Phần Một

GIÁO HỘI CHIẾN THẮNG CHỦ NGHĨA NGOẠI GIÁO
Năm 30–600 Công nguyên

Chương 1: CHÚA GIÊ-SU


Giáo Hội Công Giáo luôn tuyên bố Chúa Giê-su thành Na-da-rét là người sáng lập, và hầu như mọi người đều quen thuộc với những sự kiện cơ bản về vị giáo sĩ và người chữa bệnh người Do Thái đầy sức sống này, người sinh ra vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất Công nguyên (có lẽ giữa năm 6 trước Công nguyên và năm 6 Công nguyên) và bị người Rô-ma đóng đinh trên thập giá vào khoảng năm 28 đến 30 Công nguyên. Những năm đầu đời của Người sống ở Na-da-rét thuộc xứ Ga-li-lê với cha mẹ xuất thân nghèo khó. Vào một thời điểm nào đó trong những năm đầu đời, Người cảm thấy được kêu gọi rao giảng về việc đến của vương quốc Thiên Chúa và bắt đầu tập hợp đám đông lớn từ các làng mạc và thị trấn trong vùng tây bắc hồ Ga-li-lê; họ bị mê hoặc bởi những bài giảng kỳ diệu và những phép chữa bệnh phi thường của Người. Thông thạo cả truyền thống văn bản và truyền khẩu của tôn giáo Do Thái, Người đã giả định trong bài giảng của mình về đức tin cơ bản của người Do Thái vào một Thiên Chúa duy nhất, Chúa tể của lịch sử, giao ước đặc biệt của Chúa với người Do Thái, và tính thánh thiêng của các giới luật đạo đức trong Tô-ra hay Luật pháp, mà dân tộc Người coi là ý muốn được mặc khải của Thiên Chúa. Đỉnh cao trong sứ mệnh của Người đến khi Người tiến vào Giê-ru-sa-lem trong chiến thắng, nhưng lại bị người Rô-ma bắt giữ và đóng đinh trên thập giá vì tội kích động chính trị.

Cuộc đời thời thơ ấu của Người gần như hoàn toàn chìm trong bóng tối. Các nguồn tư liệu quan trọng duy nhất về cuộc đời Người —các sách Tin Mừng của Mác-cô, Mát-thêu, Lu-ca và Gio-an—cho chúng ta biết rất ít về giai đoạn này; Mác-cô và Gio-an hoàn toàn bỏ qua phần này; Mát-thêu và Lu-ca mỗi người dành hai chương đầu tiên để kể về thời thơ ấu của Người, nhưng chúng ta không thể chắc chắn bao nhiêu phần trong số đó là lịch sử. Trên thực tế, rất khó để xếp những chương đầu tiên của Mát-thêu và Lu-ca vào bất cứ thể loại văn học cụ thể nào; nhiều học giả coi chúng như một loại Midrash của người Do Thái—một loại bình luận về Kinh Thánh thường sử dụng sự tưởng tượng và hư cấu để minh họa các chủ đề trong Kinh Thánh.

Một dấu hiệu cho thấy tính chất phi lịch sử của chúng là những khác biệt quan trọng—nếu không muốn nói là mâu thuẫn rõ ràng—giữa các tường thuật của Mát-thêu và Lu-ca. Ví dụ, Mát-thêu xác định niên đại sinh của Chúa Giê-su là vào thời trị vì của Hê-rốt—tức là không muộn hơn năm 4 trước Công nguyên (năm Hê-rốt qua đời), trong khi Lu-ca xác định niên đại là vào thời kỳ Qui-ri-ni-ô làm thống đốc Syria, theo nhà sử học Josephus là từ năm 6 đến năm 9 Công nguyên. Hơn nữa, hai tác giả Tin Mừng này không đồng nhất về các tên mà họ liệt kê trong gia phả mà họ gán cho Chúa Giê-su. Tuy nhiên, cái nhìn sâu sắc về thần học mà họ muốn truyền tải là rõ ràng: Chúa Giê-su, con cháu của Đa-vít và Con của Thiên Chúa, là Đấng Mê-xi-a được mong đợi từ lâu, người đã đến để mang lại sự cứu rỗi cho tất cả mọi người—cả người Do Thái lẫn người ngoại đạo.

