Các Hồng Y tham dự Thánh lễ khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục vào ngày 6 tháng 10 năm 2019, tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. (ảnh: Riccardo De Luca / Shutterstock)


Larry Chapp, trong bản tin ngày 18 tháng 6 năm 2026 của tạp chí National Catholic Register, cho rằng: Đức Giáo Hoàng Leo XIV chắc chắn có rất nhiều việc phải làm. Và với chuyến thăm Tây Ban Nha thành công gần đây và việc ban hành thông điệp đầu tiên của ngài, ngài đang thiết lập tầm nhìn riêng của ngài cho Giáo Hội Công Giáo và thế giới.

Mỗi vị Giáo hoàng đều phải đối diện với một sự cân bằng tinh tế giữa sự tiếp nối với các triều đại Giáo hoàng trước đó và nhu cầu, có lẽ, để “sửa chữa”, hoặc ít nhất là điều chỉnh và làm rõ hơn, các quyết định của những người tiền nhiệm.

Một vấn đề mà Đức Giáo Hoàng Leo thừa hưởng từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, dường như cần được làm rõ và sửa đổi, là khái niệm “tính hiệp hành” được thảo luận nhiều nhưng hiếm khi được định nghĩa.

Đức Giáo Hoàng Leo đã đề cập đến tính hiệp hành nhiều lần, và dường như ngài chỉ đơn giản là tiếp tục những gì người tiền nhiệm đã bắt đầu. Nhưng khi xem xét kỹ hơn, nhiều nhà quan sát nhận thấy rằng khá thường xuyên, khi nói về tính hiệp hành, Đức Giáo Hoàng Leo liên kết nó với khái niệm về tính hiệp đoàn giám mục hơn là khái niệm về một “Giáo hội lắng nghe” dựa trên “kinh nghiệm cụ thể” của một khái niệm trừu tượng được gọi là “dân Chúa”.

Tính hiệp đoàn, tất nhiên, là một trong những thành tựu quan trọng nhất của Công đồng Vatican II. Một cách tóm tắt, Công đồng đã bác bỏ ý tưởng cho rằng các giám mục giống như những người quản lý chi nhánh của Công ty Công Giáo, với Giáo hoàng là Giám đốc điều hành. Công đồng cũng bác bỏ ý tưởng cho rằng tất cả quyền lực giám mục đều đến với các giám mục thông qua Giáo hoàng, theo một nghĩa nào đó là “chia sẻ” quyền lực của ngài với họ. Thay vào đó, Công đồng khẳng định rằng các giám mục nhận được quyền năng trực tiếp từ Thiên Chúa nhờ vào việc thụ phong. Giáo hoàng không phải là một vị vua chuyên chế, và các giám mục không phải là thần dân của vị vua này. Nhưng Giáo hoàng cũng không chỉ là một hình tượng đại diện cho sự hiệp nhất. Điều này thường rất khó để dung hòa, nhưng Giáo hội đã làm được điều đó trong nhiều thế kỷ.

Ba chức vụ, hay quyền hạn, của một giám mục là giảng dạy, thánh hóa và cai quản. Những chức vụ này luôn phải được thực hiện trong sự hiệp nhất với Giáo hoàng và dưới quyền của ngài với tư cách là người đứng đầu Giáo hội theo quyền lực của Thánh Phêrô. Tuy nhiên, họ được Thiên Chúa ban cho những chức năng này chứ không phải do sự ủy quyền từ Giáo hoàng. Tính hợp pháp của việc thụ phong giám mục của họ về mặt giáo luật phụ thuộc vào việc nhận được một sắc lệnh của Giáo hoàng — một sắc lệnh cũng dựa trên nền tảng thần học về quyền lực của Thánh Phêrô với tư cách là người bảo đảm chính cho sự hiệp nhất của Giáo hội. Nhưng các chức vụ đó thuộc về họ theo quyền thần thiêng một khi họ đã được thụ phong hợp pháp. Do đó, bằng cách liên kết tính hiệp hành với tính hiệp đoàn, Đức Giáo Hoàng Leo dường như đang thực hiện một sự sửa đổi quan trọng đối với tính hiệp hành và thay đổi trọng tâm của nó từ một “những buổi thảo luận tự do [rap sessions]” kiểu những năm 1970, nơi Giáo hội được cho là “cuối cùng” đã lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần thông qua các “buổi lắng nghe” được dàn dựng.

Bằng cách viện dẫn giáo huấn của Công đồng về tính hiệp đoàn thay vì việc các nhà lãnh đạo hiệp hành liên tục lạm dụng ẩn dụ “dân Chúa”, Đứa Giáo hoàng Leo đang định hướng lại tính hiệp hành như một giáo huấn đích thực của Công đồng liên quan đến việc quản trị giám mục chung, chứ không phải là ý tưởng hoàn toàn sai lầm rằng “dân Chúa” là giáo dân, hiện được coi là một loại định chế chính trị, thường được đặt đối lập với “Giáo hội phẩm trật”.

