1. Công Giáo bất ngờ thâm nhập vào Estonia thế tục.

Trong số các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi sự hồi sinh bất ngờ của Công Giáo ở Âu Châu, ít có quốc gia nào thú vị như Estonia. Từ lâu được coi là một trong những quốc gia ít sùng đạo nhất thế giới, quốc gia Baltic theo đạo Tin lành này dường như là một nơi không mấy thích hợp cho sự trỗi dậy của Công Giáo.

Tuy nhiên, lễ Phục Sinh năm nay đã cho thấy một dấu hiệu rằng có thể mọi thứ đang thay đổi.

Tại nhà thờ Công Giáo khiêm tốn nằm trong khu phố cổ thời trung cổ của thủ đô Talinn, Estonia, Đức Cha Philippe Jourdan đã làm lễ rửa tội cho 33 người lớn trong đêm vọng Phục Sinh ngày 4 tháng 4. Vào Chúa Nhật Phục Sinh, ngài đã tiếp nhận thêm 15 tín hữu đã được rửa tội trước đó vào sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo. “Chúng tôi chưa bao giờ có nhiều người như vậy,” Đức Cha mục Jourdan nói với tờ Register.

Mặc dù con số này có vẻ khiêm tốn so với tiêu chuẩn của Pháp, nơi số lượng người trưởng thành được rửa tội đã tăng mạnh trong những năm gần đây, nhưng ở Estonia, một quốc gia chỉ có 1,3 triệu dân, nơi đạo Công Giáo gần như bị xóa sổ, chúng cho thấy một sự chuyển biến tôn giáo mà ít ai có thể dự đoán được.

Năm 2011, Estonia được xác định là quốc gia ít sùng đạo nhất thế giới. Một thập niên sau, cuộc điều tra dân số năm 2021 của nước này cho thấy chỉ có 29% dân số tuyên bố có tín ngưỡng tôn giáo. Nguồn gốc của chủ nghĩa thế tục đó rất sâu xa. Cuộc Cải cách Tin lành đã xóa bỏ hiệu quả Công Giáo trong suốt thế kỷ 16, trong khi chế độ Xô Viết sau đó đã đẩy nhanh sự suy giảm của việc truyền bá tôn giáo trong xã hội. Các nghiên cứu cho thấy ở Estonia, đức tin không bị bác bỏ một cách tích cực mà đơn giản là không tồn tại.

“Ở các nước Mỹ Latinh, người ta có thể nói về sự phục hưng,” vị giám mục gốc Pháp 65 tuổi, người trở thành giám mục giáo phận đầu tiên của Estonia vào năm 2024, nói. “Ở đây, tôi thích nói về sự trở lại của Công Giáo hơn.”

Không giống như một số quốc gia Âu Châu, nơi nhiều người cải đạo đang tìm lại cội nguồn tổ tiên theo một nghĩa nào đó, Estonia hầu như không có di sản Công Giáo nào để khôi phục. “Những người cải đạo sang Công Giáo đầu tiên ở đây chỉ bắt đầu từ những năm 1920”, Giám mục Jourdan nói với tờ Register.

Ngài cho biết, trích dẫn nghiên cứu của tác giả người Đức Lambert Klinke về Giáo Hội Công Giáo ở Estonia thuộc Liên Xô, vào đầu những năm 1970, số lượng người Công Giáo gốc Estonia chỉ còn dưới 10 người. “Không phải 5.000, không phải 50, mà chỉ có năm hoặc sáu người!” ngài nói.

Do đó, Giáo hội hiện nay ở Estonia hầu như hoàn toàn là Giáo hội của những người cải đạo, với rất ít gia đình có nguồn gốc Công Giáo truyền thống. “Người Công Giáo là những người cải đạo, hoặc con cái của những người cải đạo, và giờ đây chúng ta bắt đầu thấy những người cháu đầu tiên của những người cải đạo”, Đức Cha Jourdan nói tiếp.

