
Riley M. Moore, Dân Biểu Quốc Hội, trong bản tin ngày 2 tháng 8 năm 2026 của tạp chí First Things, nhận định rằng: Nước Mỹ là một quốc gia Ki-tô giáo. Điều đó đã đúng ngay từ khi thành lập, và bất chấp những cuộc tấn công ngày càng gia tăng vào thực tại này, nền tảng lập quốc của chúng ta không thể được hiểu nếu tách rời khỏi đức tin đã thúc đẩy nó.
Hôm nay, chúng ta kỷ niệm một ngày làm sáng tỏ di sản Ki-tô giáo của chúng ta. Đại hội Lục địa lần thứ hai đã thông qua văn bản cuối cùng của Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, nhưng phải đến ngày 2 tháng 8 năm 1776, các vị Cha lập quốc của chúng ta mới tập hợp tại Hội trường Độc lập để ký vào văn kiện và chính thức cam kết “cuộc sống, tài sản và danh dự thánh thiêng của chúng ta” cho sự nghiệp chủ quyền của nước Mỹ.
Đây không phải là một nỗ lực của Thời kỳ Khai sáng. Đó là một nỗ lực mang đậm tính Ki-tô giáo. Khi các vị Cha lập quốc lần lượt tiến đến bàn, họ hiểu rằng mình đang lập giao ước trước mặt Thiên Chúa. Nghi lễ này có thể bắt nguồn từ con tàu Mayflower, khi những người đàn ông trên tàu mỗi người ký tên và hứa sẽ “một cách long trọng và cùng nhau, trước sự hiện diện của Thiên Chúa và lẫn nhau, lập giao ước và kết hợp với nhau thành một Cơ thể Chính trị [Body Politick] dân sự”.
Nghi lễ lập quốc tương tự đã được lặp lại ở vô số thị trấn vùng New England. Nguồn gốc của nó có thể được truy tìm đến giao ước Mô-sê của Israel cổ đại – một dân tộc được giải thoát khỏi áp bức, được đưa qua biển cả, dẫn vào vùng hoang địa, và được định sẵn cho sự vĩ đại nếu họ trung thành với Thiên Chúa. Truyền thống Kinh thánh đó là cách mà các nhà lập quốc của chúng ta hiểu về quốc gia mà họ đã thề trung thành với.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một loạt các tiếng nói đã tìm cách thuyết phục người Mỹ rằng đất nước chúng ta chưa bao giờ là một quốc gia Ki-tô giáo.
Quan điểm này nhận được sự ủng hộ từ khắp các phe phái chính trị và tôn giáo. Những người theo chủ nghĩa tiến bộ và những người vô thần đã viết cả những cuốn sách để lập luận rằng nền tảng lập quốc của chúng ta không những thiếu ảnh hưởng của Ki-tô giáo mà còn hoàn toàn trái ngược với đức tin Ki-tô giáo. Gần đây hơn, một nhà báo tại MS NOW đã nhân dịp kỷ niệm 250 năm thành lập nước Mỹ để lập luận rằng quốc gia chúng ta “chưa bao giờ được hiến dâng cho Thiên Chúa”. Những lập luận tương tự cũng xuất hiện ở phe cánh hữu. Cuối tháng trước trên chương trình Firing Line, Thẩm phán Neil Gorsuch lập luận rằng nước Mỹ là một quốc gia dựa trên niềm tin [creedal], tách rời khỏi tôn giáo và chỉ dựa trên ý tưởng.
Cả cánh hữu và cánh tả đều lập luận rằng, bởi vì các nhà lập quốc của chúng ta xuất thân từ các truyền thống Kitô giáo khác nhau và từ chối thành lập một giáo hội quốc gia, nên nước Mỹ được hiểu đúng đắn là một bức tranh đa nguyên gồm nhiều tín ngưỡng khác nhau được truyền cảm hứng từ chủ nghĩa duy lý Khai sáng. Họ dựa vào cụm từ “tách biệt nhà nước và giáo hội”, một cụm từ chưa từng xuất hiện trong Tuyên ngôn Độc lập hay Hiến pháp.
Điều này, tất nhiên, là vô lý. Khi viết về “tách biệt nhà nước và giáo hội” trong một bức thư riêng, Thomas Jefferson lập luận rằng nhà nước nên tránh can thiệp vào công việc của Giáo hội, chứ không phải ngược lại. Nhà nước không bao giờ có thể thoát khỏi ảnh hưởng của Giáo hội, bởi vì những người đã tạo nên nền tảng của quốc gia chúng ta và nắm giữ các chức vụ cao trong chính quyền đều thấm nhuần một nền văn minh Kitô giáo sâu sắc. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm đọc các văn kiện lập quốc của chúng ta như thể chúng tồn tại tách biệt khỏi di sản Kitô giáo đó không chỉ sai lầm mà còn gây nguy hiểm cho nền cộng hòa của chúng ta.
Nước Mỹ không phải là một ý tưởng. Đó là một giao ước, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và hoàn toàn phụ thuộc vào ân điển của Chúa. Việc truyền lại giao ước đó cho các thế hệ tương lai cần nhiều hơn là chỉ giữ gìn Tuyên ngôn Độc lập dưới lớp kính tại Cục Lưu trữ Quốc gia. Chúng ta phải nuôi dạy những thanh niên và thiếu nữ thấm nhuần truyền thống Ki-tô giáo của nước Mỹ và sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời, tài sản và danh dự thiêng liêng của mình.
