Randall Smith, ngày 21 tháng 7 năm 2026, viết trên tạp chí The Catholic Thing về những kẻ lạc và ly giáo. Ông hỏi: Bạn có thể nhận ra bao nhiêu trong số này? Phái Marcion, phái bênh vực giáo hoàng thái quá (Montanists) phái Sabellus, phái Ảo nhân thuyết (Donatists), phái Ngày Mười Bốn (Quartodecimans), phái Chống Thần Khí (Pneumatomachians), phái Apollo (Apollonarians), phái Nhất tính (Monophysites), Phái Nes-tô-ri-ô (Nestorians), phái Waldenses (Waldensians). Đây đều là những nhóm ly khai khỏi Giáo Hội, khẳng định rằng họ là Giáo Hội chân chính trong khi những nhóm khác bằng cách nào đó kém thuần khiết hoặc kém trung thành hơn. Ngay cả khi bạn có thể nhận ra một số hoặc tất cả trong số họ, thì bây giờ họ đang ở đâu? Có lúc, họ chào đón hàng ngàn người. Giờ đây, họ chỉ là những cái tên mà hầu như không ai biết đến.
Nhiều người trong số họ có những lập luận và lời phàn nàn đáng lưu ý. Ví dụ, những người Ảo nhân thuyết (Donatists) có một bộ quy tắc đạo đức nghiêm ngặt và đã phản đối một cách dễ hiểu các giám mục từng là các traditores, "những kẻ phản bội", những người đã giao nộp những đồ thánh cho chính quyền La Mã trong thời kỳ bách hại. Những người theo thuyết Nhất tính (Monophysites) bác bỏ quan niệm cho rằng trong Chúa Kitô có hai bản tính, thần tính và nhân tính, tin rằng họ đang bảo vệ giáo lý của Công đồng Êphêsô, một giáo lý dạy rằng Chúa Kitô không phải là hai ngôi vị, mà là “một physis của Ngôi Lời nhập thể”. Tương tự, Martin Luther đã đúng khi phàn nàn về sự tham nhũng trong Giáo hội, việc lạm dụng ân xá (nhiều trong số đó được dùng để xây dựng nhà thờ Thánh Phêrô ở Rome), và ông đã đúng khi bảo vệ tính ưu việt của ân sủng.
Sự trớ trêu lớn nhất của lịch sử không chỉ là số lượng người theo Luther đang giảm dần, mà ngay cả những người tiếp tục tham dự các buổi lễ của phái Luther cũng hầu như không coi trọng các tác phẩm của Luther. Nhiều nhóm Thệ Phản từng rời bỏ Giáo Hội Công Giáo và tuyên bố sola Scriptura, “chỉ dựa vào Kinh Thánh”, ngày nay cũng không coi trọng thẩm quyền đạo đức của Kinh Thánh hơn những người duy thế tục. Chúa Kitô không cho phép ly hôn? Không thành vấn đề. Thánh Phaolô lên án hành vi tình dục đồng tính. À, đó là chuyện xưa; còn đây là chuyện nay. Đối với một số nhóm, tất cả những gì còn lại chỉ là lòng căm ghét người Công Giáo. Những điều này không phải lúc nào cũng tuân theo một luận lý học rõ ràng.
Tương tự như vậy, ví dụ, có một nhóm người kỳ lạ. Họ tuyên bố trung thành với Giáo hoàng, rồi lại bất tuân một cách nghiêm trọng. Họ nhấn mạnh quá mức vào cách hiểu hẹp hòi về câu “Không có ơn cứu rỗi nào ngoài Giáo hội”, rồi lại coi nhẹ việc bị vạ tuyệt thông.
Nhóm này nói rằng họ không thoải mái với một số giáo huấn của Công đồng Vatican II. Lịch sử Giáo hội đầy rẫy những nhóm người chấp nhận tất cả các công đồng Giáo hội cho đến công đồng mà họ không thích, sau đó họ quyết định đi theo con đường riêng của mình. Một số chấp nhận bốn công đồng đại kết đầu tiên (ngay cả những người theo uther và Calvin cũng vậy), một số chấp nhận bảy công đồng đầu tiên, những người khác chấp nhận mười ba công đồng đầu tiên. Việc rời bỏ sau một công đồng là điều khá phổ biến.
