1. Hàng ngàn người hành hương tập trung tại Mariamabad để tham gia cuộc hành hương quốc gia lần thứ 77 dưới trời mưa.

Mưa gió, sự bất tiện và dự báo thời tiết xấu không làm giảm đi lòng sùng kính sâu sắc đối với Đức Mẹ của các tín hữu ở Pakistan. Hôm 4 tháng 9, các hoạt động kỷ niệm bắt đầu tại Đền thờ Mariamabad cho Cuộc hành hương quốc gia lần thứ 77, một sự kiện trọng đại trong lòng sùng kính Đức Mẹ của các tín hữu Công Giáo Pakistan, và đã kết thúc vào ngày 6 tháng 9.

" Thật xúc động. Bất chấp dự báo thời tiết khắc nghiệt, với mưa lớn có thể gây lũ lụt và khiến các tín hữu gặp khó khăn trong việc ở lại khu vực ngoài trời trước Đền thờ, nơi các tín hữu hành hương dựng lều, họ vẫn kiên định trong đức tin và mối liên kết sâu sắc với Đức Mẹ Maria: không gì có thể chia cách họ khỏi tình yêu của Chúa Kitô", Cha Qaisar Feroz OFM Cap, linh mục quản xứ ở Lahore và phát ngôn nhân của Hội đồng Giám mục Công Giáo Pakistan, nói với hãng thông tấn Fides. Ngài đang có mặt tại Mariamabad cùng cộng đồng của mình.

"Nhiều người đã đến Mariamabad, trong khi hàng ngàn người khác từ khắp các giáo phận của Pakistan đang hành hương theo đoàn: đi bộ, bằng xe đạp, xe máy, xe tải và xe buýt. Đó là một sự huy động đức tin ấn tượng trên toàn quốc: các gia đình đi hàng ngàn km để cầu nguyện với Đức Mẹ Maria, nương náu dưới bóng Mẹ, phó thác cuộc sống và những khó khăn của họ cho Mẹ, và cầu xin ân sủng từ Mẹ trên trời", vị tu sĩ dòng Capuchin giải thích, khi dự kiến hơn 500.000 tín hữu sẽ tham dự.

Các tín hữu hành hương đang tham dự Thánh lễ khai mạc do Đức Tổng Giám Mục Lahore, Khalid Rehmat, cử hành. Cha Feroz nhận xét: "Trong số họ cũng có cả người Hồi giáo và người Hindu: Đức Mẹ Maria thu hút trái tim của tất cả mọi người."

Cuộc hành hương năm nay cũng sẽ mang đậm "đặc trưng dòng Phanxicô", đánh dấu kỷ niệm 800 năm ngày mất của Thánh Phanxicô Assisi. Các tu sĩ dòng Phanxicô tại Pakistan sẽ dẫn dắt buổi cầu nguyện Kinh Mân Côi tại Mariamabad, sử dụng các văn bản và đoạn trích từ Nguồn tư liệu Phanxicô phản ánh tình yêu sâu sắc của Thánh Phanxicô Assisi dành cho Đức Trinh Nữ Maria.

Cha Feroz nói: "Kinh Mân Côi sẽ là một lời cầu nguyện lớn lao cho hòa bình, được hàng ngàn người hành hương cùng tham gia."

Mariamabad, còn được gọi là "Thành phố Đức Mẹ", là thánh địa Đức Mẹ quan trọng nhất của Pakistan. Nằm ở tỉnh Punjab, cách Lahore khoảng 80 km, lịch sử của nơi này, như Cha Feroz nhớ lại, "gắn liền với công việc của các nhà truyền giáo dòng Capuchin người Bỉ và đặc biệt là với nhân vật Cha Felix van de Putte, người sáng lập."

Vào cuối thế kỷ 19, các nhà truyền giáo dòng Capuchin ở Pakistan nhận ra rằng những người mới cải đạo sang Kitô giáo, phần lớn là người Punjab thuộc tầng lớp nghèo nhất trong xã hội, phải chịu sự phân biệt đối xử, áp bức nghiêm trọng và điều kiện bán nô lệ từ các địa chủ địa phương.

Để giải thoát những gia đình này khỏi cảnh nghèo đói, Giám mục dòng Capuchin Emmanuel Van Den Bosch đã mua từ chính phủ Anh khoảng 150 mẫu đất cằn cỗi và chưa được phát triển ở quận Sheikhupura, với mục đích thành lập một thị trấn cho người Kitô hữu.