Khi nói đến đời sống công khai của Chúa Giê-su, bắt đầu từ việc Người được Gioan làm phép rửa tại sông Gióc-đan, chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta không có những chi tiết tiểu sử mà độc giả ngày nay tìm kiếm, chẳng hạn như mô tả về ngoại hình và thói quen cá nhân của Người, một số hiểu biết về sự phát triển tâm lý của Người, hoặc những ảnh hưởng đã định hình nên tính cách của Người.

Nhưng không cần phải hoài nghi. Hơn một thế kỷ phân tích phê bình nghiêm ngặt về Tân Ước không hề bác bỏ niềm tin bất biến của các Kitô hữu rằng Kinh Thánh của họ dựa trên lời nói và việc làm thực tế của một nhân vật lịch sử độc nhất vô nhị.

Như chúng ta đã nói, các sách Tin Mừng– trên thực tế – là nguồn thông tin duy nhất về các sự kiện lịch sử về Chúa Giê-su, và chúng được viết từ bốn mươi đến bảy mươi năm sau khi Người qua đời. Các tác giả của chúng đã dựa trên một truyền thống truyền miệng lưu truyền những câu chuyện về việc làm và lời nói của Chúa Giê-su dưới dạng các bài giảng và tài liệu giáo lý và phụng vụ. Chúng ta tin rằng Mác-cô là người đầu tiên ghi lại truyền thống truyền miệng này dưới dạng một sách Tin Mừng– một thể loại văn học độc đáo mà ngài đã sáng tạo ra. Tin Mừng của ngài xuất hiện không lâu trước khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ, xảy ra vào năm 70. Khoảng mười năm sau, Mát-thêu và Lu-ca mỗi người viết một Tin Mừng bằng cách sử dụng tác phẩm của Mác-cô cộng với một tập hợp các lời của Chúa Giê-su (thường được các học giả gọi là Q, viết tắt của Quelle, tiếng Đức nghĩa là “nguồn”) và cả một số tài liệu đặc biệt mà mỗi người viết Tin Mừng có sẵn. Cuối cùng, vào đầu thế kỷ, tác giả được biết đến với tên là Gio-an đã viết Tin Mừng thứ tư, khác biệt đáng kể so với ba Tin Mừng kia về chân dung Chúa Giê-su.

Các Tin Mừng không nhằm mục đích là một bản tường thuật lịch sử hay tiểu sử về Chúa Giê-su. Chúng được viết ra để cải hóa những người không tin vào đức tin nơi Chúa Giê-su là Đấng Mê-xi-a của Thiên Chúa, đã sống lại và đang sống trong Hội Thánh của Người và sẽ trở lại để phán xét tất cả mọi người. Các tác giả không cố ý bịa đặt hay làm sai lệch các sự kiện về Chúa Giê-su, nhưng họ không quan tâm chủ yếu đến tính chính xác lịch sử. Họ sẵn sàng đưa vào những tài liệu rút ra từ kinh nghiệm của cộng đồng Kitô giáo về Chúa Giê-su phục sinh. Chẳng hạn, những lời nói được đặt vào miệng Chúa Giê-su và những câu chuyện được kể về Người, dù không mang tính lịch sử theo nghĩa chặt chẽ, nhưng trong tâm trí các tác giả Tin Mừng, đã thể hiện một cách phù hợp ý nghĩa và mục đích thực sự của Chúa Giê-su khi đức tin xuất hiện để tri nhận Người. Vì lý do này, các học giả đã phân biệt giữa Chúa Giê-su của lịch sử và Chúa Kitô của đức tin.