Thông điệp Lumen Gentium làm rõ rằng “dân Chúa” là tất cả các thành viên của Giáo hội — giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ — những người đang cùng nhau hành hương cánh chung hướng về Nước Thiên Chúa. Chỉ sau khi thực tế này được khẳng định, Lumen Gentium mới tiếp tục phân biệt giữa giáo dân và hàng giáo phẩm.

Thực tế, từ “thượng hội đồng” bắt nguồn từ một từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “cùng nhau hành trình”. Điều mà Công đồng muốn khẳng định là mục tiêu của Giáo hội, và lý do duy nhất cho sự hiện hữu của Giáo hội, là một mục tiêu siêu nhiên, và giáo dân và hàng giáo phẩm cùng nhau có nhiệm vụ định hướng bản thân và Giáo hội hướng tới mục tiêu siêu nhiên này.

Do đó, chắc chắn tại Công đồng không có ý niệm rằng một nền giáo lý về Giáo hội đích thực lại bao gồm sự phân biệt giữa định chế và tinh thần, sao cho “kinh nghiệm chủ quan về Thánh Linh” được đặt đối lập với sự nhấn mạnh lạnh lùng và tàn nhẫn vào chân lý của những giáo điều đơn thuần.

Chúng ta đã thấy quá nhiều kiểu hùng biện này trong suốt tiến trình hiệp hành và, thực tế, trong toàn bộ triều Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Tuy nhiên, bằng cách viện dẫn tính hiệp đoàn, dù có vẻ hời hợt và gián tiếp, Đức Giáo Hoàng Leo đang báo hiệu rằng tính hiệp hành đích thực sẽ được đặt nền tảng trên nền tảng giáo hội học đích thực của Công đồng chứ không phải là quay trở lại với không khí văn hóa ủy mị của những năm 1970.

Nhưng để tránh hiểu lầm rằng tôi đang bất công với tiến trình hiệp hành như nó đã diễn ra cho đến nay, hãy cho phép tôi trích dẫn một ví dụ về “không khí” này trong báo cáo “Nhóm Nghiên cứu 9” về đồng tính luyến ái được công bố gần đây. Cần lưu ý ngay từ đầu rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã bổ nhiệm Hồng Y Jean-Claude Hollerich của Luxembourg phụ trách Thượng Hội đồng mặc dù ngài đã công khai phản đối giáo huấn của Giáo hội về đồng tính luyến ái, và thực tế là cả giáo huấn của Giáo hội về tình dục nói chung. Cụ thể hơn, các nhà tổ chức Thượng Hội đồng đã mời nhà hoạt động nổi tiếng vì sự hòa nhập của cộng đồng LGBTQ, linh mục Dòng Tên James Martin, và cho phép ngài trở thành thành viên có quyền bỏ phiếu trong Thượng Hội đồng.

Điều đáng chú ý là không có lời mời tham gia Thượng Hội đồng nào dành cho các lãnh đạo của Courage International, tổ chức tông đồ Công Giáo lớn nhất dành cho người đồng tính luyến ái, khuyến khích sự trung thành với giáo huấn của Giáo hội. Đây là một thiếu sót rõ ràng trong một quy trình tự xưng là “lắng nghe mọi tiếng nói”. Thay vào đó, nó cho thấy rõ ràng một quy trình đã bị dàn xếp ngay từ đầu, trong đó “kinh nghiệm” của dân Chúa được chọn lọc và sàng lọc bởi một vài nhà lãnh đạo Thượng Hội đồng để đạt được kết quả mong muốn.

Đây không phải là tính hiệp đoàn hay tính hiệp hành thực sự. Thay vào đó, đây là một nhóm nhỏ những người ưu tú ẩn danh đang thao túng cán cân của Thượng Hội đồng. Tôi biết Cha John Harvey, một tu sĩ dòng Thánh Phanxicô de Sales, người đã thành lập tổ chức Courage ở thành phố New York vào năm 1980 theo lời kêu gọi của Cha Benedict Groeschel, một tu sĩ dòng Phanxicô của phong trào Canh tân. Kể từ đó, đã có những “mục vụ” khác dành cho người đồng tính (ví dụ: Mục vụ Phẩm giá và Những Con đường Mới), nhưng chúng đều nổi tiếng là những người bất đồng chính kiến với giáo huấn của Giáo hội.

Tôi biết Cha Harvey rất rõ. Ngài sống tại Đại học DeSales, nơi tôi là giáo sư thần học trong 19 năm. Tôi đã có nhiều cuộc trò chuyện với ngài khi tôi tìm kiếm sự khôn ngoan của ngài để giúp tôi hướng dẫn các sinh viên đồng tính của mình một cách đúng đắn.

