
Chủ đề Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 60 của Đức Giáo Hoàng Leo XIV nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải giải trừ vũ khí kỹ thuật và khôi phục trách nhiệm chính trị của con người trong một thế giới tự động hóa.
Cha Antonio Spadaro SJ, trong mục Global Catholic của hãng tin UCANews ngày 13 tháng 8 năm 2026, đã nhận định như trên. Cha viết tiếp: Chủ đề mà Leo XIV đã chọn cho Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 60 là “Giải trừ vũ khí kỹ thuật, phục vụ hòa bình: Chính trị như trách nhiệm phòng ngừa”.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã thiết lập ngày này, và nó được cử hành lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 1 năm 1968. Sáu mươi năm sau, đối tượng cần được giải trừ vũ khí lại một lần nữa thay đổi: không còn chỉ là kho vũ khí, cũng không chỉ là những đam mê, mà là bộ máy kỹ thuật đang âm thầm chiếm lĩnh không gian nơi các quyết định được đưa ra.
Sự tiếp nối với Thông điệp năm ngoái — Bình an đến với tất cả: Hướng tới một nền hòa bình không vũ trang và giải trừ vũ khí — là khá rõ ràng, nhưng sự thay đổi về ngữ pháp nói lên nhiều điều hơn hầu hết các bình luận.
Ở đó, "giải trừ vũ khí" là một tính từ gắn liền với hòa bình: phẩm chất của một phong cách, một hình thức nội tại. Ở đây, "giải trừ vũ khí" trở lại như một động từ ngoại động [transitive verb], và nó được gán cho một bổ ngữ [object] cụ thể.
Đó là động từ đã chi phối triều đại giáo hoàng này kể từ ngày 12 tháng 5 năm 2025, khi Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói với các nhà báo, "Hãy giải trừ vũ khí bằng lời nói, và chúng ta sẽ giúp giải trừ vũ khí cho trái đất." Lời nói, rồi trái tim, và giờ là máy móc.
Một hiểu lầm cần được làm rõ ngay từ đầu, vì nó có lẽ là hiểu lầm phổ biến nhất. Vô hiệu hóa kỹ thuật không có nghĩa là vô hiệu hóa con người trước kỹ thuật, cũng không phải là từ chối kỹ thuật.
Thông điệp Magnifica Humanitas đã bác bỏ rõ ràng bất cứ nỗi sợ hãi tê liệt nào đối với cái mới; chính tiêu đề của thông điệp là một hành động thể hiện niềm tin vào nhân loại, chứ không phải là một bài điếu văn.
Vô hiệu hóa kỹ thuật có nghĩa là tước bỏ một giả định duy nhất của nó: rằng nó có thể quyết định thay chúng ta và, trên hết, rằng nó có thể quyết định nhanh hơn khả năng phán đoán của con người.
Trong chiến tranh thuật toán, vũ khí thực sự là tốc độ. Việc nhắm mục tiêu tự động nén lại trong vài mili giây những gì đạo đức và luật pháp yêu cầu chúng ta phải xem xét – sự xác minh, nghi ngờ, tỷ lệ và khả năng dừng lại. Việc tăng tốc chuỗi quyết định không phải là để tăng độ chính xác về mặt đạo đức. Đó là để xóa bỏ khoảng thời gian mà trong đó đạo đức có thể tồn tại.
Không có chủ nghĩa duy hòa chung chung
Đây là lý do tại sao câu được trích dẫn trong tuyên bố của Vatican — “không có thuật toán nào có thể làm cho chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt đạo đức” (Magnifica Humanitas, 198) — không phải là một tuyên bố về hiệu năng mà là về trách nhiệm giải trình.
Một hệ thống có thể làm giảm sai số thống kê; nhưng nó không thể gánh chịu tội lỗi. Cỗ máy không có vết thương và không có sự hối hận. Trách nhiệm không thể được ủy thác; nó chỉ có thể bị thoái thác, để lại một khoảng trống mà nạn nhân không tìm thấy ai để chịu trách nhiệm về những gì đã xảy ra.
Đây là cốt lõi pháp lý của lời kêu gọi. Luật nhân đạo quốc tế — sự phân biệt, tính tương xứng và sự thận trọng — giả định một chủ thể có khả năng chịu trách nhiệm. Hệ thống vũ khí tự động không vi phạm một quy tắc cụ thể; chúng làm tan biến chủ thể mà mọi quy tắc đều giả định (xem Magnifica Humanitas, 197).
Vấn đề không phải là quy định kỹ thuật mà là nhân học của pháp luật.
Tuy nhiên, cụm từ khó khăn nhất trong chủ đề này là cụm từ cuối cùng: chính trị như trách nhiệm phòng ngừa.
Thế kỷ này mở đầu với học thuyết chiến tranh phòng ngừa—tấn công trước để không bị tấn công. Ở đây, tính từ được lấy khỏi chiến tranh và được phục hồi cho trách nhiệm.
"Việc biến con người thành những con tốt thí chính là điều mà tự động hóa làm cho dễ dàng hơn, bởi vì con tốt thí là một biến số còn khuôn mặt thì không”.