Theo thống kê dân số năm 2021, người Công Giáo chiếm khoảng 0,8% dân số Estonia — tương đương khoảng 10.000 người.

“Nếu nhìn vào xuất phát điểm của chúng ta,” vị giám mục nhận xét, “có thể nói chúng ta đã tăng lên gấp ngàn lần.”

Không giống như các nước láng giềng Thụy Điển hay Na Uy, nơi sự phát triển của đạo Công Giáo một phần được thúc đẩy bởi nhập cư, phong trào gần đây ở Estonia dường như chủ yếu mang tính địa phương.

Theo Giáo phận Tallinn, trong số 33 người lớn được rửa tội trong đêm vọng Phục Sinh, tất cả trừ một người đều là người Estonia; một người là người Nga. Điều thay đổi đáng chú ý nhất trong những năm gần đây là hồ sơ của những người tiếp cận Giáo hội.

“Trước đây, những người dự tòng thường ở độ tuổi từ 30 đến 40,” Đức Cha Jourdan nói. “Giờ đây, họ thường ở độ tuổi 20 hơn.”

Đức Cha giải thích hiện tượng này một phần là do sự chú ý mà Giáo hoàng Thánh Gioan Phaolô II đã dành cho đất nước thông qua chuyến thăm năm 1993, ngay sau khi Liên Xô sụp đổ. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tạo thêm động lực cho phong trào khi trở lại vào năm 2018 và cuối cùng thành lập một giáo phận chính thức tại Tallinn.

“Người Estonia rất quan tâm đến cách thế giới bên ngoài nhìn nhận họ,” Đức Cha Jourdan nói. “Việc Giáo hoàng từ Rôma đến Tallinn, bất chấp việc ở đây có rất ít người Công Giáo, đã tạo ấn tượng rất mạnh mẽ.”

Nhưng cũng giống như ở các quốc gia Âu Châu khác, bối cảnh lịch sử dường như cũng đóng một vai trò quan trọng. Đức Cha Jourdan tin rằng thời kỳ COVID, ngay sau đó là cuộc xâm lược Ukraine của Nga năm 2022, có thể đã khơi dậy những câu hỏi mang tính triết lý sâu xa hơn — đặc biệt là trong giới trẻ.

“ Ở đây, chiến tranh không phải là điều trừu tượng, mà là điều chúng ta trải nghiệm trực tiếp hơn nhiều so với các quốc gia ở phía tây xa hơn,” ngài nói. Estonia có chung biên giới với Nga và thực tế đã tiếp nhận một số lượng đáng kể người tị nạn Ukraine. “Mọi người tự hỏi: Ngoài đại dịch và chiến tranh, liệu còn điều gì khác? Cuộc sống có còn gì để cống hiến nữa không?”

Ngài cũng nhận thấy một sự thay đổi về văn hóa trong cách nhìn nhận về lòng nhiệt thành tôn giáo.

“Một người trẻ tuổi xin được rửa tội cách đây bốn hoặc năm năm có thể bị coi là yếu đuối, kỳ lạ, thậm chí là hơi không khỏe mạnh,” ngài nói. “Ngày nay, ngay cả khi người khác không cùng đức tin, họ vẫn có thể nghĩ: Đây là người có niềm tin vững chắc, người có cá tính.”

Khi được hỏi tại sao thế hệ trẻ lại hướng đến Công Giáo hơn là các truyền thống Kitô giáo khác, Đức Cha Jourdan đã chỉ ra sự hiện diện ngày càng tăng của Giáo hội trong cộng đồng và sức hấp dẫn của sự rõ ràng về giáo lý.

“Giáo Hội Công Giáo hiện diện rõ ràng hơn nhiều trong xã hội Estonia so với 20 năm trước,” ngài nói. “Họ bị thu hút bởi một đức tin được thể hiện một cách rõ ràng và với một sự khắt khe nhất định,” ngài cho biết thêm.