Cụ thể, Cha Harvey rất giỏi trong việc dung hòa giữa nền chính thống về giáo lý và việc áp dụng thận trọng những giáo lý đó cho những người trẻ tuổi thường đang trong khủng hoảng. Ngài là một người ngọt ngào, tốt bụng và dịu dàng, nhưng lại có ý chí sắt đá và đức tin vững chắc khi nói đến chân lý về con người và niềm tin rằng giáo huấn của Giáo hội không phải là áp bức mà thực sự là giải phóng. Và chính vì giữ những quan điểm này mà Cha Harvey đã phải chịu những lời chỉ trích thô lỗ và bất công từ nhiều người trong Giáo hội, bao gồm nhiều linh mục và nữ tu.

Đây là lý do tại sao tôi không thể để những lời chỉ trích đối với Hội Courage được tìm thấy trong Nhóm Nghiên cứu 9 không bị phản bác. Không chỉ Hội Courage không được mời đến Thượng Hội đồng, mà giờ đây chúng ta còn phải chịu thêm sự xúc phạm từ một “lời chứng” của một người đàn ông đồng tính “đã kết hôn” trong báo cáo, người chỉ trích các cuộc họp của Hội Courage mà ông ta tham dự là “bí mật” và “che giấu”. Ông ta cũng nói rõ rằng vấn đề lớn nhất của Hội Courage là việc tuân thủ giáo huấn của Giáo hội đặt những gánh nặng tàn nhẫn lên những người đồng tính.

Thứ nhất, có những lý do rất chính đáng cho việc tại sao các cuộc họp của Hội Courage lại “bí mật”. Đó là để cung cấp một không gian an toàn cho những người có xu hướng tình dục đồng tính để họ cảm thấy thoải mái thảo luận bất cứ điều gì trong một môi trường bảo mật tuyệt đối. Có những lý do chính đáng tại sao ấn tích tòa giải tội là bất khả xâm phạm (sacrosanct) và tại sao tính bảo mật của ghế trị liệu tâm lý được pháp luật bảo vệ. Những lý do tương tự cũng áp dụng ở đây.

Thứ hai, tại sao nhóm nghiên cứu của Thượng Hội đồng lại chỉ chọn nêu bật lời chứng của những người đàn ông đồng tính “đã kết hôn” chỉ trích giáo huấn của Giáo hội? Tôi sẽ trả lời câu hỏi đó cho các bạn, vì điều đó quá rõ ràng. Những người tham gia nhóm nghiên cứu của Thượng Hội đồng đang vận động cho sự thay đổi trong giáo huấn của Giáo hội. Đó là lý do tại sao Courage bị loại khỏi Thượng Hội đồng, và đó là lý do tại sao nó bị chỉ trích một cách bất công trong báo cáo này.

Người ta cũng có thể dễ dàng nêu bật nhiều câu chuyện kinh hoàng về những người trẻ tuổi bị mắc kẹt trong “lối sống đồng tính”, và cách tồn tại một tiểu văn hóa sử dụng ma túy và quan hệ tình dục bừa bãi trong “cộng đồng LGBTQ” mà ngay cả nhiều người trong cộng đồng đó cũng phản đối. Người ta cũng có thể nêu bật nhiều câu chuyện về những người bị nền tiểu văn hóa đó làm hại và được giải thoát khỏi nó bằng cách tìm thấy Chúa Kitô trong giáo huấn của Giáo hội và trong các nhóm như Courage.

Tôi nghĩ đến người bạn của tôi, Cha Harvey, khi đọc báo cáo này, và máu tôi sôi lên. Tôi nghĩ đến nhiều người bạn Công Giáo đồng tính và những học trò cũ của tôi, những người đã tìm thấy sự chữa lành, tình yêu và niềm vui bằng cách sống trong sạch trong đời sống bí tích của Giáo hội, và máu tôi sôi lên.

Trở lại với tính hiệp hành, tôi rất tin tưởng Đức Giáo Hoàng Leo sẽ đối xử với báo cáo này một cách làm ngơ đầy khoan dung như nó xứng đáng. Tôi nghĩ ngài sẽ tuân thủ phép tắc duy trì sự liên tục của Giáo hoàng và không chỉ trích nó công khai. Nhưng bằng cách phớt lờ nó, ngài sẽ vạch trần nó như một mẩu tuyên truyền hời hợt.

Cuối cùng, khi Đức Giáo Hoàng Leo tiến hành các kế hoạch cho sự kiện hiệp hành đỉnh điểm trong vài năm tới, tôi nghĩ rằng nhiều lần ngài đề cập đến tính hiệp đoàn như là chìa khóa cho bất cứ tính hiệp hành đích thực nào sẽ đóng một vai trò thần học quyết định.

Ấn tượng chung của tôi là hiện nay đã có những người trưởng thành thực sự trong phòng và thời gian vui chơi ngớ ngẩn đã kết thúc. Do đó, tất cả chúng ta cần cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Leo. Ngài có một nhiệm vụ lớn lao trước mắt.