1. Các giám mục Việt Nam nói với Đức Giáo Hoàng Lêô rằng Giáo hội của các ngài là một gia đình.

Trong khuôn khổ chuyến thăm ad limina tới Vatican, các giám mục Việt Nam đã có cuộc gặp với Đức Giáo Hoàng Lêô, và Giám mục Đa Minh Nguyễn Tuấn Anh mô tả cuộc gặp gỡ này là thân ái và chân thành.

Trở lại Vatican sau chuyến Tông du 11 ngày tới bốn quốc gia Phi Châu, lịch trình của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tại Rôma lập tức được tiếp tục. Sáng hôm sau khi trở về từ Guinea Xích đạo, ngài đã tiếp đón các giám mục Việt Nam trong chuyến thăm ad limina của các ngài.

Chuyến thăm “ad limina Apostolorum”, do các giám mục hiệp thông với Tòa Thánh thực hiện, nhằm mục đích củng cố trách nhiệm của họ với tư cách là người kế vị các Tông đồ và sự hiệp thông phẩm trật của các ngài với Người kế vị Thánh Phêrô. Tập trung vào việc cầu nguyện tại các lăng mộ của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, chuyến thăm này cũng là một thời điểm quan trọng trong sứ vụ của Đức Giáo Hoàng, trong đó Ngài gặp gỡ các giám mục để thảo luận về các vấn đề liên quan đến sứ mệnh Giáo hội của họ.

Sau buổi tiếp kiến Đức Giáo Hoàng, Đức Cha Đa Minh Nguyễn Tuấn Anh của Giáo phận Xuân Lộc đã mô tả cuộc gặp gỡ là thân ái, nói rằng ngay cả “sau một hành trình dài đến Phi Châu, Đức Giáo Hoàng vẫn dành thời gian sáng nay để gặp gỡ chúng tôi bằng cả tấm lòng”.

Với khoảng 7 triệu tín hữu Công Giáo, Việt Nam là cộng đồng Công Giáo lớn thứ năm ở Á Châu. Đức Cha Nguyễn Tuấn Anh cho biết Đức Giáo Hoàng rất vui mừng khi nghe về Giáo hội địa phương ở Việt Nam, mà ngài mô tả là có “đức tin mạnh mẽ”. Ngài nói thêm rằng trong thế giới ngày càng phát triển dựa trên công nghệ, Giáo hội Việt Nam đang nỗ lực giải đáp những câu hỏi liên quan đến đức tin, trí tuệ nhân tạo và truyền thông đại chúng.

Do đó, Đức Cha Nguyễn Tuấn Anh nhấn mạnh sự cần thiết phải “đoàn kết” để đối mặt với những thách thức hiện đại này.

Sáng nay, các giám mục Việt Nam đã có cuộc gặp với Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trong khuôn khổ chuyến thăm ad limina của họ. Cuộc gặp gỡ đó diễn ra như thế nào, thưa Đức Cha?

Thứ nhất, sau một hành trình dài đến Phi Châu, sáng nay ngài đã dành thời gian gặp gỡ chúng tôi với tấm lòng chân thành. Chúng tôi cảm nhận được điều đó, và ngài cũng đã nói như vậy. Mặc dù hơi mệt, ngài vẫn rất vui mừng và hạnh phúc khi được gặp chúng tôi và nghe về Giáo hội Việt Nam. Thứ hai, cách ngài giao tiếp với chúng tôi rất thân ái.

Ngài quả thật là Người kế vị Thánh Phêrô, và chúng tôi là những người kế vị các tông đồ. Bầu không khí sáng nay thật ấm cúng, như một gia đình của Giáo hội. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm góp phần tạo nên sự hiệp nhất và hiệp thông trong Giáo hội. Chúng ta thực sự cảm thấy mình đang hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, Tòa Thánh và Giáo hội Hoàn vũ. Giáo hội Việt Nam là một gia đình, và trong văn hóa của chúng ta, gia đình rất quan trọng.

Giáo hội cũng đã được ban phước lành bởi ân sủng của Chúa và bởi máu của các vị tử đạo.

Tình hình Giáo hội Việt Nam hiện nay như thế nào, thưa Đức Cha?