Sự hiện diện của Giáo hội trong lĩnh vực giáo dục cũng có thể đang mang lại kết quả tốt.

Estonia hiện có hai trường Công Giáo — ở Tallinn và Tartu — một bước phát triển chưa từng có trong lịch sử đất nước.

“Sinh viên không nhất thiết phải trở thành người Công Giáo ngay lập tức,” Đức Cha nói với tờ Register. “Nhưng sau này, khi trưởng thành, đôi khi người ta nhận thấy rằng những gì đã được gieo trồng vẫn còn tồn tại.”

Mặc dù có những dấu hiệu đáng khích lệ này, Đức Cha Jourdan vẫn thận trọng trước chủ nghĩa thắng thế, vì ngài nhớ lại những gì đã xảy ra khi Liên Xô sụp đổ. Sự quan tâm đến tôn giáo tăng vọt, đặc biệt là trong cộng đồng người Luther, khi hàng thập niên chủ nghĩa vô thần bị áp đặt đột ngột chấm dứt. Nhưng, giống như ở nước láng giềng Latvia, đà này nhanh chóng suy yếu.

“Các nhà thờ không chuẩn bị sẵn sàng,” ngài nói. “Mọi người đã được rửa tội, nhưng sau đó họ biến mất. Nếu không có người tháp tùng, chiếc bánh soufflé sẽ sụp đổ.”

Đây là thực tế mà các nhà lãnh đạo Công Giáo ở những nơi khác tại Âu Châu đang ngày càng phải đối mặt, đặc biệt là ở Pháp, nơi các giám mục đang tích cực suy ngẫm về cách thức hội nhập hàng ngàn người trưởng thành mới cải đạo thông qua hội đồng tỉnh Île-de-France, nơi có sáng kiến “Những người dự tòng và người mới gia nhập: Những triển vọng mới cho đời sống cộng đoàn” nhằm mục đích xem xét lại cách thức chào đón và hỗ trợ những người Công Giáo mới trước sự gia tăng đột biến chưa từng có về số lượng yêu cầu rửa tội cho người lớn ở Pháp.

Ngay cả khi đối mặt với nhiều thách thức, Đức Cha Jourdan vẫn tin chắc rằng một điều gì đó đặc biệt đang diễn ra trong Giáo Hội Công Giáo trên khắp khu vực.

Việc hàng chục người trẻ tuổi tự nguyện lựa chọn Công Giáo ở một quốc gia mà đức tin dường như đã biến mất cho đến gần đây cho thấy rằng thế tục hóa không phải là toàn bộ câu chuyện.

“Tôi không dám khẳng định đây là tương lai của Giáo hội, nhưng Công Giáo ở Bắc Âu thực sự đã phát triển về tầm ảnh hưởng, sự hiện diện và số lượng tín hữu.”


Source:National Catholic Register

2. Câu chuyện Thủ tướng Trung Quốc trở thành linh mục dòng Biển Đức.

Ngày 27 Tháng Năm, 2007, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã viết một lá thư cho người Công Giáo Trung Hoa, trong đó ngài truyền rằng ngày 24 Tháng Năm, hàng năm, vốn là ngày lễ kính Đức Mẹ Xà Sơn, cũng sẽ là ngày thế giới cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa. Nhân dịp này, tác giả Andrew Cusack, đã có những bài viết liên quan đến 3 nhân vật Trung Hoa có ảnh hưởng mạnh đến Kitô Giáo tại nước này là các ông Tôn Trung Sơn thuộc Giáo hội Tự trị, Tưởng Giới Thạch thuộc Giáo hội Giám lý, và Lục Chúy Tường thuộc Giáo Hội Công Giáo.

“Câu chuyện Thủ tướng Trung Quốc trở thành tu sĩ dòng Biển Đức.”