Để tìm ra Chúa Giê-su trong lịch sử, chúng ta phải sàng lọc các tài liệu được trình bày trong các Tin Mừng và cố gắng xác định bằng chứng nội tại những gì Chúa Giê-su thực sự đã làm và nói, khác với những gì được diễn giải sau này. Theo nguyên tắc chung, các học giả cho rằng bất cứ điều gì không thể suy luận hoặc giải thích được từ Do Thái giáo thời Chúa Giê-su hoặc từ Kitô giáo sơ khai thì nên được gán cho Chúa Giê-su của lịch sử. Điều này có nghĩa chuyên biệt là trong khi khoa phê bình lịch sử khiến việc tái tạo tiểu sử của Chúa Giê-su theo nghĩa thông thường là không thể, thì nó cho phép chúng ta phục hồi một lượng đáng kể tài liệu xác thực về Chúa Giê-su. Thực thế, bằng cách tuân thủ phương pháp phê bình lịch sử, chúng ta có thể xác định “các đặc điểm và đường nét cơ bản điển hình về lời rao giảng, hành vi và số phận của Chúa Giê-su.” (1)

Mọi nỗ lực để truy tìm nguồn gốc ơn gọi của Chúa Giê-su đảm nhiệm sứ mệnh thần thiêng của Người đều bị cản trở bởi tính chất rời rạc của các ghi chép. Nhưng có lý do chính đáng để cho rằng phép rửa của Người bởi Gio-an là có tính quyết định trong vấn đề này. Ít nhất tất cả các tài liệu đều thống nhất rằng tại phép rửa của Người, “Thánh Linh đã ngự xuống trên Người”—một cụm từ trong Kinh Thánh chỉ ơn kêu gọi một người trở thành sứ giả của Thiên Chúa.

Thông điệp mà Chúa Giê-su rao giảng rất đơn giản về công thức nhưng vô cùng sâu rộng: “Nước Thiên Chúa đã đến gần, hãy ăn năn!” Mát-thêu cũng đặt những lời tương tự vào miệng của Gio-an, nhưng không có nghi ngờ gì rằng Người coi Gio-an chỉ là người loan báo về Chúa Giê-su, Đấng mà qua thừa tác vụ của Người, Thiên Chúa đã thực sự can thiệp vào lịch sử loài người một cách hoàn toàn chưa từng có và dứt khoát.

Một số học giả lập luận rằng Chúa Giê-su đã loan báo sự can thiệp này của Thiên Chúa vào lịch sử như một điều hoàn toàn thuộc về tương lai, liên quan đến một thảm họa vũ trụ và ngày tận thế. Tuy nhiên, hiện nay ngày càng có sự đồng thuận rằng trong lời dạy của Chúa Giê-su có cả sự đề cập đến hiện tại và tương lai: Vương quốc của Thiên Chúa đã hoạt động trong thừa tác vụ của Người đang hướng đến sự hoàn thành trong tương lai. (2)

Một số dụ ngôn của Người — như dụ ngôn về người con hoang đàng được đón nhận trở về với tình yêu thương bởi người cha, người mà của cải đã bị anh ta phung phí —nhấn mạnh điểm này là Thiên Chúa với lòng tốt và sự rộng lượng phi thường đã ban lòng thương xót cho những người tội lỗi. Và khi Chúa Giê-su ăn uống với những người thu thuế và gái điếm, ý nghĩa mà Người muốn truyền đạt rất rõ ràng: Ơn cứu rỗi được ban cho tất cả mọi người ngay bây giờ, một ơn phúc không hề phụ thuộc vào sự công chính trước đây của người ta.

Do đó, rõ ràng, như học giả Do Thái David Flusser nói, rằng Chúa Giê-su là “người Do Thái duy nhất mà chúng ta biết từ thời cổ đại” đã tuyên bố rằng “thời đại cứu rỗi mới đã bắt đầu”. (3) Mặt khác, có một sự căng thẳng mạnh mẽ trong lời tuyên bố của Chúa Giê-su giữa hành động cứu rỗi hiện tại của Thiên Chúa và sự hoàn thành của nó trong tương lai. Thiên Chúa sẽ can thiệp để thiết lập một điều gì đó hoàn toàn mới; đó sẽ là một biến động lớn [cataclysm], chấm dứt mọi hy vọng và kế hoạch trần gian. Vì vậy, Chúa Giê-su đã nói với giọng điệu hết sức khẩn cấp về sự cần thiết phải ăn năn và sẵn sàng cho sự can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử.

