BILL DONOHUE
SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC

Làm rõ sự thật và nguyên nhân

NHÀ XUẤT BẢN IGNATIUS PRESS SAN FRANCISCO



LỜI NÓI ĐẦU

Trong nửa thế kỷ qua, Giáo Hội Công Giáo đã trải qua hai vụ tai tiếng: cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục bởi giáo sĩ, do các linh mục và giám mục gây ra, và việc lợi dụng nó, do những người chỉ trích gay gắt Giáo Hội Công Giáo và những người trục lợi từ các vụ kiện pháp lý gây ra. Cả hai đều gây thiệt hại lớn cho Giáo hội.

Vụ tai tiếng lạm dụng tình dục bởi giáo sĩ, vụ tai tiếng I, liên quan đến các vấn đề nội bộ của Giáo Hội Công Giáo và môi trường tạo điều kiện cho nó. Vụ việc chủ yếu diễn ra từ giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1980, mặc dù hậu quả – xét về việc vụ tai tiếng bị phơi bày – mãi đến đầu thế kỷ này mới được công khai. Hai bên liên quan đến vụ tai tiếng – các linh mục lạm dụng tình dục và các giám mục dung túng – đã gây ra tổn hại to lớn cho những người yêu mến Giáo hội và cho hình ảnh công cộng của Giáo hội. Thiệt hại đối với các nạn nhân là không thể đo lường được.

Một ít thập niên qua không hề dễ dàng. Những câu chuyện kinh hoàng về lạm dụng tình dục bởi những người đàn ông mà chúng ta kính trọng đã khiến chúng ta đau lòng, thậm chí phẫn nộ. Điều khó hiểu không kém là các giám mục đã luân chuyển những người đàn ông này từ giáo xứ này sang giáo xứ khác.

Có một vụ tai tiếng khác, Vụ tai tiếng II, cũng đáng được chúng ta quan tâm. Nó là sản phẩm của nhiều bên, bao gồm giới truyền thông, ngành kỹ nghệ giải trí, các nhóm vận động, các nhà hoạt động vì nạn nhân và luật sư của họ, các tổng chưởng lý tiểu bang và những người khác. Họ quyết tâm thúc đẩy quan niệm sai lầm rằng không có tổ chức nào có lịch sử lạm dụng tình dục tồi tệ hơn Giáo Hội Công Giáo. Sự quan tâm thái quá của họ đối với Giáo hội, điều phần lớn vượt quá việc họ dò xét kỹ bất cứ tổ chức nào khác, dường như là hệ quả của lòng thù địch của họ đối với Giáo hội. Nói thẳng ra, họ đang lợi dụng chúng ta – họ đang lợi dụng công chúng bằng cách áp dụng một tiêu chuẩn cho Giáo hội và một tiêu chuẩn khác cho hầu hết các tổ chức khác. Và hãy thành thật mà nói, làm như vậy có thể kiếm được rất nhiều tiền.

Rồi đến những vị linh mục tốt. Họ là ai? Họ là phần lớn các linh mục trong hàng giáo sĩ của Giáo hội. Họ đã bị biến thành vật tế thần, bị bêu xấu, bị sỉ nhục, và trong một số trường hợp, bị bỏ mặc tự lo liệu. Quyền của họ ở đâu? Không có tổ chức ACLU nào đứng ra bảo vệ họ. Không, những người bảo vệ quyền tự do dân sự dường như quan tâm hơn đến việc bảo vệ quyền của những kẻ bị nghi ngờ là khủng bố.

Có tin tốt nào không? Có. Đã có những tiến bộ lớn. Thật vậy, trong số các tổ chức tôn giáo và thế tục, ngày nay không có nơi nào an toàn hơn cho giới trẻ ngoài Giáo Hội Công Giáo.

Tôi đã tham gia vào nhiều sự kiện được nêu chi tiết trong cuốn sách này. Tôi hy vọng rằng, với tư cách là một nhà xã hội học và một nhà lãnh đạo Công Giáo, tôi có thể phá bỏ nhiều lầm tưởng về vụ tai tiếng này. Chúng ta được kêu gọi nói lên sự thật, chứ không phải che đậy nó. Đó là điều tôi đã đặt ra mục tiêu thực hiện.