Tại một góc yên tĩnh của vùng nông thôn Flanders, ngay ngoại ô Bruges, có một tu viện dòng Bênêđíctô, hay còn gọi là dòng Biển Đức, dành riêng cho Thánh Anrê. Giống như những nơi khác ở khu vực này của Âu Châu, nó mang dấu ấn của nhiều thế kỷ biến động. Những công trình trước đó đã bị phá hủy bởi các cuộc cải cách và cách mạng trước khi đời sống tu viện được khôi phục vào thế kỷ 19. Tuy nhiên, ngay cả lịch sử này có lẽ cũng không hấp dẫn bằng câu chuyện về một trong những người được chôn cất trong nghĩa trang của nó: cựu thủ tướng Trung Quốc Lục Chúy Tường (Lu Zhengxiang, 陸徵祥).

Thoạt nhìn, dường như chẳng có lý do gì để một chính khách Trung Quốc lại được chôn cất giữa các tu sĩ người Bỉ. Con đường dẫn Lục đến khu rừng ở Bỉ này đã trải qua những thập niên cuối cùng của triều đại nhà Thanh, sự ra đời của nền Cộng hòa Trung Hoa, các cuộc đàm phán hòa bình tại Versailles và một số biến đổi chính trị và tôn giáo kịch tính nhất của thời hiện đại.

Lục sinh ra ở Thượng Hải năm 1871. Thời điểm đó, Trung Quốc đang phải đối mặt với một thế giới dường như thay đổi nhanh hơn tốc độ thích ứng của nước này. Các cường quốc Âu Châu đã buộc Trung Quốc mở cửa các hải cảng thông qua một loạt các biện pháp quân sự và ngoại giao gây khó dễ. Các nhà truyền giáo và thương nhân ngày càng xuất hiện nhiều hơn, và các quan chức có tư tưởng cải cách đang tìm kiếm lời giải thích cho sự yếu kém tương đối của đất nước. Làm thế nào mà một nền văn minh từ lâu tự coi mình là trung tâm của thế giới lại tụt hậu so với một nhóm các quốc gia nhỏ bé, rời rạc ở rìa phía tây của lục địa Á-Âu?

Gia đình của Lục cũng thuộc về thế giới giao thoa Đông Tây này. Cha ông làm phiên dịch cho chính quyền nhà Thanh và bảo đảm con trai mình được học hành bài bản, bao gồm cả ngoại ngữ và tiếp xúc với tư tưởng phương Tây. Lục trẻ tuổi được nuôi dạy theo đạo Tin Lành, một thực tế phản ánh sự hiện diện ngày càng tăng của các phái đoàn truyền giáo nước ngoài ở Thượng Hải và nhiều nơi khác.

Tài năng của ông sớm đưa ông vào ngành ngoại giao. Một trong những người có ảnh hưởng quan trọng nhất đến ông là Hứa Cảnh Trừng (Xu Jingcheng, 許景澄) một quan chức cao cấp và nhà ngoại giao thời nhà Thanh, người từng là đại sứ Trung Quốc tại một số thủ đô Âu Châu – và đồng thời cải đạo sang Công Giáo. Hứa thuộc thế hệ các chính khách Trung Quốc đã quan sát phương Tây một cách kỹ lưỡng. Họ hiểu tầm quan trọng của sức mạnh quân sự và phát triển công nghiệp, nhưng họ cũng quan tâm đến những vấn đề sâu sắc hơn. Theo Hứa, “Sức mạnh của Âu Châu không nằm ở vũ khí, cũng không nằm ở tri thức: mà nằm ở tôn giáo”. Hứa khuyên Lục nên giữ vững đức tin Kitô giáo và “khi đã nắm bắt được cốt lõi và sức mạnh của nó, hãy mang chúng đến Trung Quốc”.