Tôi nghĩ trong Giáo hội, chúng ta luôn cần sự đóng góp và hiệp nhất của tất cả mọi người: các giám mục, linh mục, giáo dân và tu sĩ. Chúng tôi được trân trọng vì đức tin mạnh mẽ. Nhưng chúng tôi cũng phải đối mặt với tất cả những thách thức như mọi người khác, đặc biệt là hiện nay với trí tuệ nhân tạo và truyền thông đại chúng. Vì vậy, chúng tôi cần đoàn kết; chúng tôi cần thống nhất, và với ân sủng của Chúa, chúng tôi có thể đối mặt với thách thức này trên con đường đức tin, trên con đường hy vọng.


Source:Vatican News

2. Tổng thống Mỹ và Đức Giáo Hoàng không phải lúc nào cũng đồng quan điểm, nhưng chưa bao giờ lại như thế này.

Trước những căng thẳng gần đây liên quan đến việc Tổng thống Trump và Phó tổng thống Mỹ James David Vance liên tục tấn công Đức Thánh Cha Lêô XIV, xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch toàn văn bài nhận định của tờ National Catholic Register sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh

Năm 1867, Quốc hội Hoa Kỳ chấm dứt quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh vì những báo cáo sai lệch cho rằng chính quyền thành quốc Vatican đã hạn chế các nghi lễ Tin lành của người Mỹ tại Rôma. Một số thành viên Quốc hội đã chỉ trích Đức Giáo Hoàng, và cả đạo Công Giáo nói chung, trong các cuộc tranh luận tại Quốc Hội.

Peter Loge, phó giáo sư tại Trường Truyền thông và Quan hệ Công chúng thuộc Đại học George Washington, cho biết báo cáo năm 1867 được tung ra bởi một nhóm Tin lành cực đoan tin rằng sự hiện diện của người Công Giáo trên đất Mỹ phải được coi là bất hợp pháp.

Ông nói: “Nước Mỹ được thành lập một phần bởi những người chạy trốn khỏi sự đàn áp tôn giáo, sau đó chính những người này lại đi đàn áp những người khác, bao gồm cả người Công Giáo. Một số người ủng hộ Tổng thống Trump hiện nay muốn quay trở lại thời kỳ đó”.

Loge nói với Crux Now rằng nhiều người theo đạo Tin Lành ủng hộ tổng thống “vì họ tin vào một chế độ thần quyền Kitô giáo hơn là một nền đa nguyên dân chủ đặt niềm tin công dân bên cạnh niềm tin cá nhân”.

Cho đến nay biến cố 1867 vẫn được coi là sự rạn nứt lớn nhất trong quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Hoa Kỳ.

Những lời chỉ trích gần đây của Tổng thống Trump đối với Giáo hoàng Lêô XIV vẫn chưa đến mức gay go đó.

Nhưng tính chất công kích cá nhân ban đầu của Tổng thống Trump nhằm vào Đức Giáo Hoàng Lêô trên mạng xã hội (“YẾU KÉM trong việc chống tội phạm”; “tệ hại cho chính sách đối ngoại”; “cho rằng Iran có vũ khí hạt nhân là được”; “làm tổn hại đến Giáo Hội Công Giáo”) hồi đầu tuần này và những tuyên bố tiếp theo của tổng thống là điều chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ. Hầu hết các quan chức Mỹ đều thể hiện sự tôn trọng đối với Đức Giáo Hoàng ngay cả khi họ không đồng ý với ông.

Cha James Garneau, một nhà sử học và tác giả của bài báo học thuật có tựa đề “Tổng thống và Giáo hoàng, đối mặt: Từ Bênêđíctô XV đến Gioan Phaolô Đệ Nhị”, được xuất bản trên tạp chí US Catholic Historian năm 2008, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với tờ Register rằng, mặc dù các tổng thống và giáo hoàng đã có những bất đồng, nhưng một số tranh chấp đó chỉ là “những điểm nhỏ về nghi thức”.

“Tổng thống Trump là trường hợp đặc biệt. Ông ấy là tổng thống đầu tiên công khai bày tỏ sự tức giận của mình đối với Đức Giáo Hoàng,” CJ Doyle, giám đốc điều hành của Liên đoàn Hành động Công Giáo Massachusetts, nói với tờ Register.

Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 21, rất khó để tìm thấy những căng thẳng công khai trong mối quan hệ giữa hai nguyên thủ quốc gia.

Vào tháng 4 năm 1910, Theodore Roosevelt đã đồng ý gặp Đức Giáo Hoàng Piô X tại Rôma trong một chuyến công du nước ngoài, nhưng đã hủy bỏ cuộc gặp khi Hồng Y Rafael Merry del Val, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, khăng khăng yêu cầu cựu tổng thống hứa không gặp gỡ phái đoàn Tin Lành tại đó, theo cuốn sách “Theodore Roosevelt: The Logic of His Career” năm 1916 của Charles G. Washburn. Các quan chức Vatican cho biết phái đoàn Tin Lành đã từng có những lời công kích “ác độc” nhằm vào Đức Giáo Hoàng trong quá khứ và việc gặp gỡ các thành viên của phái đoàn này khi ở Rôma sẽ là một sự xúc phạm đối với Giáo hoàng.

Tổng thống Roosevelt đã đưa ra một tuyên bố công khai nói rằng ông không thể chấp nhận việc bị hạn chế gặp gỡ với những người Mỹ đồng hương. Ông không chỉ trích Đức Giáo Hoàng hay thậm chí nhắc đến ngài, nhưng trong tuyên bố bằng văn bản, ông nói: “Trong số những người bạn tốt nhất và thân thiết nhất của tôi có rất nhiều người Công Giáo.”

Trong một bức thư riêng gửi cho một đồng nghiệp chính trị (không được công bố vào thời điểm đó), Roosevelt mô tả hành động của Vatican là “quá đáng”, nhưng cũng cho biết sau đó ông đã hủy cuộc gặp với các tín hữu Giáo hội Giám lý ở Rôma khi họ “ngay lập tức đưa ra một bài phát biểu đầy hân hoan mà chỉ có thể gọi là thô tục”. Ông mô tả sự việc là “một cuộc tranh cãi tế nhị”.

Tháng Giêng năm 1919, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 XV đã thúc giục và đạt được cuộc gặp với Tổng thống Woodrow Wilson để thảo luận về các thỏa thuận hòa bình sau Thế chiến I trong khi Wilson đang thăm Rôma. Đây là lần đầu tiên một vị giáo hoàng đương nhiệm gặp gỡ một tổng thống đương nhiệm của Hoa Kỳ. Cuộc gặp này là một lợi thế cho Đức Giáo Hoàng, người đã bị loại khỏi các cuộc đàm phán hòa bình tại Versailles vì Wilson đang ở vị thế cao hơn với tư cách là người chiến thắng và người được tường trình người kiến tạo hòa bình.

Wilson không nhìn nhận vấn đề theo cách đó. Trước cuộc gặp, theo cuốn sách “Cuộc chiến của ông Wilson” năm 1962 của John Dos Passos, Wilson “đã bị dày vò bởi viễn cảnh phải đến gặp Đức Giáo Hoàng”.

“ Tất cả những nỗi bức xúc của vị Tổng thống theo đạo Tin Lành đều nổi lên khi nghĩ đến điều đó,” Dos Passos viết.

Các tuyên bố chính thức được đưa ra sau đó mô tả cuộc gặp gỡ diễn ra thân mật. Nhưng Wilson vẫn nhất quyết gặp gỡ phái đoàn Tin Lành ở Rôma sau đó với khoảng thời gian tương tự, có lẽ vì lo ngại về vụ việc liên quan đến Roosevelt.

Chiến tranh chia rẽ các tổng thống và giáo hoàng.

Các đời tổng thống sau này thường xem Đức Giáo Hoàng như một nguồn thông tin và ảnh hưởng quốc tế, cũng như một yếu tố tiềm năng giúp tăng cường sự ủng hộ trong nước, như tờ Register đã đưa tin vào tháng 4 năm 2025.