PHẦN I
Phân biệt sự thật và hư cấu
1. Người Công Giáo không phải là người chịu trách nhiệm vấn đề này


Việc gán mác tất cả các linh mục là kẻ săn mồi tình dục có một lịch sử lâu dài và tồi tệ ở Hoa Kỳ. Vào giữa những năm 1830, cuốn sách "Những tiết lộ kinh khủng của Maria Monk" trở thành sách bán chạy nhất, chỉ đứng thứ hai sau Kinh thánh trong ngành xuất bản tôn giáo của Mỹ. Mặc dù hoàn toàn sai sự thật, cuốn sách này đã cổ vũ quan niệm cho rằng các nữ tu là nô lệ tình dục của các linh mục; những kẻ phạm tội được cho là đã vào tu viện thông qua các đường hầm dưới lòng đất. Tác giả chính của những điều vô lý này là Mục sư J.J. Slocum, một mục sư Thệ Phản. Sau khi bán được ba trăm nghìn bản trước Nội chiến, ông đã thành công trong việc đầu độc tâm trí của những người theo chủ nghĩa bản địa căm ghét Công Giáo. (1)

Trong thế kỷ XX, Hitler đã tiếp nối câu chuyện của Maria Monk. David Kertzer là tác giả của một cuốn sách được đón nhận nồng nhiệt về Giáo Hội Công Giáo. Ông đã được một phóng viên của Đài Phát thanh Quốc gia hỏi về một bình luận mà ông đã đưa ra, nói rằng Hitler đã đe dọa làm ô nhục Giáo Hội Công Giáo. Phản ứng của Kertzer thật đáng kinh ngạc:

[Hitler] đang nói về ấu dâm và các loại tai tiếng tình dục khác. Và trên thực tế, ông ta đã tạo ra một loạt các phiên tòa xét xử đạo đức cấp cao chống lại các linh mục, nhưng cũng chống lại các tu sĩ nam và nữ, trong đó họ bị buộc tội với đủ loại hành vi đồi trụy như thác loạn và lạm dụng trẻ em, v.v. Và ông ta đã coi đây—Hitler coi đây như một loại vũ khí mà ông ta có thể sử dụng để làm mất uy tín của Giáo Hội Công Giáo. (2)

Nếu Maria Monk và Hitler tìm cách làm mất uy tín của Giáo hội, thì kẻ thù ngày nay tìm cách làm suy yếu Giáo hội. Thay vì nói dối một cách ác ý, họ thích thuyết phục công chúng rằng Giáo Hội Công Giáo có một vấn đề đặc biệt với những kẻ phạm tội tình dục. Điều này rõ ràng là không đúng sự thật. Người Công Giáo không phải là người duy nhất có vấn đề này.

Ban biên tập của tờ Philadelphia Inquirer thừa nhận rằng “đã có những vụ tai tiếng lạm dụng tình dục tại các định chế khác, bao gồm các trường công lập, đại học, các tổ chức tôn giáo khác, giới truyền thông, chính trị và Hollywood. Nhưng không nơi nào lạm dụng lại lan rộng và trách nhiệm giải trình bị coi thường như trong Giáo Hội Công Giáo.” (3) Tờ Washington Post đồng ý, cho rằng Giáo hội có “lịch sử độc nhất vô nhị như một nơi trú ẩn cho những kẻ lạm dụng”. (4) Như sẽ được chứng minh, cả hai bài xã luận đều không chính xác về mặt sự kiện.

Trường Cao đẳng Tư pháp Hình sự John Jay ở Thành phố New York, nơi đã thực hiện hai nghiên cứu lớn về lạm dụng tình dục của giáo sĩ cho Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB), đã đi đến một kết luận khác. “Nạn nhân hóa tình dục trẻ em là một vấn đề nghiêm trọng và phổ biến trong xã hội. Nó hiện diện trong các gia đình, và không phải là hiếm gặp trong các tổ chức nơi người lớn hình thành các mối quan hệ cố vấn và nuôi dưỡng với thanh thiếu niên, bao gồm các trường học và các tổ chức tôn giáo, thể thao và xã hội.” (5) Trường cao đẳng này cũng tuyên bố, trích dẫn hai nghiên cứu của mình, rằng “không có tổ chức nào tiến hành một nghiên cứu về chính mình theo cách thức của Giáo Hội Công Giáo”; Điều này vẫn đúng cho đến ngày nay. (6)