Trong những năm tháng sống ở nước ngoài, Lục gặp và kết hôn với Berthe Bovy, con gái của một gia đình người Bỉ. Cuộc hôn nhân của họ đã chứng tỏ là một trong những mối quan hệ quan trọng nhất trong cuộc đời ông. Berthe là một người Công Giáo trung thành và theo thời gian, đức tin của bà đã dẫn dắt Lục đến với Giáo hội. Sự cải đạo của ông diễn ra dần dần chứ không đột ngột. Năm 1911, năm chứng kiến sự sụp đổ của triều đại nhà Thanh và kết thúc hơn hai thiên niên kỷ cai trị của đế chế, Lục được đón nhận vào sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo.

Trong thời kỳ hỗn loạn của Trung Quốc và thế giới, sự nghiệp chính trị của Lục vẫn tiếp tục thăng tiến. Ông từng giữ chức ngoại trưởng và, trong một thời gian ngắn, thậm chí là thủ tướng của nước Cộng hòa Trung Hoa non trẻ. Giữa sự chia rẽ phe phái và bất ổn đặc trưng cho phần lớn nền chính trị Trung Quốc trong những năm đó, Lục vẫn giữ được danh tiếng về sự liêm chính và năng lực. Tuy nhiên, chính vào năm 1919, ông đã ghi dấu ấn trong lịch sử dân tộc.

Chiến tranh thế giới thứ nhất đã kết thúc và các đại diện của các cường quốc chiến thắng đã tập hợp tại Paris để xác định hình thức giải quyết hậu chiến. Trung Quốc tham gia với hy vọng rằng các nguyên tắc tự quyết dân tộc do các nước Đồng minh tuyên bố sẽ được áp dụng cho cả lợi ích của Trung Quốc. Thật nhục nhã, thay vì trả lại các nhượng địa của Đức ở Sơn Đông cho Trung Quốc, các cường quốc tham dự hội nghị đã quyết định chuyển giao chúng cho Nhật Bản.

Quyết định này đã gây ra sự phẫn nộ ở Trung Quốc và ông Lục, nhà lãnh đạo phái đoàn Trung Quốc, đã từ chối ký Hiệp ước Versailles. Trung Quốc có ít ảnh hưởng và ít bạn bè quyền lực, nhưng bằng việc không ký kết, ông Lục đã chứng minh rằng vẫn còn một số nguyên tắc không thể đánh đổi vì lợi ích ngoại giao. Điều này đã mang lại cho ông sự ngưỡng mộ trong và ngoài nước. Nó cũng đánh dấu, ở một số khía cạnh, đỉnh cao trong sự nghiệp chính trị của ông.

Một chương khác trong cuộc đời ông bắt đầu bằng bi kịch. Berthe qua đời năm 1926 sau hơn ba thập niên chung sống. Cái chết của bà ảnh hưởng sâu sắc đến Lục. Trở thành người góa vợ và ngày càng hướng về đời sống tu hành, ông dần rút lui khỏi các hoạt động công cộng. Năm 1927, ông gia nhập Tu viện Bênêđíctô Thánh Andrew gần Bruges với tư cách là một ứng sinh. Những câu hỏi đã ám ảnh ông suốt cuộc đời – những câu hỏi về văn minh, đạo đức, đức tin và nền tảng của xã hội – vẫn không biến mất. Chúng chỉ đơn giản là mang một hình thức khác.

Lấy tên là Dom Pierre-Célestin, ông chọn cuộc sống viện tu và được thụ phong linh mục năm 1935. Trong những năm này, ông cũng viết và thuyết giảng, suy ngẫm về mối quan hệ giữa văn hóa Trung Quốc và Kitô giáo. Ông bác bỏ quan điểm cho rằng hai nền văn hóa này vốn dĩ đối lập nhau. Giống như nhiều trí thức Công Giáo Trung Quốc trước ông, ông tin rằng Kitô giáo không phải là độc quyền của bất kỳ nền văn minh nào mà là một đức tin phổ quát có khả năng bén rễ trong nhiều nền văn hóa.