Chúa Giê-su không chỉ rao giảng tin mừng về vương quốc, Người còn quy tụ những người theo Người vào một cộng đồng. Họ thường cùng nhau dùng bữa, vui mừng cử hành giao ước mới với Thiên Chúa trong khi trông đợi bữa tiệc vinh hiển sắp đến trong vương quốc thiên đàng. Người gọi họ là ánh sáng của thế gian, thành của Thiên Chúa, muối của đất. Họ là một gia đình mà lòng tận hiến chung cho ý muốn của Thiên Chúa đã gắn kết họ mạnh mẽ hơn bất cứ mối quan hệ huyết thống nào.

Ở một khía cạnh nào đó, tất cả điều này giống với các phong trào tâm linh khác thời bấy giờ. Một nhóm người Do Thái khác—ví dụ như người Essenes—như các Sách Cuộn Biển Chết cho thấy, cũng có cùng cảm giác vui mừng trước sự xuất hiện sắp xảy ra của vương quốc Thiên Chúa. Họ cũng thực hành từ bỏ của cải bản thân và người lãnh đạo của họ cũng chủ trương sống độc thân. Và từ họ, Chúa Giê-su có thể đã tiếp thu giáo lý không chống lại kẻ ác. Nhưng họ giữ vững lập trường tách biệt hoàn toàn với số đông, và nhiều người trong số họ đã ẩn cư trong các tu viện gần Biển Chết. Mặt khác, Chúa Giê-su phản đối bất cứ hình thức độc quyền nào; điều đó sẽ trái ngược với giáo lý chính của Người về bản chất vô biên của ân sủng Thiên Chúa ban cho. Vì vậy, Người cố ý tìm kiếm những người bị xã hội ruồng bỏ và thậm chí còn cho họ thấy những dấu hiệu đặc biệt về sự ưu ái của Người.

Các thành viên trong vương quốc của Chúa Giê-su cảm nhận được mối quan hệ vô cùng mật thiết với Thiên Chúa, Đấng mà họ yêu mến gọi là Cha. Và Người dạy họ sống chân thành như con cái Thiên Chúa. Mặc dù là một nhóm nhỏ, nghèo khổ và bị khinh miệt, họ lại có kho báu lớn nhất có thể tưởng tượng được—sự bảo đảm tuyệt đối về ơn cứu rỗi, một ơn cứu rỗi không phụ thuộc vào thành tựu của chính họ mà phụ thuộc vào lòng tốt vô hạn của Thiên Chúa. Họ cũng không cần phải lo lắng về những nhu cầu thiết yếu hàng ngày; sự quan phòng của Cha trên trời, trải rộng đến cả con chim sẻ nhỏ nhất, chắc chắn sẽ không bỏ rơi họ. Không phải là họ sẽ được miễn khỏi bất cứ hình thức đau khổ và thống khổ nào mà cuộc sống mang đến cho mọi người. Nhưng họ không cần phải hiểu thấu mầu nhiệm khôn cùng của cái ác; đủ để biết rằng sự đau khổ khi được chấp nhận sẽ đưa con người đến gần Thiên Chúa hơn, trong khi cái chết chỉ là khúc dạo đầu cho sự hiệp nhất với Người.

Cuộc sống trong vương quốc Thiên Chúa được Chúa Giê-su khai mở đã tìm thấy sự thể hiện thuần khiết nhất trong lời cầu nguyện, và Chúa Giê-su luôn đứng trước các môn đệ của Người như một tấm gương về sự thành kính trong cầu nguyện. Là một người Do Thái ngoan đạo, Người tuân giữ ba giờ cầu nguyện phụng vụ mỗi ngày và tham gia vào việc thờ phượng tại hội đường và Đền thờ. Nhưng, cũng như trong các vấn đề khác liên quan đến tôn giáo chính thống thời bấy giờ, Người đã thách thức truyền thống và phong tục. Người cảnh báo các môn đệ của Người chống lại tinh thần thường nhật và hình thức thường thấy trong lời cầu nguyện công khai; Người khuyến khích họ cầu nguyện riêng tư, và chính Người đã dành cả đêm để cầu nguyện. Hơn nữa, Người đã ban cho họ một lời cầu nguyện riêng biệt, Kinh Lạy Cha, với những lời cầu xin ngắn gọn dâng lên Chúa Cha đã thể hiện một cách hoàn hảo khát vọng của Người về sự hoàn thành cuối cùng của mục đích thần thiêng trong lịch sử.