Tháng Giêng năm 1893, ba gia đình Kitô giáo, cùng với các nhà truyền giáo, đã thực hiện một cuộc hành trình kéo dài sáu ngày để đến vùng đất mới và thành lập một thị trấn nông nghiệp, mà họ đặt tên là Maryabad (sau này là Mariamabad), có nghĩa là "Thành phố của Đức Mẹ Maria".

Cha Felix đến Mariamabad vào năm 1896 và trở thành trụ cột và người xây dựng thực sự của nơi này. Ngài đã mở rộng thuộc địa và thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, xã hội và tâm linh của cộng đồng. Ngài đã tổ chức các hệ thống canh tác để các gia tấn Công Giáo cuối cùng có thể tự canh tác đất đai, xây dựng nhà cửa kiên cố và sống bằng sức lao động của mình một cách đàng hoàng và an toàn.

Cha Felix cũng chỉ đạo việc xây dựng nhà thờ mới, được cung hiến vào ngày 8 tháng 12 năm 1898. Từ đó, các tín hữu đã phát triển lòng sùng kính sâu sắc đối với Đức Trinh Nữ Maria, ngày nào cũng đọc kinh Mân Côi.

Những năm sau đó, các tu sĩ dòng Capuchin đã xây dựng một hang động giống như ở Lourdes, Pháp, và đặt một bức tượng Đức Mẹ trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ gần nhà thờ.

Năm 1949, Mariamabad chính thức được tuyên bố là Đền thờ Đức Mẹ Quốc gia của Pakistan. Nơi đây cũng trở thành một địa điểm hiếm hoi và đặc biệt cho đối thoại liên tôn, thường xuyên được viếng thăm không chỉ bởi các tín hữu Kitô giáo mà còn bởi một lượng lớn người Hồi giáo và người Hindu, những người đến để tôn kính Đức Mẹ và cầu xin sự chuyển cầu của Người.


Source:FIDES



2. Tổng giáo phận Indianapolis miễn trừ nghĩa vụ đi lễ Chúa nhật cho người Công Giáo vì lo ngại Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ.

Tổng giáo phận Indianapolis là giáo phận mới nhất của Hoa Kỳ ban hành sắc lệnh tạm dừng nghĩa vụ tham dự lễ Chúa nhật đối với những người lo ngại về các hoạt động thực thi luật nhập cư.

"Tôi ký tên dưới đây miễn trừ nghĩa vụ tham dự Thánh lễ vào các ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc đối với tất cả những người cư trú trong Tổng giáo phận Indianapolis, những người có lý do chính đáng để lo sợ bị giam giữ, bị chia cắt khỏi gia đình hoặc bị đe dọa do việc tăng cường thực thi luật nhập cư," Đức Tổng Giám Mục Charles Thompson của Indianapolis viết trong sắc lệnh mới nhất của ngài.

Sắc lệnh này có hiệu lực từ ngày 4 tháng 9 và kéo dài đến ngày 30 tháng 9, áp dụng cho cả những người đang cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Những người không tham dự Thánh lễ vì lo sợ chạm trán với các nhân viên Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan, gọi tắt là ICE "được khuyến khích bổ sung các thực hành tâm linh vào Chúa nhật và các ngày lễ buộc bằng các hoạt động như cầu nguyện với các bài đọc Chúa nhật trong Sách Bài đọc, đọc kinh Mân Côi hoặc các bí tích khác, và/hoặc xem Thánh lễ trực tuyến trên truyền hình hoặc internet," Đức Tổng Giám Mục Thompson cho biết.

Sắc lệnh nêu rõ: "Các linh mục và thừa tác viên trong giáo phận được khuyến khích hết lòng chăm lo đến đời sống tâm linh của những người cần được miễn trừ này, đặc biệt là đối với các Bí tích Hòa giải và Xức dầu bệnh nhân, hoặc việc phân phát Thánh Thể cho những người không thể đến nhà thờ."

Hoạt động của ICE tại khu vực Indianapolis đã gia tăng trong những ngày gần đây. Một số doanh nghiệp địa phương đã tạm thời đóng cửa vì lý do này.

Từ năm 2025, các giáo phận trên khắp Hoa Kỳ đã tạm thời đình chỉ nghĩa vụ tham dự Thánh lễ vào các ngày Chúa nhật hoặc các ngày lễ buộc do hoạt động của ICE.

Đầu tiên là Giáo phận San Bernardino, California, vào ngày 8 tháng 7 năm 2025 đã ban hành một sắc lệnh nói rằng những người "thực sự lo sợ các hành động thực thi luật nhập cư, không thể tham dự Thánh lễ Chúa nhật hoặc Thánh lễ vào các ngày lễ buộc được miễn nghĩa vụ này, như được quy định trong Điều 1247 của Giáo luật, cho đến khi sắc lệnh này bị bãi bỏ hoặc sửa đổi." Sắc lệnh được ban hành sau hai cuộc đột kích của ICE vào các nhà thờ.