Tổng thống Franklin Roosevelt đã tìm cách liên lạc với Đức Giáo Hoàng Piô XII trong Thế chiến II, sử dụng Đức Tổng Giám Mục Francis Spellman của New York lúc bấy giờ làm trung gian và thiết lập một “đại diện cá nhân” tại Rôma thay cho quan hệ ngoại giao chính thức, là điều không thể thực hiện được do ảnh hưởng của trào lưu bài Công Giáo ở Mỹ.

Tòa thánh đã âm thầm hỗ trợ phe Đồng minh trong Thế chiến II. Đức Giáo Hoàng Piô XII lên án hành động xâm lược và bày tỏ sự cảm thông với các nạn nhân của nó.

Tuy nhiên, căng thẳng trong quan hệ giữa các giáo hoàng và tổng thống đôi khi đã nảy sinh do các cuộc chiến tranh sau đó của Mỹ, mà các giáo hoàng phản đối vì lợi ích hòa bình.

Ví dụ, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục phản đối chiến tranh Việt Nam, và vào tháng 10 năm 1965, ngài đã có bài phát biểu ủng hộ hòa bình (“không bao giờ chiến tranh nữa!”) tại Liên Hiệp Quốc ở New York. Tổng thống Lyndon Johnson, người đã ban hành và leo thang chiến tranh Việt Nam, đã thúc ép và được chấp thuận một cuộc gặp với Đức Giáo Hoàng trên tầng 35 của khách sạn Waldorf Astoria khi Đức Phaolô Đệ Lục đang ở thành phố này.

Hai người cũng gặp nhau vào tháng 12 năm 1967 tại Rôma. Mặc dù bất đồng về chiến tranh, nhưng những tuyên bố công khai của Johnson cho thấy dường như họ đồng ý về hòa bình. Johnson chưa bao giờ chỉ trích Đức Giáo Hoàng và thường hết lời ca ngợi ngài, từng nói trong một tuyên bố bằng văn bản: “Chúng tôi sẽ giữ liên lạc chặt chẽ với Đức Thánh Cha trong những ngày sắp tới.”

Tháng 3 năm 2003, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã công khai và nhiều lần lên tiếng phản đối kế hoạch xâm lược Iraq của Tổng thống George W. Bush. Ngài cũng cử một phái viên đến Tòa Bạch Ốc để gọi cuộc chiến sắp diễn ra là “bất công và bất hợp pháp”.

Đáp lại, Tổng thống Bush đã gặp riêng đặc phái viên của Giáo hoàng, và các quan chức chính quyền nhấn mạnh sự tôn trọng đối với Giáo hoàng đồng thời gọi cuộc chiến là cần thiết.

Một số bài báo tường thuật về cuộc gặp giữa Hồng Y Pio Laghi và Tổng thống Bush vào tháng 3 năm 2003 trước khi Chiến tranh Iraq lần thứ hai nổ ra mô tả cuộc gặp này là căng thẳng.

“Nhưng không có gì đạt đến mức độ gay gắt như chúng ta đã thấy với Tổng thống Trump. Đó là một đường lối rất khác,” tác giả và nhà sử học Matthew Bunson, phó chủ tịch kiêm giám đốc biên tập của EWTN News, đơn vị bao gồm tờ Register, cho biết.

“Điều đó cho thấy chính quyền Bush nhận thức được vị thế đạo đức của Đức Giáo Hoàng, và cũng cho thấy ngài hành động theo lương tâm và những gì ngài coi là bổn phận của mình,” Bunson nói.

“Tổng thống Trump không nhận ra điều đó,” ông ấy nói thêm.

Trong suốt nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Trump đã chỉ trích hàng trăm người trên mạng xã hội, có những người ông ta nguyền rủa gần như hàng ngày như Thủ tướng Anh Keir Starmer, vậy điều gì khiến vụ việc này khác biệt?

Thứ nhất, Giáo hoàng thuộc một phạm trù khác.

Xét về mặt chính trị thời điểm hiện tại, tính đến tháng trước, Đức Giáo Hoàng Lêô có tỷ lệ ủng hộ tại Hoa Kỳ là +34 điểm phần trăm (42% so với 8%), trong khi Tổng thống Trump có tỷ lệ ủng hộ là -12 điểm phần trăm (44% so với 56%), theo một cuộc thăm dò của NBC được công bố vào đầu tháng 3 năm 2026, trước khi xảy ra cuộc xung đột gần đây giữa hai người.