Chúa Giê-su không đoạn tuyệt hoàn toàn với đạo đức của Tô-ra. Người vẫn công nhận luật thánh thiêng như tiếng nói chân chính của Thiên Chúa, nhưng Người không ngần ngại sửa đổi nó, như trong việc cấm ly hôn. Tuy nhiên, điều chính yếu mà Người nhấn mạnh là sự phục tùng hoàn toàn ý muốn của Thiên Chúa trong mọi sự. Tất cả được tóm gọn trong mệnh lệnh yêu thương của Người: Trước hết là Chúa, sau đó là tất cả mọi người không ngoại lệ, cả người ngoại quốc lẫn người thân. Mệnh lệnh kép về tình yêu thương này đã tồn tại trong Do Thái giáo cổ thời, nhưng Chúa Giê-su đã triệt để hóa nó bằng cách loại bỏ mọi hạn chế: Người ta phải yêu thương ngay cả kẻ thù của mình. Hơn nữa, Chúa Giê-su nhấn mạnh động cơ của việc yêu thương: Chúng ta phải yêu thương người khác vì lòng biết ơn đối với tình yêu thương của Chúa dành cho chúng ta.

Cuộc gặp gỡ của Người với người kỹ nữ trong nhà của Si-môn người Pha-ri-siêu đã cho Chúa Giê-su cơ hội để làm rõ điểm này. Người phụ nữ bước vào với một bình dầu thơm bằng đá cẩm thạch khi Chúa Giê-su đang nằm, và bà bắt đầu rửa chân Người bằng nước mắt của mình và lau chúng bằng tóc của mình, hôn chúng và xức dầu thơm lên chúng. Khi Si-môn phản ứng mạnh mẽ trước cảnh Chúa Giê-su nhận sự giúp đỡ từ một người phụ nữ đường phố, Chúa Giê-su đã quở trách ông. Trong khi người phụ nữ đã bày tỏ tình yêu thương dạt dào đối với Người, Người nói với Si-môn: “…ông không đổ nước lên chân tôi… Ông không hôn tôi… Ông không xức dầu trên đầu tôi…” Và Chúa Giê-su kết luận rằng người phụ nữ ấy yêu thương như vậy vì bà ý thức được mình cần được tha thứ đến mức nào; “Người nào ít được tha thứ thì ít tỏ ra yêu thương.” Và Người nói với bà: “Tội lỗi của chị đã được tha.” (4)

Chấp nhận sự cai trị của Thiên Chúa có nghĩa là thay đổi triệt để thứ tự giá trị của một người. Không được có sự trung thành chia rẽ: Mọi hình thức gắn bó, dù là với gia đình, tài sản, công việc kinh doanh, hay bất cứ điều gì khác, đều phải được xếp thứ hai trong lòng người khao khát theo Chúa Giê-su. Và giống như các tiên tri, Người cảnh báo họ về mối nguy hiểm đặc biệt của sự giàu có; tiền bạc có thể dễ dàng thay thế Thiên Chúa trong tâm hồn con người—vì “không ai có thể phục vụ hai chủ”. Phục vụ vương quốc thậm chí có thể có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn mọi của cải vật chất; khi Chúa Giê-su sai sứ giả đi loan truyền tin mừng, Người muốn họ đi như những người nghèo khó, và Người khuyên nên sống độc thân vì vương quốc. Trong bất cứ trường hợp nào, mỗi người theo Chúa Giê-su đều phải từ bỏ bản thân, vì vương quốc không thể được mang đến nếu không có sự đau khổ.