Đỉnh cao trong đời sống tu hành của ông đến vào năm 1946 khi Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm ông làm viện trưởng danh dự của Tu viện Thánh Phêrô ở Ghent. Đó là một vinh dự lớn lao đối với một người xuất thân từ gia đình Tin Lành ở Thượng Hải. Tuy nhiên, sự công nhận này đến vào một thời điểm u buồn. Trung Quốc một lần nữa lại chìm trong nội chiến. Khả năng trở về quê hương ngày càng trở nên xa vời.

Lục qua đời tại Bỉ năm 1949, cùng năm Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông chưa bao giờ được chứng kiến đất nước mà ông đã bảo vệ quyền lợi tại Versailles bước vào kỷ nguyên mới. Cuộc đời ông vẫn khó có thể được bảo mật: nhà ngoại giao, người yêu nước, người cải đạo, người chồng, tu sĩ, linh mục. Ông không coi Kitô giáo là xa lạ với Trung Quốc, cũng không coi Trung Quốc là không thể tiếp cận với Kitô giáo. Ông không thấy mâu thuẫn giữa lòng trung thành với đất nước và sự phát triển của đức tin mình. Cùng với Tôn Trung Sơn thuộc Giáo hội Tự trị và Tưởng Giới Thạch thuộc Giáo hội Giám lý, ông có lẽ là người Kitô hữu quan trọng thứ ba trong lịch sử Trung Quốc hiện đại – và là người duy nhất trong ba người này được nuôi dạy theo Kitô giáo từ khi sinh ra.

Trong thời điểm mà chính quyền toàn trị Trung Quốc một lần nữa đang cố gắng đàn áp Kitô giáo như một thế lực ngoại lai, cuộc đời của Lục cho thấy rằng đức tin này từ lâu đã không còn chỉ đơn thuần là ngoại lai. Một người yêu nước, nhà ngoại giao và chính khách Trung Quốc đã tìm thấy trong đó không phải là sự chối bỏ nền văn minh của mình mà là sự viên mãn của nó.


Source:Catholic Herald

3. Phong trào Tân Dự Tòng kỷ niệm 60 năm với Thánh lễ tại Madrid.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã ca ngợi công việc truyền giáo của Phong trào Tân Dự Tòng nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập bằng một Thánh lễ tại Nhà thờ Almudena ở Madrid.

Trong thông điệp gửi nhân dịp lễ kỷ niệm ngày 30 tháng 5 năm 2026, Đức Giáo Hoàng nói rằng việc truyền giáo là “nhiệm vụ cơ bản của toàn thể Giáo Hội”. Thông điệp, do Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh ký, đặt lễ kỷ niệm trong bối cảnh sứ mệnh rộng lớn hơn của Giáo Hội và ghi nhận đóng góp của Phong trào Tân Dự Tòng vào sứ mệnh đó.

Thánh lễ tại Madrid đã quy tụ Hồng Y Antonio María Rouco, một số giám mục và hơn 100 linh mục. Buổi lễ gợi nhớ lại những khởi đầu của Phong trào Tân Dự Tòng tại thủ đô Tây Ban Nha, nơi phong trào này lần đầu tiên xuất hiện trong cộng đồng người nghèo trước khi lan rộng ra khắp thế giới.

Phong trào Phong trào Tân Dự Tòng bắt nguồn từ năm 1964, khi Kiko Argüello đến sống tại khu ổ chuột Palomeras Altas ở Madrid. Được truyền cảm hứng từ Thánh Charles de Foucauld, ông sống giữa những người bên lề xã hội, cầu nguyện, đọc kinh thánh, chơi đàn guitar và công bố Tin Mừng (kerygma).

Carmen Hernández sau đó đã gia nhập cùng ông. Cộng đồng ban đầu nhận được sự hỗ trợ từ Đức Tổng Giám Mục Casimiro Morcillo, người đã bảo vệ cộng đồng vào năm 1965 khi khu nhà ổ chuột đối mặt với nguy cơ bị phá dỡ. Những nữ giáo lý viên đầu tiên của Giáo hội Tân Dự Tòng bắt đầu vào năm sau, năm 1966.