Chính sách đối với Iran của Tổng thống Trump cũng đang gặp khó khăn. Một số cuộc thăm dò gần đây cho thấy phần lớn người Mỹ (với chênh lệch 19 điểm phần trăm, theo nghiên cứu của Pew Research vào giữa tháng 3) phản đối cuộc chiến tranh Iran, là điều mà một cuộc thăm dò được công bố tuần trước cho thấy đã góp phần làm giảm tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Trump trong cộng đồng người Công Giáo.

Nhưng quan trọng hơn, theo các chuyên gia được tờ Register tham khảo ý kiến, Đức Giáo Hoàng Lêô tỏ ra là người nói năng nhỏ nhẹ, thận trọng và hướng đến những mối quan tâm siêu nhiên, từ chối tranh luận với Tổng thống Trump hoặc đưa ra những lời chỉ trích cá nhân. Trong khi Tổng thống Trump nhìn nhận cuộc tranh chấp dưới góc độ chính trị thì Đức Giáo Hoàng Lêô lại nhìn nhận nó “từ vai trò là một người chăn chiên và mục tử toàn cầu”.

Ngoài ra, trong khi việc Đức Giáo Hoàng Lêô công khai phản đối cuộc chiến tranh Iran tiếp nối truyền thống của các vị giáo hoàng tiền nhiệm, thì phản ứng của Tổng thống Trump đối với Đức Giáo Hoàng lại không theo truyền thống của các tổng thống tiền nhiệm.

“Cũng như mọi việc liên quan đến Tổng thống Trump, điều này khác biệt vì ông ấy từ chối tuân theo các quy tắc ngoại giao hoặc giao tiếp thông thường,” Karen Park, một nhà sử học về Công Giáo Mỹ, cho biết qua email.

Trong khi các vị tổng thống tiền nhiệm, những người bất đồng quan điểm với Giáo hoàng, đã phớt lờ ngài, nhưng họ không xúc phạm ngài.

“Đúng vậy, đây là điều chưa từng có tiền lệ vì Tổng thống Trump đã công khai và tấn công cá nhân Giáo hoàng. Đó là điều ông ta thường làm”, Park nói.

Ông Park nói với tờ Register rằng Tổng thống Trump “thực sự không có đòn bẩy nào đối với” Đức Giáo Hoàng Lêô vì “họ không nói cùng một ngôn ngữ” — trong khi Tổng thống Trump nói về quyền lực, chính trị và cá tính, thì Đức Lêô nói về các nguyên tắc tôn giáo.

“Điều đang xảy ra hiện nay là một tổng thống từng nắm giữ gần như toàn bộ quyền lực không còn có thể chi phối được vị giáo hoàng này bởi vì giáo hoàng hoạt động ở một phạm trù khác. Ngài vừa là nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo vừa là đại diện của Chúa Kitô, nhưng cũng được định hướng bởi truyền thống — kinh thánh và thần học. Ngài không đưa ra ý kiến cá nhân, mà đang rao giảng Phúc Âm,” ông Park nói.

Cuộc xung đột này gây khó chịu cho Tổng thống Trump một phần vì vị thế đặc biệt của Đức Giáo Hoàng Lêô, người Mỹ đầu tiên lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo.

“Tổng thống Trump rất ý thức được tầm ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng Lêô đối với đời sống chính trị và văn hóa Mỹ”.

“Điều đó làm tăng thêm mức độ phức tạp, nhưng đồng thời cũng tạo ra mong muốn giành được sự ủng hộ của ngài, hoặc phàn nàn khi không nhận được sự ủng hộ đó”

Dù những lời lẽ của Tổng thống Trump đôi khi rất sắc bén, vẫn chưa rõ liệu sự cay đắng này sẽ kéo dài bao lâu.

Tháng 2 năm 2016, khi Tổng thống Trump lần đầu tiên tranh cử tổng thống, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mô tả đề xuất xây tường biên giới của Tổng thống Trump là “phi Kitô giáo”. Tháng 9 năm 2024, Đức Giáo Hoàng Phanxicô chỉ trích lời kêu gọi trục xuất người nhập cư của Tổng thống Trump là “trái với sự sống”, và Tháng Giêng năm 2025, ngài gọi các cuộc truy quét người nhập cư mà Tổng thống Trump lên kế hoạch là “một sự ô nhục”.