Điều này có nghĩa là phải dạy họ về lịch sử Ki-tô giáo của chúng ta một cách không hề do dự.
Nhiều người đã quên rằng vào sáng ngày 7 tháng 9 năm 1774, Đại hội Lục địa lần thứ nhất đã khai mạc với việc Mục sư Jacob Duché đọc Thánh vịnh 35 cho các đại biểu tham dự. Tương tự, các trường học của chúng ta không còn dạy rằng, vài tháng sau đó, chính Đại hội này đã tuyên bố một cuộc tuyệt thực trên toàn lục địa và hình dung, theo lời của John Adams, hàng triệu người Mỹ “quỳ gối trước Đấng Tạo Hóa vĩ đại của họ, cầu xin sự tha thứ và phước lành của Người, nụ cười của Người trên các hội đồng và vũ khí của người Mỹ.”
Kitô giáo quan trọng đến nỗi các vị sáng lập của chúng ta đã chỉ thị cho Ủy ban Thương mại mua 20,000 cuốn Kinh Thánh từ “Scotland, Hà Lan, hoặc những nơi khác” khi chiến tranh với Anh làm gián đoạn nguồn cung Kinh Thánh. Tổng thống thứ bảy của chúng ta, Andrew Jackson, đã gọi Kinh Thánh là “tảng đá mà nền Cộng hòa của chúng ta dựa trên đó”.
Ngay cả hầu hết người Công Giáo Mỹ cũng không biết rằng Charles Carroll—người Công Giáo duy nhất ký Tuyên ngôn Độc lập—cũng là người giàu nhất trong số những người ký tên và do đó có nhiều thứ để mất nhất khi thế chấp “gia sản” của mình. Tuy nhiên, ông rất tự hào khi ký Tuyên ngôn Độc lập đến nỗi ông đã ghi cả gia sản của mình vào chữ ký để Vua George III biết nơi tìm ông.
Lịch sử Kitô giáo này rất quan trọng vì nó tiếp tục ảnh hưởng đến đất nước chúng ta, từ thời kỳ lập quốc cho đến tận ngày nay.
Ví dụ, kể từ lời cầu nguyện của Duché trước Đại hội Lục địa lần thứ nhất, mọi kỳ họp của Quốc hội—cho đến và bao gồm cả Quốc hội khóa 119 mà tôi tự hào đang phục vụ—đều bắt đầu bằng lời cầu nguyện.
Năm 1982, Quốc hội đã thông qua một nghị quyết lấy năm 1983 làm “Năm của Kinh Thánh” quốc gia. Luật này, được Tổng thống Reagan ký, đã trích dẫn tuyên bố của Andrew Jackson rằng Kinh Thánh là “tảng đá mà nền Cộng hòa của chúng ta dựa trên đó” và còn đi xa hơn, tuyên bố rằng “những lời dạy trong Kinh Thánh đã truyền cảm hứng cho các khái niệm về chính phủ dân sự được chứa đựng trong Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ”.
Và thông qua Hiệp sĩ Columbus, người Công Giáo đã đóng một vai trò then chốt trong việc thuyết phục Tổng thống Dwight Eisenhower thêm cụm từ “dưới sự che chở của Thiên Chúa” vào Lời tuyên thệ trung thành của Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 6 năm 1954. Ngày hôm đó, Eisenhower tuyên bố:
"Từ ngày này trở đi, hàng triệu học sinh của chúng ta sẽ hằng ngày tuyên xưng tại mọi thành phố và thị trấn, mọi làng mạc và trường học nông thôn, sự tận hiến của quốc gia và nhân dân ta cho Đấng Toàn năng.... Bằng cách này, chúng ta đang khẳng định lại tầm quan trọng vượt trội của đức tin tôn giáo trong di sản và tương lai của nước Mỹ; bằng cách này, chúng ta sẽ không ngừng củng cố những vũ khí tinh thần mà mãi mãi sẽ là nguồn lực mạnh mẽ nhất của đất nước chúng ta, trong hòa bình hay chiến tranh".
Còn nhiều ví dụ khác nữa, và mỗi ví dụ đều dẫn đến cùng một kết luận: “Hiến pháp của chúng ta,” như John Adams đã từng tuyên bố nổi tiếng, “chỉ được lập ra cho một dân tộc có đạo đức và tôn giáo” và “hoàn toàn không phù hợp để cai trị bất cứ dân tộc nào khác.”
Đây là lý do tại sao chúng ta không thể để những tuyên bố cho rằng nước Mỹ không phải là một quốc gia Kitô giáo không bị phản bác. Đây là lý do tại sao chúng ta phải bác bỏ quan niệm rằng nước Mỹ chỉ đơn thuần là một ý tưởng. Và đó là lý do tại sao chúng ta nên ghi nhớ và kỷ niệm 250 năm ngày ký Tuyên ngôn Độc lập và sự ra đời của giao ước Mỹ.
Giữ vững giao ước này không hề dễ dàng. Trong thư gửi John Adams chỉ ba mươi lăm năm sau khi Tuyên ngôn Độc lập được ký kết, Benjamin Rush than thở rằng nhiều người đã quên mất “sự lo lắng, lao động, nỗi sợ hãi, nỗi buồn và những đêm không ngủ của những người đã dự định, đề xuất, bảo vệ và ký tên vào bản tuyên ngôn độc lập”.
Hai trăm năm mươi năm sau, chúng ta không được mắc phải sai lầm tương tự. Chúng ta phải nhớ rằng nước Mỹ là, và phải luôn là, một quốc gia Ki-tô giáo.