Giáo phận San Bernardino đã xác nhận với tờ Catholic Herald vào ngày 4 tháng 9 năm 2026 rằng sắc lệnh vẫn có hiệu lực.

Các sắc lệnh tương tự cũng đã được ban hành bởi Tổng giáo phận New Orleans và các giáo phận Columbus, Ohio và Baton Rouge, Louisiana.

Vào tháng 5 năm 2025, Giáo phận Nashville, Tennessee cho biết những người lo ngại không nên mạo hiểm sự an toàn của mình để tham dự Thánh lễ, nhưng không ban hành sắc lệnh chính thức.


Source:Catholic Herald



3. Tiến sĩ George Weigel: Bộ phim hay nhất mọi thời đại?

Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề "The Best Film Ever?", nghĩa là "Phải chăng bộ phi, này hay nhất mọi thời đại".

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Năm 1966 là một năm tuyệt vời cho điện ảnh, và sáu thập niên sau, năm bộ phim được đề cử cho Phim hay nhất tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 39 năm sau đó vẫn rất đáng xem: đó là các bộ phim Alfie; A Man for All Seasons; The Russians Are Coming the Russians Are Coming; The Sand Pebbles; và Who’s Afraid of Virginia Woolf? Lễ trao giải Oscar năm 1967 dường như diễn ra ở một hành tinh xa xôi và khác biệt, cách xa hàng vạn dặm so với sự thô tục và đạo đức giả đang thống trị đêm Oscar ngày nay. Khi đó, chương trình trang nhã, nhịp nhàng và được dẫn dắt tuyệt vời bởi Bob Hope, trong bộ lễ phục trắng. Khoảnh khắc đáng nhớ nhất đến trong phần trao giải Oscar cho Phim hay nhất của Audrey Hepburn, màn kết thúc đầy kịch tính của lễ kỷ niệm điện ảnh hàng năm của Hollywood. Sau một vài lời khen ngợi trao đổi ngắn gọn với Hope, cô Hepburn đọc tên và nhà sản xuất của các bộ phim được đề cử, cầm lấy phong bì, đọc tấm thiệp bên trong, ngước nhìn lên trời trong giây lát—và sau đó, với một nụ cười mãn nguyện, như thể lời cầu nguyện của cô đã được đáp ứng, cô tuyên bố rằng bộ phim chiến thắng là A Man for All Seasons.

Gần đây tôi đã xem lại bộ phim chuyển thể đầy lôi cuốn của Fred Zinnemann từ vở kịch của Robert Bolt ít nhất là lần thứ sáu, và một ý nghĩ chợt nảy ra: Phải chăng "A Man for All Seasons" là bộ phim hoàn hảo nhất từng được làm? Mọi thứ trong phim dường như đều hoàn hảo.

Kịch bản của Bolt giữ cho mạch truyện luôn diễn tiến nhanh, làm nổi bật những khoảnh khắc then chốt mà không bỏ sót bất cứ chi tiết quan trọng nào từ kịch bản gốc. Tất cả các diễn viên đều xuất sắc, bắt đầu từ Thomas More do Paul Scofield thủ vai và tiếp tục với Alice More do Wendy Hiller đóng, Henry VIII do Robert Shaw thủ diễn (người anh hùng trẻ tuổi thời Phục Hưng, chứ không phải kẻ dâm đãng của những năm sau này), Hồng Y Wolsey do Orson Welles đóng (hiện thân của một Giáo hội bị suy yếu bởi liên minh với quyền lực nhà nước), Công tước Norfolk thô lỗ và ngang ngược do Nigel Davenport thủ vai, Leo McKern trong vai Thomas Cromwell vô đạo đức và đầy hoài nghi, và John Hurt thủ vai Richard Rich, bị tha hóa bởi sự kiêu ngạo trí thức và tham vọng quá mức. Vai diễn khách mời ngắn ngủi chỉ tám mươi giây đầy gợi cảm của Vanessa Redgrave trong vai Anne Boleyn hé lộ kết cục bi thảm đang chờ đợi người phụ nữ mà vì cô, nhà vua Henry đã đoạn tuyệt với Giáo hội Rôma.