Sáu thập niên sau, phong trào này hiện diện ở 138 quốc gia trên khắp năm châu lục. Phong trào có hơn 20.350 cộng đồng tại hơn 6.250 giáo xứ và khoảng 1.400 giáo phận. Đời sống của phong trào xoay quanh Lời Chúa, Phụng vụ và Cộng đồng.

Đức Hồng Y José Cobo Cano, Đức Tổng Giám Mục Madrid, đã cảm ơn Phong trào Tân Dự Tòng vì 60 năm truyền giáo. Ngài khuyến khích các thành viên của phong trào duy trì sự hiệp thông với đời sống giáo phận và tôn trọng tự do cá nhân trong công việc truyền giáo của mình.

Đức Hồng Y Cobo cũng đề cập đến tiến trình phong thánh cho Carmen Hernández. Giai đoạn cấp giáo phận của tiến trình phong chân phước cho bà dự kiến sẽ kết thúc vào ngày 2 tháng 6 năm 2026, tại Chủng viện Redemptoris Mater ở Madrid.

Đức Hồng Y Kevin Farrell, Bộ trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Đời sống, cũng nhấn mạnh những thành quả của phong trào. Ngài chỉ ra những sự trở lại với đức tin, sự hoán cải, các gia đình Kitô giáo, ơn gọi, công tác truyền giáo, các giáo lý viên lưu động, các chủng viện truyền giáo, các gia đình truyền giáo, sứ mệnh truyền giáo cho dân và việc đào tạo cho giới trẻ.

Lễ kỷ niệm đã giới thiệu Con đường Tân Dự Tòng như một con đường khai tâm Kitô giáo mang đậm bản sắc truyền giáo.

Từ khởi nguồn tại một trong những khu phố nghèo nhất Madrid đến sự hiện diện trên khắp năm châu lục, Phong trào Tân Dự Tòng được tôn vinh như một thực tế truyền giáo được định hình bởi Kinh thánh, phụng vụ và cộng đồng.


Source:Catholic Herald

4. Tập Cận Bình từ chối nhượng bộ trong vụ án Jimmy Lai tại cuộc đàm phán với Tổng thống Trump, tiếp theo là gì?

Trong cuộc hội đàm cao cấp với Tổng thống Donald Trump ngày 14 tháng 5, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã từ chối nhượng bộ bất kỳ điều gì trong vụ án ông trùm truyền thông Công Giáo Jimmy Lai bị giam giữ, bất chấp sự can thiệp trực tiếp của Mỹ để bênh vực nhân vật ủng hộ dân chủ 78 tuổi này của Hương Cảng.

Trong cuộc gặp thượng đỉnh song phương được tổ chức tại Bắc Kinh, Tổng thống Trump đã đích thân trao cho ông Tập Cận Bình danh sách các tù nhân chính trị và tôn giáo, đồng thời thúc giục việc trả tự do cho ông Lai. Theo lời kể của chính Tổng thống Trump khi trở về, ông Tập Cận Bình mô tả vấn đề này là “đặc biệt khó khăn” và không đưa ra bất kỳ triển vọng ân xá nào. Sau đó, Tổng thống Trump nói với các phóng viên: “Tôi không lạc quan”.

Jimmy Lai, người sáng lập tờ báo ủng hộ dân chủ Apple Daily (nay đã ngừng hoạt động), đã bị kết án 20 năm tù vào tháng 2 năm 2026 theo luật an ninh quốc gia của Hương Cảng. Là một người cải đạo sang Công Giáo nổi tiếng, ông đã trải qua hơn 5 năm bị giam giữ, phần lớn thời gian trong tình trạng biệt giam. Con gái ông, Claire Lai, đã nhiều lần cảm ơn chính quyền Trump về những nỗ lực của họ, đồng thời cảnh báo rằng sức khỏe của cha cô đang xấu đi nhanh chóng.

