh nghiệm của một vị linh mục, người đã vượt qua cuộc chiến dài hơi với chứng nghiện rượu để đạt được sự thánh thiện và thanh thản.
Vợ và các con tôi đều đã thể hiện cho tôi những phẩm chất thánh thiện độc đáo — và tất cả họ chắc chắn đều đã sống trọn vẹn phẩm chất thánh thiện của sự kiên nhẫn!
Tôi đã may mắn được biết những vị tử đạo bị bách hại và tuyên xưng đức tin, những người đã trưởng thành trong sự thánh thiện giữa lúc bị bách hại nhờ đức tin, niềm hy vọng và tình yêu được gieo vào lòng họ qua phép rửa tội: Myroslav Marynovych của Ukraine, Sơ Nijolė Sadūnaitė của Lithuania, Jimmy Lai của Hương Cảng và Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận của Việt Nam, đó chỉ là bốn trong số rất nhiều người tiêu biểu.
Và trong khi 30 năm qua đã cho tôi sự trân trọng sâu sắc đối với lời cảnh báo thận trọng của Ronald Knox (mà trước đây tôi đã nhầm lẫn gán cho John Henry Newman) rằng “người nào đi trên con thuyền của Thánh Phêrô thì tốt hơn hết đừng nhìn quá kỹ vào phòng máy “, tôi đã có nhiều trải nghiệm về sự thánh thiện ở Rôma, trong những cuộc gặp gỡ với những người như Đức Hồng Y Bernardin Gantin của Benin, Đức Hồng Y Francis Arinze của Nigeria và Đức Hồng Y Robert Sarah của Guinea — ba vị giáo sĩ, cả sống và đã khuất, mà ngay cả những người hoài nghi nhất trong Giáo triều cũng công nhận là những người của Chúa, sống đúng với sự thánh thiện mà các ngài được kêu gọi trong phép rửa tội.
Hơn nữa, tôi đặc biệt ghi nhớ ân sủng to lớn khi được biết đến hai vị giáo hoàng thánh thiện, Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI. Trong cả hai trường hợp, sự vĩ đại trong công việc và giáo huấn của các ngài phản ánh thực tế rằng các ngài là những môn đệ Kitô giáo được hoán cải triệt để — những người coi trọng phép rửa tội của mình như ngày quan trọng nhất trong cuộc đời.
Việc được tham gia vào “sự hiệp thông của các thánh” là một trong những ân sủng lớn lao được ban trong phép rửa tội. Khi tôi tạ ơn về ân sủng phép rửa tội của mình cách đây 75 năm, tôi đặc biệt biết ơn việc được gia nhập vào “đám mây chứng nhân vĩ đại” này (Dt 12:1). Và viễn cảnh được cùng các ngài tại “núi Si-ôn, trong thành của Thiên Chúa hằng sống, Giêrusalem trên trời” (Dt 12:22) chính là niềm hy vọng lớn lao của tôi.
Source:National Catholic Register