Kỹ thuật quay phim của Ted Moore vừa tuyệt đẹp vừa trung thực với lịch sử; tôi từng nhìn ra ngoài cửa sổ trong phòng giam của Thánh Thomas More ở Tháp Luân Đôn và có ấn tượng sâu sắc trước cách Zinnemann và nhà quay phim của ông đã khéo léo sử dụng khung cảnh bờ sông Thames để truyền tải sự thay đổi của các mùa trong suốt thời gian dài Thánh nhân bị giam cầm. Nhạc nền của Georges Delerue rất phù hợp với mạch phim và mang đến cho nó một hương vị Phục Hưng đích thực.

Nếu có điều gì không ổn trong cuốn "A Man for All Seasons", thì tôi không nhận thấy.

Tôi thường phản đối nỗ lực của Bolt, trong lời tựa ông viết cho ấn bản bìa mềm năm 1962 của vở kịch của mình, nhằm biện minh cho sự kính trọng của ông dành cho Thánh Thomas More, một người Công Giáo nhiệt thành, trước những người cùng quan điểm thế tục. Trong lời biện hộ đó, nhà viết kịch theo chủ nghĩa bất khả tri, thậm chí gần như vô thần, đã đặt Thánh Thomas More vào vị trí một anh hùng tiền thân của chủ nghĩa hiện sinh: người đã chết để bảo vệ "một ý thức vững chắc về bản thân", mối đe dọa từ Vua Henry đã khiến "con người mềm dẻo, hài hước, khiêm tốn và tinh tế này trở nên cứng rắn như kim loại, bị chế ngự bởi một sự cứng nhắc nguyên thủy tuyệt đối" - một người "không thể lay chuyển hơn một vách đá". Tuy nhiên, trong kịch bản của mình, Bolt không thể tránh khỏi một số sự thật rõ ràng là Công Giáo: rằng gia đình More cùng nhau cầu nguyện; rằng More, với tư cách là một cố vấn am hiểu thần học, đã giúp Henry VIII giành được danh hiệu "Người bảo vệ đức tin" cho một cuốn sách bảo vệ bảy bí tích chống lại Martin Luther; và rằng More, tại phiên tòa xét xử, đã khẳng định rằng Giáo hoàng là một thể chế được Chúa ban cho. Rồi đến cuối cùng, More của Bolt thú nhận rằng ông chết "với tư cách là người đầy tớ trung thành của nhà vua, nhưng trước hết là của Chúa" - vị Chúa "sẽ không từ chối người nào vui vẻ đến với Ngài như vậy."

Trong lời tựa đó, Robert Bolt thừa nhận sự ngưỡng mộ dành cho Albert Camus mà tôi cũng chia sẻ ở một số khía cạnh. Nhưng không thể tưởng tượng những lời cuối cùng của Camus lại giống với lời của More, nếu nhà văn hiện sinh người Pháp này qua đời trong hoàn cảnh tương tự. Khi dành những dòng chữ đó cho người hùng thế kỷ XVI của mình trên giá treo cổ, Bolt đã ngầm thừa nhận rằng More nghĩ rằng ngài đang chết vì chân lý của Chúa Kitô và phúc âm, chứ không phải vì, với tư cách là một người theo chủ nghĩa hiện sinh chân chính với "ý thức vững vàng về bản thân", ông không thể làm gì khác.

Thomas More là một quan chức nhà nước tận tâm và hiệu quả cao. Khía cạnh đó trong cuộc đời ông được thể hiện mờ nhạt trong bộ phim A Man for All Seasons, nơi chúng ta thấy More đảm nhiệm chức vụ Chưởng ấn của Anh nhưng không thực sự hành động trong vai trò cao cả đó. Tuy nhiên, tấm gương của More rất quan trọng để nêu bật trong thời đại ngày nay, khi mà chức vụ công thường trở thành một màn trình diễn nghệ thuật (hoặc một màn trình diễn nhạt nhẽo). Điều này cho thấy rằng A Man for All Seasons, bộ phim tròn 60 tuổi vào tháng 12, nên là tác phẩm bắt buộc phải xem đối với những người đang làm việc trong khu vực công vào năm 2026.


Source:First Things



4. Tòa Hồng Y là gì? Đức Tổng Giám Mục Hà Nội có nhiều khả năng trở thành Hồng Y đầu tiên trong triều Đức Giáo Hoàng Lêô XIV

Tòa Hồng Y, tiếng Anh là Cardinalatial See, hay Cardinatial See, là một giáo phận hoặc tổng giáo phận cụ thể mà theo truyền thống hoặc thông lệ do một Hồng Y đứng đầu.