Thực thế, đau khổ và hoạn nạn cần được nhìn nhận theo một cách hoàn toàn mới. Không phải tự chúng đáng mong muốn; nhưng nếu một người chấp nhận vương quốc, thì nghèo đói, đói khát và mất mát không còn là những điều xấu xa tuyệt đối như chúng dường như nữa, vì chúng không thể ngăn cản người đó tận hưởng tình yêu của Chúa và thậm chí có thể giúp ích trong khía cạnh này, trong khi những thứ mà con người trân trọng nhất—sự giàu có, nhiều bạn bè, sự thoải mái và những khoảng thời gian tốt đẹp—lại là những điều xấu xa thực sự nếu chúng cản trở người ta tìm kiếm vương quốc.

Tính độc đáo của Chúa Giê-su không nằm ở sự mới lạ của những ý tưởng của Người (vì hầu hết chúng đã có mặt trong truyền thống của dân tộc Người) mà ở cách Người kết hợp, phát triển và hài hòa chúng, và trên hết là hiện thực hóa chúng trong cuộc sống của chính Người với cường độ chưa từng có.

Phép lạ và trừ tà đóng vai trò rất nổi bật trong sứ mệnh của Chúa Giê-su; bỏ qua chúng như một sự nhượng bộ cho “những ý tưởng hiện đại” sẽ là một thiếu sót nghiêm trọng. Tuy nhiên, không dễ để xác định điều gì thực sự đã xảy ra, vì phân tích truyền thống thường cho thấy rằng sự kiện lịch sử thô sơ đã được chỉnh sửa rất nhiều trong quá trình truyền bá. Hơn nữa, các học giả đã tìm thấy những điểm tương đồng với các phép lạ trong Tin Mừng trong văn học ngoại giáo và Do Thái giáo đương thời cũng như trong Cựu Ước: bão tố được dẹp yên, nước biến thành rượu, ma quỷ bị đuổi ra, v.v. (5)

Tuy nhiên, cốt lõi của sự kiện lịch sử mà chúng chứa đựng dường như là Chúa Giê-su đã thực hiện những quyền năng chữa bệnh phi thường. Và trong thời đại mà ma quỷ bị cho là chịu trách nhiệm cho mọi hình thức xấu xa gây đau khổ cho con người, Người chắc chắn sẽ được miêu tả như một Người đuổi quỷ, người chiến thắng mọi thế lực làm suy đồi con người.

Chúa Kitô thiết lập Bí tích Thánh Thể. Nicolas Poussin (1594–1665). Bảo tàng Louvre, Paris. © Réunion des Musées Nationaux/Art Resource, New York.


Vấn đề về thẩm quyền của Chúa Giê-su sớm trở thành vấn đề trọng tâm, bởi vì thay vì viện dẫn các hình thức thẩm quyền truyền thống, Người đã viện dẫn kinh nghiệm tôn giáo của chính Người và khuyến khích những người nghe Người làm điều tương tự. Nhân danh sự ưu việt của tình yêu thương hơn luật pháp, Người thậm chí còn tấn công các truyền thống thánh thiêng của người Do Thái như việc tuân giữ ngày Sa-bát nghiêm ngặt và nói một cách khinh miệt về Đền thờ. Toàn bộ hành động của Người, trên thực tế, đã tạo nên một thách thức to lớn đối với giới cầm quyền, điều mà họ khó có thể bỏ qua.

Với linh cảm về cái chết sắp đến, Chúa Giê-su đã tập hợp những người trung thành của Người cho một bữa ăn cuối cùng với nhau—có lẽ là đêm trước Lễ Vượt Qua của người Do Thái—và dâng cho họ bánh và rượu, thân thể và máu của Người, sẽ được hiến tế để thiết lập giao ước mới giữa Thiên Chúa và nhân loại. Rõ ràng, những hành động của Người—việc lấy bánh và rượu, dâng lời tạ ơn, bẻ bánh và chia sẻ thức ăn thức uống—đều là những nghi lễ quen thuộc và khá thường xuyên của người Do Thái. Nhưng Chúa Giê-su đã ban cho chúng một ý nghĩa hoàn toàn mới khi Người truyền dạy chúng phải được lặp lại như một sự tưởng nhớ về cuộc khổ nạn của Người và như một lời hứa về sự hiện diện liên tục của Người với họ và về sự trở lại của Người.