Khi còn là ứng cử viên, vào tháng 2 năm 2016, Tổng thống Trump đã gọi Đức Thánh Cha Phanxicô là “quân cờ” và nói rằng việc Đức Thánh Cha Phanxicô nghi ngờ đức tin tôn giáo của ông là “đáng hổ thẹn”.

Nhưng khi lên chức tổng thống, Tổng thống Trump đã thay đổi giọng điệu. Ông gọi cuộc gặp với Đức Giáo Hoàng ở Rôma vào tháng 5 năm 2017 là “vinh dự cả đời”, và khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô qua đời vào tháng 4 năm 2025, ông đã đến dự tang lễ của ngài, gọi ngài là “một người tốt” người “làm việc rất chăm chỉ” và “yêu thương thế giới”.

Những ngày gần đây, Tổng thống Trump đã từ chối xin lỗi về những bình luận của mình về Đức Giáo Hoàng Lêô — “Không có gì phải xin lỗi cả. Ông ấy đã sai”, Tổng thống Trump nói với các phóng viên hôm thứ Hai.

Nhưng giọng điệu của Tổng thống Trump đã chuyển sang hướng tranh luận thay vì công kích cá nhân.

“Iran không thể sở hữu vũ khí hạt nhân. Nếu họ có, mọi quốc gia, kể cả Ý, nơi ông ấy đang đóng đô mọi quốc gia trên thế giới đều sẽ gặp rắc rối”, Tổng thống Trump nói trong một cuộc họp báo hôm thứ Năm.

“Tôi không có ác cảm gì với Giáo hoàng cả,” Tổng thống Trump nói sau đó trong cuộc họp báo. Trong một cử chỉ rõ rệt là bài bác Vance, người cho rằng Đức Giáo Hoàng không nên đề cập đến vấn đề chính trị, Tổng thống Trump nói một lúc sau đó rằng “Đức Giáo Hoàng có thể nói bất cứ điều gì ngài muốn,” “Và tôi muốn ngài nói những gì ngài muốn. Nhưng tôi có thể không đồng ý.”


Source:National Catholic Register

3. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, trở về từ Phi Châu: ‘Tôi lên án mọi hành động bất công’

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã thẳng thắn nói về chiến tranh, di cư, việc chúc phúc cho các cặp đôi đồng tính và mối quan hệ của Tòa Thánh với các chính phủ độc tài trong một cuộc họp báo trên máy bay kéo dài khoảng 20 phút với các nhà báo đi cùng ngài từ Malabo, Guinea Xích đạo, đến Rôma sau chuyến tông du đến Phi Châu.

Trước khi trả lời câu hỏi, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng mục đích chính của một chuyến đi của Đức Giáo Hoàng là mục vụ chứ không phải chính trị.

“Khi tôi thực hiện một chuyến đi — nói cho chính bản thân tôi, nhưng hôm nay với tư cách là Giáo hoàng, Giám mục của Rôma — đặc biệt là một chuyến đi tông đồ, mục vụ, đó là để tìm kiếm, đồng hành và hiểu biết dân Chúa,” ngài nói.

Ngài nói thêm rằng những chuyến đi như vậy trước hết nên được hiểu là “một biểu thức nói lên lòng mong muốn loan báo Tin Mừng, rao truyền sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô”, và là một cách “để đến gần mọi người trong niềm hạnh phúc, trong chiều sâu đức tin, nhưng cũng trong nỗi đau khổ của họ”.

Khi được hỏi về tình trạng hỗn loạn của các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt cuộc xung đột liên quan đến Iran, Israel và Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng kêu gọi một tư duy mới bắt nguồn từ hòa bình hơn là bạo lực.

“Chắc chắn, tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng chúng ta cần thúc đẩy một thái độ mới, một nền văn hóa hòa bình”, ngài nói. “Nhiều lần khi chúng ta đánh giá một số tình huống nhất định, phản ứng tức thì là chúng ta phải can thiệp bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng cách tấn công, và chúng ta đã thấy rằng nhiều người vô tội đã chết”.