Theo lịch sử, các tổng giáo phận lớn hay ở một số thành phố quan trọng như Washington, Paris, Westminster, Santiago, Los Angeles, Hà Nội, Venice, Milan được kỳ vọng sẽ có một Hồng Y làm Tổng Giám Mục.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng Tòa Hồng Y chỉ là theo truyền thống hoặc thông lệ. Tòa Thánh không chính thức chỉ định Tòa Giám Mục nào là Tòa Hồng Y; và việc bổ nhiệm Hồng Y là một lựa chọn cá nhân của Đức Giáo Hoàng, có nghĩa là tước vị này thuộc về cá nhân vị giám mục chứ không phải gắn liền vĩnh viễn với tòa giám mục nơi ngài cai quản.

Tổng giáo phận Los Anges đã từng có đến 3 vị Hồng Y và vẫn luôn được tin tưởng là một Tòa Hồng Y lớn của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, dưới triều Đức Giáo Hoàng Phanxicô, hết lần này đến lần khác Đức Tổng Giám Mục Los Angeles, José Horacio Gómez, cai quản tổng giáo phận từ năm 2011 đã không được tấn phong Hồng Y, ngay cả trong thời gian ngài giữ chức Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

Trái lại, vào ngày 28 Tháng Mười Một, 2020, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tấn phong Hồng Y cho Đức Cha Cornelius Sim, người đang là Giám Quản Tông Tòa của Tòa Giám mục Tông tòa Brunei nằm ở phía tây bắc đảo Borneo của vương quốc nhỏ bé Brunei, nơi chỉ có ba nhà thờ Công Giáo và ba linh mục, tất cả đều sinh ra ở đó, bởi vì chỉ những người bản địa mới có thể giữ các chức vụ mục vụ và lãnh đạo giáo xứ.

Lựa chọn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô có thể có những hệ quả tích cực, ít nhất là nhiều quốc gia nơi chưa từng có Hồng Y bao giờ như Brunei, Mông Cổ đã có được các Hồng Y đầu tiên của mình. Tuy nhiên, nhiều người lo ngại rằng tác động của việc tấn phong Hồng Y cho những nơi có ít người Công Giáo như thế sẽ chẳng có bao nhiêu.

Trong trường hợp của Brunei, có thể còn phản tác dụng. Chính quyền Hồi Giáo Brunei cảm thấy khó hiểu trước quyết định tấn phong Hồng Y này và công khai tỏ ra nghi ngờ việc tấn phong Hồng Y cho Đức Cha Cornelius Sim là một "âm mưu của Vatican". Giáng Sinh 2020 đã diễn ra căng thẳng và ngột ngạt hơn bao giờ hết với rất nhiều cấm đoán. Vài tháng sau đó, ngày 29 Tháng Năm, 2021, Đức Hồng Y Cornelius Sim qua đời vì bệnh ung thư tại Đài Loan. Cho đến khi qua đời, ngài vẫn chưa nhận được chiếc mũ đỏ vì đau yếu và tình trạng dịch bệnh Corona virus đang hoành hành. Tình hình Giáo Hội Brunei được ghi nhận là khả quan hơn kể từ đó.

Tóm lại, Tòa Hồng Y chỉ là theo truyền thống hoặc thông lệ; và Đức Giáo Hoàng hoàn toàn có thể tự do quyết định phong Hồng Y cho vị nào ngài muốn.

Nhưng nói như thế, cũng không có nghĩa là khái niệm Tòa Hồng Y chẳng có một kilô gam nào.

Nhìn cách ăn mặc của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, và cách ứng xử của ngài từ khi được bầu làm Giáo Hoàng cho đến nay, nhiều người đồng ý rằng Đức Giáo Hoàng Lêô tỏ ra trọng truyền thống hơn vị tiền nhiệm của ngài. Nếu nhận xét này là đúng, Đức Tổng Giám Mục Hà Nội, Giuse Vũ Văn Thiên có rất nhiều triển vọng xán lạn được tấn phong Hồng Y trong đợt tấn phong Hồng Y đầu tiên dưới triều Đức Giáo Hoàng Lêô.

Thật vậy, theo dòng lịch sử, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã có 4 vị Hồng Y là Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê, Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng và Đức Hồng Y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn. Như thế, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã có truyền thống là Tòa Hồng Y.

Với một vị Giáo Hoàng có khuynh hướng trọng truyền thống như Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, hoàn toàn có cơ sở hợp lý để tin rằng vị Hồng Y thứ năm cai quản tổng giáo phận Hà Nội là Đức Hồng Y Giuse Vũ Văn Thiên.

Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên sinh ngày 26/10/1960, tại Giáo xứ Kẻ Sặt. Ngài gia nhập Đại Chủng viện Thánh Giu-se Hà Nội ngày 23/09/1982; và được thụ phong linh mục tại Hải Phòng ngày 24/01/1988

Ngài du học Paris từ năm 1996 đến 2000 trước khi được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Giám mục Hải Phòng ngày 26/11/2002

Ngài được tấn phong Giám mục tại Hải Phòng ngày 02/01/2003 với Khẩu hiệu Giám mục: "Phục vụ trong niềm vui và hy vọng"


Source:THEPAPALVISIT



5. Nhật ký trừ tà #402: Tại sao địa ngục lại kinh khủng đến vậy?

Đức Ông Stephen Rossetti, Nhà Trừ Tà của giáo phận Syracuse, phó giáo sư nghiên cứu tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ vừa có bài viết nhan đề "Exorcist Diary #402: Why is hell so horrible?", nghĩa là "Nhật ký trừ tà #402: Tại sao địa ngục lại kinh khủng đến vậy?". Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Theo mọi lẽ, địa ngục là một nơi khủng khiếp, kinh hoàng. Có vẻ như Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta tuyên xưng là nhân từ, lại không hề nhân từ chút nào. Chính Chúa Giêsu đã nhiều lần nói về địa ngục như một nơi "khóc lóc, than vãn và nghiến răng" (Mt 8:12, 13:42, 13:50, 22:13; 24:51, 25:30 và Luca 13:28). Và mặc dù những lời kể riêng lẻ về địa ngục (như của các trẻ em ở Fatima, Thánh Faustina và Thánh Catherine xứ Siena) không phải là lời chứng thực tuyệt đối vì chúng là những mặc khải riêng tư, nhưng chúng đều tương đối giống nhau. Như một người đàn ông tự nhận đã chết và trải nghiệm địa ngục đã nói: "Tôi không muốn điều đó xảy ra ngay cả với kẻ thù tồi tệ nhất của mình."

Tôi nghĩ chúng ta không thể hiểu được địa ngục là gì cho đến khi chúng ta hiểu rõ hơn về Thiên Chúa. Một cách vô thức, bất chấp những kiến thức thần học tốt nhất của chúng ta, mọi người thường có xu hướng nghĩ về Thiên Chúa như một ông nội hiền lành. Mặc dù đúng là chúng ta gọi Thiên Chúa là "Cha", nhưng thực tế Ngài quyền năng hơn nhiều so với hình ảnh mà con người tạo ra. Thiên Chúa là vô hạn, toàn năng và toàn tri. Đồng thời, Thiên Chúa là tình yêu thuần khiết, như Thánh Gioan đã nói với chúng ta (1 Gioan 4:8). Thiên Chúa là điều tốt lành nhất của chúng ta - điều tốt lành lớn nhất của chúng ta. Được chia sẻ tình yêu và sự thánh thiện vô hạn của Thiên Chúa là một ân sủng vượt quá sự hiểu biết.

Địa ngục là gì? Địa ngục là đánh mất điều tốt đẹp nhất của chúng ta; đó là đánh mất Chúa. Nỗi đau khổ lớn nhất ở địa ngục chính là điều đó: nhận thức rằng chúng ta đã đánh mất Chúa mãi mãi và sự giày vò lương tâm không ngừng vì lỗi lầm của chính mình. Trong cuộc sống này, Chúa luôn luôn dang tay đến với chúng ta, nhưng những người lạc lối đã nhiều lần và cố ý từ chối Ngài. Thực tại của địa ngục thật khủng khiếp bởi vì những gì chúng ta đã đánh mất là điều vô cùng yêu thương và tươi đẹp.

Và sự tồn tại của địa ngục, kỳ lạ thay, lại là một sự thương xót. Đối với những kẻ đã dứt khoát từ bỏ Chúa và chọn bóng tối, ngay cả một chút "ân sủng" hay tia sáng thiêng liêng nhỏ nhất cũng là một sự đau khổ khủng khiếp. Trong một nghi thức trừ tà, chúng tôi chứng kiến điều này: chỉ cần rưới một chút nước thánh lên ma quỷ là chúng sẽ la hét. Bạn có thể tưởng tượng cảm giác của chúng hay những kẻ bị đọa đày khi được trực tiếp ở trước sự hiện diện của Chúa sẽ như thế nào không? Đó thực sự sẽ là một sự tra tấn không thương tiếc.