Vụ việc đã trở thành tâm điểm chú ý của người Công Giáo và những người ủng hộ nhân quyền trên toàn thế giới. Việc ông Lai kiên định bảo vệ tự do báo chí và công khai đức tin Công Giáo của mình đã biến ông thành biểu tượng của sự phản kháng chống lại sự kiểm soát ngày càng chặt chẽ của Bắc Kinh đối với Hương Cảng. Ông phải đối mặt với các cáo buộc liên quan đến sự ủng hộ của mình đối với các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ năm 2019, mà Bắc Kinh coi là hành động lật đổ được nước ngoài hậu thuẫn.

Những nỗ lực của Mỹ nhằm giúp đỡ ông Lai đã được duy trì và thu hút sự chú ý cao độ. Tổng thống Trump đã cam kết trong chiến dịch tranh cử và những tháng đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình sẽ thúc đẩy việc trả tự do cho ông Lai. Các nhân vật cao cấp trong chính quyền, bao gồm cả Ngoại trưởng Marco Rubio, đã liên tục nêu vấn đề này. Các nhà lập pháp lưỡng đảng và các nhóm như CatholicVote đã kêu gọi hành động mạnh mẽ hơn, một số thậm chí còn yêu cầu Bộ Tư pháp điều tra các vấn đề liên quan.

Bất chấp những nỗ lực này, Bắc Kinh vẫn coi việc giam giữ ông Lai là vấn đề cốt lõi về chủ quyền, từ chối bất kỳ sự nhượng bộ nào có thể bị coi là làm suy yếu quyền lực của họ đối với Hương Cảng.

Sự cứng rắn trong vụ Lai trái ngược hoàn toàn với những động thái hạn chế trong các vụ việc khác. Tổng thống Trump bày tỏ sự lạc quan về trường hợp của mục sư Kim Minh Nhật ( Ezra Jin Mingri), một mục sư bị giam giữ của Giáo hội Zion, một trong những tổ chức Tin Lành phi chính phủ lớn nhất nước. Đường lối có chọn lọc này nhấn mạnh chiến lược của Bắc Kinh: đưa ra những cử chỉ nhân đạo mang tính biểu tượng đối với những vấn đề ít nhạy cảm về chính trị hơn, trong khi vẫn giữ vững lập trường đối với những nhà phê bình nổi tiếng như Lai, người được coi là thách thức trực tiếp đối với luật an ninh quốc gia được ban hành sau các cuộc biểu tình năm 2019.

Việc ông Lai bị giam cầm đã khơi dậy sự cảm thông từ các tín hữu Công Giáo trên toàn thế giới. Là một người thường xuyên rước lễ và cho rằng đức tin đã giúp ông vượt qua những ngày tháng tù đày, ông đại diện cho sự đau khổ của Giáo hội tại Trung Quốc và Hương Cảng. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và các vị tiền nhiệm của ngài đã liên tục kêu gọi tự do tôn giáo lớn hơn ở Trung Quốc và việc trả tự do cho các tù nhân lương tâm. Trường hợp của ông Lai thường được nhắc đến cùng với cuộc đàn áp rộng rãi hơn đối với những người Công Giáo bí mật trung thành với Tòa Thánh.

Trong khi quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Washington và Bắc Kinh tiếp tục diễn ra trong khuôn khổ giao dịch – với hội nghị thượng đỉnh gần đây mang lại hơn 100 tỷ đô la trong các thỏa thuận thương mại – thì số phận của Jimmy Lai vẫn là một bế tắc chính trị. Claire Lai và các nhà hoạt động quốc tế tiếp tục gây áp lực lên các chính phủ phương Tây không để lợi ích kinh tế lấn át hoàn cảnh của các tù nhân chính trị và tôn giáo.


Source:Catholic Herald