Đức Giáo Hoàng Lêô nói rằng câu hỏi then chốt không chỉ đơn giản là liệu một chế độ có nên thay đổi hay không mà là làm thế nào để bảo vệ các giá trị quan trọng mà không gây thêm thương vong cho những người vô tội.

“Thay đổi chế độ hay không thay đổi chế độ, câu hỏi là làm thế nào để thúc đẩy các giá trị mà chúng ta tin tưởng mà không gây ra cái chết của quá nhiều người vô tội”, ngài nói.

Mô tả tình hình là “rất phức tạp”, Đức Giáo Hoàng nói rằng các cuộc đàm phán qua lại đã tạo ra “tình trạng hỗn loạn và nghiêm trọng này đối với nền kinh tế thế giới”, trong khi những người dân vô tội ở Iran đang phải chịu đựng vì chiến tranh.

“Thay vào đó, tôi khuyến khích việc tiếp tục đối thoại vì hòa bình”, ngài nói. “Với tư cách là Giáo hội, tôi xin nhắc lại, và với tư cách là một mục tử, tôi không thể ủng hộ chiến tranh, và tôi muốn khuyến khích mọi người nỗ lực hết sức để tìm kiếm những giải pháp xuất phát từ văn hóa hòa bình chứ không phải thù hận.”

Sau đó trong cuộc trao đổi, trả lời câu hỏi về các vụ hành quyết được báo cáo của chế độ Iran, Đức Giáo Hoàng đã đưa ra lời lên án dứt khoát.

“Tôi lên án tất cả các hành động bất công, tôi lên án việc tước đoạt mạng sống của con người. Tôi lên án án tử hình”, Đức Giáo Hoàng Lêô nói. “Tôi tin rằng mạng sống con người cần được tôn trọng, và tất cả mọi người từ khi thụ thai đến khi sinh ra, cuộc sống của họ cần được tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy, khi một chế độ, khi một quốc gia, đưa ra những quyết định tước đoạt mạng sống của người khác một cách bất công, thì rõ ràng đó là điều cần phải bị lên án.”

Về vấn đề di cư, một chủ đề quan trọng trước chuyến công du quốc tế tiếp theo của ngài đến Tây Ban Nha, Đức Giáo Hoàng cho biết các chính phủ có quyền điều tiết biên giới của mình nhưng nhấn mạnh rằng các quốc gia giàu có hơn cũng phải giải quyết những nguyên nhân sâu xa khiến người dân phải rời bỏ các quốc gia nghèo hơn.

“Rõ ràng, vấn đề di cư rất phức tạp và ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, không chỉ Tây Ban Nha, không chỉ Âu Châu, mà cả Hoa Kỳ; đó là một hiện tượng toàn cầu,” ngài nói.

Đức Giáo Hoàng Lêô tiếp tục: “Cá nhân tôi tin rằng một quốc gia có quyền thiết lập các quy tắc tại biên giới của mình. Tôi không thích ý tưởng cho rằng mọi người nhập cảnh như thể không có trật tự, và đôi khi tạo ra những tình huống bất công hơn cả những gì họ đã bỏ lại phía sau.”

Đồng thời, ngài kêu gọi các quốc gia giàu có hơn và các tập đoàn đa quốc gia làm nhiều hơn nữa cho các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở Phi Châu.

“Nhưng nói như vậy, tôi hỏi: Chúng ta đang làm gì ở các quốc gia giàu có hơn để thay đổi tình hình ở các quốc gia nghèo hơn?” ngài nói. Nhắc đến Phi Châu, ngài nói thêm rằng đối với nhiều người, Phi Châu được xem là “nơi người ta có thể đến để khai thác khoáng sản, lấy của cải, làm giàu cho người khác ở các quốc gia khác”.

Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng người di cư phải luôn được đối xử với phẩm giá.

“Khi mọi người đến, họ là con người và họ xứng đáng được tôn trọng như mọi con người khác vì phẩm giá con người”, ngài nói. “Chúng ta cần đối xử với con người một cách nhân đạo và không đối xử với họ tệ hơn cả vật nuôi trong nhà, động vật, v.v.”