Để đến gần Chúa và do đó lên thiên đường, chúng ta cần một phẩm chất – đó là tình yêu. Tình yêu theo nghĩa này là lòng bác ái đích thực, không chỉ đơn thuần là một cảm xúc. Đối với Thánh Tôma, bác ái là nền tảng của mọi đức hạnh. Đó là mối dây liên kết chung của tình bạn và tình yêu thương lẫn nhau với Chúa. Lòng bác ái đích thực không thể bị ép buộc; Chúa không thể ép buộc chúng ta yêu Ngài. Theo thánh ý Chúa, tình yêu chỉ có thể được ban tặng cách tự do. Chúa mời gọi chúng ta; yêu thương chúng ta; và hằng ngày ban cho chúng ta mọi ân sủng. Nhưng cuối cùng, nếu chúng ta không có một chút tình yêu nào, sẽ không có chỗ trên thiên đường với Chúa, Đấng là tình yêu.

Thiên đường hay địa ngục? Sự lựa chọn thật khắc nghiệt và đối lập. Điều này là bởi vì chính Thiên Chúa là tình yêu vô hạn vượt quá sự hiểu biết. Không có bi kịch nào lớn hơn việc đánh mất Thiên Chúa: "Người ta được lợi gì khi chiếm được cả thế giới mà mất mạng sống vĩnh hằng?" (Mc 8:36). Và không có niềm vui nào lớn hơn việc tìm thấy Ngài.

Nhưng chúng ta không nên sợ hãi hay tuyệt vọng. Chúa là Đấng yêu thương và nhân từ, Ngài dang rộng vòng tay yêu thương của Cha để chào đón chúng ta. Chúng ta tin rằng đời sống siêu nhiên của ân sủng Chúa thường bắt đầu từ phép rửa tội, được nuôi dưỡng bởi các bí tích, và được làm sống động bởi đức tin của chúng ta vào Chúa Giêsu Kitô và việc sống theo lời rao giảng của Ngài. Hãy bắt đầu mỗi ngày với một tấm lòng rộng mở với Chúa và những lời: "Lạy Chúa, con dâng hiến mỗi giây phút trong ngày hôm nay cho Ngài trong tình yêu thương."

Khi đời sống tâm linh của chúng ta trong Chúa ngày càng phát triển, chúng ta sẽ trở nên giàu có về ân sủng. Như Kinh Thánh đã dạy: "Ai có, sẽ được ban thêm, người ấy sẽ càng giàu có; ai không có, thì ngay cả những gì người ấy có cũng sẽ bị lấy đi" (Mt 13:12).


Source:Catholic Exorcism



6. Tiến sĩ George Weigel: Một người thầy tuyệt vời và một bản tuyên ngôn đáng hoan nghênh

Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề "A Great Teacher and a Welcome Manifesto", nghĩa là "Một người thầy tuyệt vời và một bản tuyên ngôn đáng hoan nghênh".

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Mặc dù tôi không muốn can thiệp vào Hiến pháp Hoa Kỳ, nhưng tôi sẵn sàng xem xét một sửa đổi cấm bất kỳ trường tiểu học nào mở cửa trước Ngày Lao động.

Đó là cuộc sống của tôi khi còn là một cậu bé ở Baltimore, và tôi không thể tưởng tượng nổi việc phải đến trường trước Ngày Lao động cũng như không thể tưởng tượng nổi việc cổ vũ cho đội New York Yankees. Ngày Lao động đánh dấu sự kết thúc của kỳ nghỉ hè: Ocean City, Maryland, đã vắng tanh vài ngày trước đó; mẹ tôi đưa tôi và anh trai đến cửa hàng Stewart’s ở trung tâm thành phố Baltimore để mua đồng phục học sinh mới (thường thì quần đã rách đầu gối vào tháng Mười); tại cửa hàng tạp hóa McCrory’s, chúng tôi chọn hộp cơm trưa mới (Roy Rogers? Superman?); và chúng tôi hồi hộp chờ đợi xem nữ tu nào của Dòng Nữ tu Notre Dame sẽ làm chủ nhiệm lớp học của chúng tôi cho đến tháng Sáu.

Vào những ngày tháng ngây thơ ấy, những điều này dường như bất biến như định luật hấp dẫn.

Vậy là vào đầu một năm học mới, dù bắt đầu sớm đến mức phi lý, tôi nhớ lại tháng 9 năm 1959 và những tuần đầu tiên của lớp ba tại Trường Nhà thờ, khi đó tọa lạc tại số 7 đường West Mulberry, cách tòa nhà Công Giáo lịch sử nhất nước Mỹ, Vương cung thánh đường Đức Mẹ Lên Trời, chỉ một quãng ngắn.