Phòng ngừa không còn có nghĩa là dự đoán đòn đánh mà là dự đoán câu trả lời: gánh vác những gì chưa xảy ra, khi nó vẫn còn có thể đảo ngược. Đó là bài học mà Hans Jonas để lại cho thời đại kỹ thuật.
Khi sức mạnh hành động bền vững vượt quá sức mạnh dự đoán, đạo đức không thể đến sau khi sự việc đã xảy ra. Đây không phải là sự thận trọng của kẻ nhút nhát; đó là chủ nghĩa hiện thực duy nhất hiện có.
Và nó nắm bắt, với một số độ chính xác, công thức Đức Leo XIV đặt ra đối lập với si vis pacem, para bellum: nếu muốn hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh. Quản trị trước khi triển khai, chứ không phải sau khi tai nạn xảy ra.
Người được ngỏ lời được nêu tên một cách cẩn thận: những người “được kêu gọi hành động trong lĩnh vực chính trị”. Sự chỉ dẫn này mang tính hiện thực hơn là giáo điều. Thông điệp giáo hoàng đã lưu ý rằng sức mạnh kỹ thuật không còn nằm chủ yếu ở các quốc gia mà ở một số ít các chủ thể xuyên quốc gia tư nhân nắm giữ nguồn lực lớn hơn nhiều chính phủ (Magnifica Humanitas, 95), với nguyên tắc phân bổ trách nhiệm bị đảo ngược hoàn toàn.
Do đó, lời kêu gọi về “các thỏa thuận chung”: đáp ứng duy nhất tương xứng với quyền lực siêu quốc gia là một cấu trúc pháp lý cũng mang tính siêu quốc gia.
Giống như Đức Phanxicô trong thông điệp Fratelli Tutti, Đức Leo không chủ trương chủ nghĩa duy hòa chung chung. Ngài kêu gọi chính trị một lần nữa trở thành nơi mà tiếng nói cuối cùng được cất lên, chứ không phải là nơi mà những lựa chọn được đưa ra ở thượng nguồn bởi những người thiết kế hệ thống được phê chuẩn ở hạ nguồn.
Thêm một lớp thứ ba
Cuối cùng, có một lý do thần học xuyên suốt tất cả những điều này, và điều đó đáng được làm rõ. Hòa bình không phải là sự im lặng của vũ khí; mà là sự hiện diện của những mối liên kết.
Máy móc xuất sắc trên bàn cờ – tính toán, vị trí, tối ưu hóa, lợi thế – và chính vì lý do đó, nó thất bại trên tấm vải sống động, phức tạp của quan hệ quốc tế.
Chơi cờ là một chuyện; dệt nên những sợi chỉ của một tấm vải lại là chuyện khác. Trên tấm vải đó, không có gì để chiến thắng: người ta đan xen, vá víu và nhận ra. Một hệ thống có thể tối ưu hóa một mục tiêu; nó không thể dung hòa hai lịch sử. Nó có thể tính toán rủi ro; nó không thể tha thứ.
Việc biến con người thành những con tốt thí chính là điều mà tự động hóa làm cho dễ dàng hơn, bởi vì con tốt thí là một biến số còn khuôn mặt thì không.
Việc quay lại với Đức Giáo Hoàng Phaolô VI không chỉ đáng giá vì ngài đã thiết lập việc tuân thủ này. Năm 1964, khi phát biểu tại trung tâm tự động hóa của Dòng Tên thuộc Viện Aloisianum, ngài nói rằng “bộ não máy móc hỗ trợ cho bộ não tâm linh”, và thậm chí nỗ lực truyền tải vào các công cụ cơ khí sự phản ánh của các chức năng tâm linh cũng “được nâng lên thành một sự phục vụ chạm đến điều thánh thiêng”.
Nỗi sợ hãi của thời điểm hiện tại chính là điều ngược lại hoàn toàn với niềm tin đó: rằng bộ não tâm linh sẽ bị truyền tải bằng sự phản ánh của các công cụ cơ khí.
Và Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, trong thông điệp Pacem in Terris, đã nói rõ rằng việc giảm vũ khí là không thể trừ khi “chính tinh thần cũng bị giải trừ”. Giải trừ vũ khí toàn diện chưa bao giờ chỉ đơn thuần là vật chất.
Chủ đề năm 2027 bổ sung thêm một bình diện thứ ba cho yêu cầu đó, một bình diện không hiện hữu vào năm 1963: bộ máy.
Tuy nhiên, không một sự giải trừ vũ khí nào trong ba sự giải trừ đó—giải trừ lời nói, giải trừ trái tim, giải trừ máy móc—là vấn đề kỹ thuật. Cả ba đều là vấn đề chính trị, nghĩa là vấn đề của con người, và do đó mang tính chất tinh thần.
Thông điệp mà chúng ta sẽ đọc vào ngày 1 tháng 1 sẽ nói nhiều hơn và chi tiết hơn. Nhưng chủ đề được công bố hôm nay đã chứa đựng tiêu chuẩn của nó: phục vụ hòa bình, trong thời điểm này, trước hết có nghĩa là không để máy móc thay thế chúng ta phục vụ hòa bình.