Một nhà báo người Pháp hỏi Đức Giáo Hoàng Lêô làm thế nào ngài tránh việc tạo cơ sở đạo đức cho những nhà cai trị độc đoán khi gặp gỡ họ trong các chuyến thăm của Giáo hoàng. Đức Giáo Hoàng nói rằng những cuộc gặp gỡ như vậy…Có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng ngài quay lại với mục đích mục vụ của các chuyến đi và sứ mệnh ngoại giao của Tòa Thánh.

“Chắc chắn, sự hiện diện của một vị Giáo hoàng với bất cứ nguyên thủ quốc gia nào cũng có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau,” ngài nói. “Tôi muốn quay lại với điều tôi đã nói trong bài phát biểu ban đầu về tầm quan trọng của việc hiểu mục đích chính của các chuyến đi mà tôi thực hiện, mà Giáo hoàng thực hiện – thăm viếng người dân.”

Ngài cũng bảo vệ sự tham gia ngoại giao liên tục của Vatican ngay cả với các chính phủ khó khăn.

“Chúng tôi không phải lúc nào cũng đưa ra những tuyên bố lớn lao, chỉ trích, phán xét hay lên án,” ngài nói. “Nhưng có rất nhiều công việc diễn ra đằng sau hậu trường để thúc đẩy công lý, để thúc đẩy các mục tiêu nhân đạo.”

Công việc đó, ngài nói, có thể bao gồm các nỗ lực để giải phóng các tù nhân chính trị và ứng phó với nạn đói và bệnh tật. “Vì vậy, Tòa Thánh, bằng cách duy trì sự trung lập, và tìm cách tiếp tục mối quan hệ ngoại giao tích cực với nhiều quốc gia khác nhau, thực chất chúng ta đang cố gắng tìm cách áp dụng Tin Mừng vào các tình huống cụ thể, để cuộc sống của mọi người có thể được cải thiện.”

Khi được hỏi về việc chúc phúc cho các cặp đôi đồng tính sau quyết định của Hồng Y người Đức Reinhard Marx ở Munich và Freising, Đức Giáo Hoàng Lêô nói rằng sự hiệp nhất của Giáo Hội không nên bị thu hẹp lại thành vấn đề đạo đức tình dục.

“Trước hết, tôi nghĩ điều rất quan trọng là phải hiểu rằng sự hiệp nhất hay chia rẽ của Giáo Hội không nên xoay quanh các vấn đề tình dục,” ngài nói. “Chúng ta thường nghĩ rằng khi Giáo Hội nói về đạo đức, thì vấn đề đạo đức duy nhất là vấn đề tình dục, và trên thực tế, tôi tin rằng có nhiều vấn đề lớn hơn và quan trọng hơn, chẳng hạn như công lý, bình đẳng, tự do của nam giới và phụ nữ, tự do tôn giáo, tất cả đều được ưu tiên hơn vấn đề cụ thể đó.”

Đức Đức Lêô nói rằng Tòa Thánh đã làm rõ với các giám mục Đức rằng Tòa Thánh không đồng ý với việc “ban phước lành một cách chính thức cho các cặp đôi”, bao gồm cả các cặp đôi đồng tính hoặc các cặp đôi trong tình trạng không hợp lệ, vượt quá những gì Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cho phép.

Nhắc lại câu nói nổi tiếng của Đức Phanxicô: “Tất cả, tất cả, tất cả”, Đức Đức Lêô nói: “Tất cả đều được chào đón, tất cả đều được mời gọi. Tất cả đều được mời gọi đi theo Chúa Giêsu, và tất cả đều được mời gọi tìm kiếm sự hoán cải trong cuộc sống của mình.”

“Nếu đi xa hơn thế hôm nay, tôi nghĩ rằng chủ đề này có thể gây ra nhiều chia rẽ hơn là hiệp nhất”, ngài nói thêm, “và chúng ta nên tìm cách xây dựng sự hiệp nhất của mình trên Chúa Giêsu Kitô và những gì Chúa Giêsu Kitô dạy.”


Source:National Catholic Register