Tôi không nhớ lớp hai của tôi lại đặc biệt ồn ào khi chúng tôi được chuẩn bị cho lần xưng tội đầu tiên và lần rước lễ đầu tiên dưới sự hướng dẫn nghiêm khắc nhưng nhân hậu của Sơ Mary Francis Borgia, SSND. Tuy nhiên, chắc hẳn chúng tôi là một học sinh khó bảo, bởi vì khi nữ tu lớn tuổi dự định dạy lớp ba của chúng tôi bị ốm và được thay thế bởi một nữ tu tập sự, Sơ Barbara, rõ ràng chúng tôi đã khiến cô gái trẻ tội nghiệp ấy phát điên, vì sơ ấy chỉ dạy được có hai tuần (nếu tôi nhớ không nhầm). Rồi sự thay đổi đến từ một nữ tu SSND trẻ hơn nữa, một ứng viên tên là Sơ Florence. Và tôi tạ ơn Chúa vì điều đó.

Sơ Florence Sweeney (sau này khấn trọn đời với tên gọi Sơ Miriam Jude, SSND) từng là giáo viên trường công lập Philadelphia trong vài năm trước khi vào tu viện, và cuộc sống giữa những thanh niên ngỗ nghịch ở Thành phố Philadelphia là sự chuẩn bị tốt để uốn nắn chúng tôi. Sơ Florence không dung thứ cho sự vô kỷ luật, và nếu lúc đó chúng tôi thấy sơ hơi đáng sợ, thì tình yêu thương nghiêm khắc của sơ đã giúp ích rất nhiều cho tôi. Tôi không nhớ sơ hay la hét, nhưng giọng điệu của sơ cho thấy rõ ràng sơ là người nắm quyền, dù là dạy chúng tôi học thuộc lòng bảng cửu chương (bằng cách đọc đi đọc lại vô tận) hay dạy chúng tôi đọc Kinh Lạy Cha đúng cách (nhấn mạnh vào âm tiết đầu tiên của từ "trespass", một thói quen tôi vẫn giữ đến ngày nay).

Chính Sơ Florence là người bắt gặp tôi lén lút đi lên lối đi bên cạnh vì tôi không thể đọc được bài tập về nhà trên bảng từ hàng ghế cuối cùng – và nhờ đó phát hiện ra tật cận thị dẫn đến việc tôi phải đeo kính lần đầu tiên. Chính Sơ Florence đã khuyến khích niềm đam mê lịch sử chớm nở của tôi và lấy trộm một bản sao bài kiểm tra về Thế chiến II của lớp tám để tôi có thể so tài kiến thức với những người lớn tuổi hơn và giỏi hơn mình. (Tôi vẫn còn nhớ mùi mực ướt ngọt ngào từ những chiếc máy photocopy Ditto cũ kỹ đó.) Và chính Sơ Florence, một người từng bán bách khoa toàn thư vào mùa hè, đã thuyết phục cha mẹ tôi mua bộ bách khoa toàn thư World Book gồm mười chín tập, mà tôi đã say mê khám phá trong nhiều năm với niềm vui sướng tột cùng và phải chia tay một cách miễn cưỡng nhất sau khi cha mẹ tôi qua đời.

Rất lâu sau khi sơ trở thành Sơ Miriam Jude, vợ chồng tôi tình cờ gặp lại sơ trong một buổi họp mặt cựu sinh viên tại Đại học Notre Dame ở Maryland, nơi vào một buổi tối mùa hè, chúng tôi cùng nhau thưởng thức cua hấp và ôn lại những kỷ niệm. Sơ đã về với Chúa từ lâu, nhưng tôi nhớ đến sơ khi đọc Tuyên bố Front Royal gần đây, một sự tái khẳng định bảy nguyên tắc kinh điển của giáo dục tiểu học và trung học Công Giáo và một bản tuyên ngôn cải cách mà tôi nghĩ Sơ Miriam Jude sẽ tán thành. Và các giám mục, trong cuộc họp năm 1884 tại Nhà thờ Cổ Baltimore, vương cung thánh đường mà tôi có rất nhiều kỷ niệm đẹp, cũng sẽ tán thành, khi các ngài ban hành quy định thành lập trường học Công Giáo ở mọi giáo xứ tại Hoa Kỳ.

Điều đó không thể thực hiện được ngày nay. Nhưng các trường Công Giáo mà chúng ta có phải giữ vững bản sắc Công Giáo một cách chân thành và không hề e ngại, truyền bá đức tin và truyền thống văn minh phương Tây vĩ đại trong nghệ thuật và khoa học, vì lợi ích của những tâm hồn trẻ thơ và sự đổi mới văn hóa dân tộc của chúng ta. Hãy bắt đầu năm học mới một cách tốt đẹp bằng cách chia sẻ tuyên bố này với các linh mục quản xứ và hiệu trưởng của mọi trường Công Giáo mà bạn có liên hệ.


Source:First Things