Nhưng đối với những người nghĩ rằng Công đồng Vatican II đã không trung thành với giáo huấn “không có ơn cứu rỗi nào ngoài Giáo hội”, thì có điều này:
Công đồng Thánh này muốn hướng sự chú ý trước hết đến các tín hữu Công Giáo. Dựa trên Thánh Kinh và Truyền thống, Công đồng dạy rằng Giáo hội, hiện đang sống lưu vong trên trái đất, là cần thiết cho ơn cứu rỗi. Chúa Kitô, hiện diện với chúng ta trong Thân Thể Người, tức là Giáo Hội, là Đấng Trung Gian duy nhất và là con đường cứu rỗi duy nhất. Chính Người đã khẳng định rõ ràng sự cần thiết của đức tin và phép rửa tội, và do đó cũng khẳng định sự cần thiết của Giáo Hội, vì qua phép rửa tội như qua một cánh cửa mà con người bước vào Giáo Hội. (Lumen Gentium 14)

Vâng, Công đồng cũng dạy (như tôi nghĩ hầu hết mọi người từ lâu đã tin) rằng có nhiều cách để được “kết hợp” vào “Thân Thể Chúa Kitô”. Ví dụ, những người dự tòng, “những người được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, tìm kiếm với ý định rõ ràng để được kết hợp vào Giáo Hội, thì chính ý định đó đã được kết hợp với Giáo Hội”. Tương tự như vậy, “Giáo Hội nhận biết rằng trong nhiều cách, Giáo Hội được liên kết với những người, sau khi được rửa tội, được tôn vinh với danh hiệu Kitô hữu”. Và ngay cả “những người chưa đón nhận Tin Mừng cũng có mối liên hệ với dân Chúa theo nhiều cách khác nhau.”
Nhưng Công đồng cũng rất rõ ràng về điều này: “Vậy nên, bất cứ ai biết rằng Giáo Hội Công Giáo là cần thiết do Chúa Kitô thiết lập, mà lại từ chối gia nhập hoặc ở lại trong Giáo hội, thì không thể được cứu rỗi.” Vậy, việc biết và khẳng định rằng Giáo Hội Công Giáo là cần thiết nhưng lại từ chối gia nhập hoặc ở lại trong Giáo hội có gây nguy hiểm cho sự cứu rỗi các linh hồn không?
Người ta sẽ nghĩ rằng một nhóm chấp nhận nguyên tắc “không có ơn cứu rỗi ngoài Giáo hội” và biện minh cho hành động của mình vì quan tâm đến sự cứu rỗi các linh hồn, theo nguyên tắc của chính họ, sẽ cảm thấy rất khó chịu khi khuyến khích những linh hồn đó ở lại ngoài Giáo hội. Đến một lúc nào đó, chúng ta có thể phải kết luận rằng điều này ít liên quan đến những lập luận thần học có lý lẽ mà liên quan nhiều hơn đến “tôi muốn những gì tôi muốn” và “bộ tộc của tôi tốt hơn bộ tộc của bạn!”
Các giám mục của Hội Thánh Pi-ô X đã kháng cáo quyết định vạ tuyệt thông. Nhưng kháng cáo với ai? Với Đức Giáo Hoàng Leo, người đã quyết định vụ việc rồi sao? Điều này giống như kháng cáo một quyết định vậy. Từ Tòa án Tối cao này đến Tòa án Tối cao khác rồi lại nói: Tôi không phải nộp phạt vì vụ án của tôi đang được kháng cáo.
Đây không phải là trò chơi pháp lý. Sự cứu rỗi linh hồn đang bị đe dọa. Và tôi sẽ không tin tưởng linh hồn mình cho những giáo sĩ coi nhẹ việc bị vạ tuyệt thông như thể đang xua đuổi một con ruồi. Không ai bào chữa cho những vấn đề trong Giáo hội. Đây có phải là tình huống khẩn cấp? Ít nhất chúng ta không có ba người tranh giành ngôi vị giáo hoàng như giai đoạn từ năm 1409 đến năm 1414. Ít nhất Giáo hoàng không nằm dưới sự kiểm soát chính trị của Pháp như thời kỳ Giáo hoàng Avignon.
Tôi có thể nói thêm nữa. Luôn luôn có những vấn đề trong Giáo hội, nhiều vấn đề còn tồi tệ hơn bây giờ. Xuyên suốt lịch sử, những nhóm người vẫn trung thành khi bị bịt miệng hoặc kỷ luật bởi các cấp trên trong Giáo hội cuối cùng đã được chứng minh là xứng đáng với sự làm chứng và lòng trung thành của họ. Những nhóm chọn sự bất tuân và ly khai hiếm khi tồn tại quá một hoặc hai thế hệ.
Các học giả thời Phục hưng như Erasmus và More đã nhìn thấy những vấn đề trong Giáo hội rõ ràng như Luther và Calvin. Nhưng họ vẫn giữ vững đức tin. Họ không hề kiêu ngạo mà tự ý thành lập giáo hội riêng. Thánh Thomas More đã tử đạo vì lòng trung thành đó. Họ hiểu rõ hơn ai hết rằng con đường xuống địa ngục được lát bằng những ý định tốt đẹp và những lý tưởng tự cho mình là đúng đắn.