Theo các sách Tin Mừng, cùng đêm đó, Chúa Giê-su bị bắt giữ theo sự xúi giục của cả các quan chức Rô-ma và Do Thái, bị đưa ra trước tòa án tối cao của người Do Thái, Tòa Công nghị, để tiến hành một loại thủ tục đại bồi thẩm đoàn, và bị kết tội. Các sách Tin Mừng muốn chúng ta tin rằng cả động cơ chính trị lẫn tôn giáo đều có liên quan. Trong mắt các nhà chức trách Do Thái, Người dường như là một kẻ giả danh Đấng Mê-xi-a, giống như những kẻ tự xưng là Đấng Mê-xi-a khác vào thời đó, nghĩ rằng việc xuất hiện của vương quốc Thiên Chúa cần đến một cuộc cách mạng chính trị. Do đó, các nhà lãnh đạo Do Thái lo sợ rằng Người có thể gây ra sự đàn áp tàn bạo của người Rô-ma và mang lại sự hủy diệt cho toàn bộ dân tộc Do Thái. Tòa Công nghị cũng có những lý do thuần túy tôn giáo để muốn giết Chúa Giê-su: Họ coi việc Người tự nhận mình có thẩm quyền độc nhất vô nhị là phạm thượng, và những lời Người chống lại Đền thờ cùng những lời chỉ trích Luật Do Thái là sự phạm thánh.

Rồi theo các sách Tin Mừng, sau khi điều tra, Phi-la-tô thấy cáo buộc chính trị là không có cơ sở, có lẽ điều khiến ông ấn tượng nhất là sự không sẵn lòng dùng vũ lực để bảo vệ Người của những người theo Chúa Giê-su vào thời điểm Người bị bắt. Vì vậy, sau khi thẩm vấn, ông quyết định thả Người. Nhưng các lãnh đạo Do Thái không chấp nhận điều này, và bằng cách đe dọa tố cáo Phi-la-tô với Xê-da, họ đã buộc ông phải xử tử Chúa Giê-su.

Câu hỏi đặt ra là: Liệu các tường thuật trong Tin Mừng về việc bắt giữ, xét xử và hành quyết Chúa Giê-su có đúng với lịch sử không? Nhiều học giả ngày nay nói là không. Họ xem phiên bản bi kịch trong Tin Mừng là mang tính xu hướng—phản ánh quan điểm thịnh hành trong Giáo hội khi chúng được viết ra từ ba mươi đến sáu mươi năm sau sự kiện. Theo lý thuyết của họ, các tác giả của Tin Mừng đã phóng đại trách nhiệm của người Do Thái về cái chết của Chúa Giê-su và giảm thiểu sự tham gia của người Rô-ma. Ý định của họ có lẽ là để xoa dịu bất cứ nghi ngờ nào của người Rô-ma rằng Giáo hội Ki-tô có thể gây rối loạn chính trị bằng cách minh oan cho người sáng lập khỏi bất cứ sự liên hệ nào như vậy. Vì vậy, họ đã xuyên tạc rằng Phi-la-tô không coi trọng các cáo buộc chính trị chống lại Chúa Giê-su và chuyển trách nhiệm chính về cái chết của Chúa Giê-su cho người Do Thái.

Một số học giả thậm chí còn đi xa đến mức hoàn toàn tha bổng cho các nhà chức trách Do Thái và thu hẹp toàn bộ sự việc thành một cuộc xung đột chính trị giữa Chúa Giê-su và người Rô-ma. Nhưng trong khi thừa nhận một phần sự thật trong giả thuyết này, các học giả khác lại không hoàn toàn tha bổng cho tất cả các nhà lãnh đạo Do Thái. Họ cho rằng chúng ta phải giả định rằng đã tồn tại một sự thù địch mạnh mẽ giữa Chúa Giê-su và một số nhà lãnh đạo—đặc biệt là các thầy tế lễ đền thờ—vì đó là một sự thật đã ăn sâu vào truyền thống đến mức không thể dễ dàng bác bỏ; và những nhà lãnh đạo này chắc chắn đã đóng một vai trò nào đó trong cái chết của Người. Trong mắt họ, Người hoàn toàn có thể bị coi là một kẻ giả danh Đấng Mê-xi-a. Mặc dù không phải toàn bộ Tòa Công nghị, kẻ thù của Người vẫn là một nhóm quyền lực và sẽ thẩm vấn Người về những tuyên bố mình là Đấng Mê-xi-a, rồi giao Người cho Phi-la-tô. Về phần mình, Phi-la-tô sẽ không ngần ngại nhanh chóng xử tử bất cứ ai bị nghi ngờ có liên quan đến hoạt động lật đổ chính trị, ngay cả khi ông không bị ấn tượng bởi mức độ nghiêm trọng của lời buộc tội.

Dù sao đi nữa, mọi chuyện lẽ ra phải kết thúc trên đồi Can-va-ri-ô. Nhưng một điều kỳ lạ đã xảy ra, một trải nghiệm đã thuyết phục những người theo Chúa Giê-su rằng Người vẫn còn sống và đã thay đổi hoàn toàn quan điểm của họ.

Điều gì thực sự đã xảy ra vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên đó? Chúng ta có một số nguồn tài liệu cố gắng mô tả sự phục sinh của Chúa Giê-su: các sách Tin Mừng, sách Công vụ các Tông đồ và các thư của Thánh Phao-lô. Nhưng khi phân tích chúng, chúng ta thấy sự khác biệt đáng kể trong cách họ thuật lại sự kiện. Vì vậy, họ không thống nhất về nơi và người mà Chúa Giê-su hiện ra lần đầu tiên (ví dụ, trong sách Mát-thêu và Gio-an, Chúa Giê-su hiện ra lần đầu tiên với Ma-ri-a Ma-đa-lê-na và các bạn đồng hành của bà ở Giê-ru-sa-lem, trong khi theo Thánh Phao-lô, Người hiện ra lần đầu tiên với Phê-rô; Gio-an và Lu-ca đặt sự hiện ra đầu tiên của Người với các môn đệ ở Giê-ru-sa-lem, Mát-thêu ở Ga-li-lê). Vì vậy, rất khó để hình thành một trình tự lịch sử nhất quán của các sự kiện. Điều này hoàn toàn trái ngược với các tường thuật về cuộc Khổ nạn, trong đó tất cả các chi tiết được sắp xếp thành một trình tự nhất quán và dễ hiểu.

Sự Phục Sinh của Chúa Kitô. Andrea Mantegna (1431–1506). Bảo tàng Mỹ thuật, Tours, Pháp. © Scala/Art Resource, New York.


Tuy nhiên, điểm cơ bản trong tất cả các tường thuật là sự hiện ra của Chúa Giê-su với các môn đệ của Người, sự kiện đã khai sinh ra cộng đồng Kitô giáo, nhưng mỗi cộng đồng riêng lẻ lại thuật lại theo cách phản ánh tư duy, liên kết địa phương và quan niệm thần học của riêng họ.

Các phương pháp phê bình lịch sử hiện nay cho phép vượt qua những khác biệt và tái tạo lại trình tự các sự kiện có thể xảy ra. Joachim Jeremias thuật lại như sau:

Vào rạng sáng ngày Lễ Phục Sinh, Ma-ri-a Ma-đa-lê-na một mình đến mộ để than khóc Chúa Giê-su. Từ xa, bà thấy tảng đá niêm phong mộ đã được lăn ra. Ngay lập tức, bà nghĩ rằng có kẻ đã đột nhập để lấy trộm thi thể, liền chạy đi báo cho Phê-rô. Phê-rô liền vội vã đến mộ và thấy những tấm vải liệm nằm rải rác xung quanh và quả thật ngôi mộ trống không. Ông vội vàng trở về với các môn đệ. Rồi sự kiện quyết định đã xảy ra: Chúa Phục Sinh hiện ra với Phê-rô.