Các nhà nghiên cứu của Đại học John Jay đáng được ghi nhận vì đã đưa ra bản tóm tắt ngắn gọn về nhiều tổ chức thế tục và tôn giáo đã bị vướng vào các vấn đề lạm dụng tình dục.(7) Tuy nhiên, vẫn có những điểm không nhất quán. Báo cáo đầu tiên ghi nhận rằng “rất ít trường hợp [lạm dụng] được báo cáo cho cảnh sát.” (8) Nhưng cùng một báo cáo lại nói rằng “khoảng 24% linh mục bị cáo buộc lạm dụng đã được báo cáo cho cảnh sát.” (9) Nhận xét về tổng số trên toàn quốc bao gồm mọi lĩnh vực của xã hội, báo cáo cho biết, “Chỉ có 5.7% các vụ việc được báo cáo cho cảnh sát.” (10) Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo đã làm tốt hơn nhiều.

Năm 1985, một cuộc khảo sát của tờ Los Angeles Times cho thấy 27% nữ giới và 16% nam giới cho biết họ đã bị lạm dụng tình dục khi còn nhỏ.

Chỉ 3% trong số những trường hợp bị cáo buộc đó được báo cáo cho cảnh sát. (11) Năm 2010, Ernie Allen, chủ tịch Trung tâm Quốc gia về Trẻ em Mất tích và Bị Bóc lột, cho biết: “Chúng tôi không coi Giáo Hội Công Giáo là ổ chứa vấn nạn này [lạm dụng tình dục trẻ em] hay là nơi có vấn đề nghiêm trọng hơn bất cứ nơi nào khác.” (12) Năm 2019, người ta nói rằng “hơn 60,000 trẻ em được báo cáo là bị lạm dụng mỗi năm, nhiều hơn số trẻ em bị giết bằng súng hoặc xe hơi.” (13)

Lạm dụng tình dục trong các tổ chức tôn giáo không thuộc Công Giáo

Không có tổ chức tôn giáo nào khác thu thập dữ liệu về giáo sĩ của mình, và về rất nhiều biến số, theo cách mà Giáo Hội Công Giáo làm. Hầu hết các tôn giáo đều phi tập trung và thiếu các giao thức thống nhất để lưu trữ hồ sơ. Đó là điểm cộng và điểm trừ đối với Giáo hội. Đó là điểm cộng vì chúng ta có hồ sơ chính xác hơn nhiều về các linh mục và phó tế so với những người tương ứng trong các tôn giáo khác. Đó là một điểm trừ vì các luật sư muốn bòn rút tiền của Giáo hội có một nguồn dữ liệu đáng tin cậy và phong phú để sử dụng. Ngay cả khi cho phép so sánh không chính xác, từ những gì chúng ta biết, rõ ràng là Giáo Hội Công Giáo không độc quyền về vấn nạn lạm dụng tình dục.

Mục sư Jimmy Hinton chủ trì giáo đoàn Church of Christ ở Somerset, Pennsylvania. Nói về vấn nạn lạm dụng tình dục, ông viết, “Một số người cho rằng đây là vấn đề của riêng Giáo Hội Công Giáo. Không phải vậy, hoàn toàn không phải. Có rất nhiều trường hợp khác nữa. “Nhiều nhà thờ Thệ Phản và phi giáo phái che đậy hành vi lạm dụng và cố tình chuyển những kẻ lạm dụng từ nhà thờ này sang nhà thờ khác, hoặc âm thầm bác bỏ một kẻ lạm dụng đã biết và không buồn kiểm tra kẻ lạm dụng đó cũng như không biết họ định cư ở đâu.” (14) Basyle Tchividjian, giáo sư luật tại Đại học Liberty và là cháu trai của Billy Graham, đồng ý. Ông nói: “Người Thệ Phản có thể rất kiêu ngạo khi chỉ trích người Công Giáo. Tôi nghĩ chúng tôi còn tệ hơn.” (15)

Vào mùa xuân năm 2002, khi vụ tai tiếng lạm dụng tình dục trong Giáo Hội Công Giáo nhận được sự chú ý chưa từng có, tờ Christian Science Monitor đã đưa tin về kết quả các cuộc khảo sát quốc gia của Christian Ministry Resources. Kết luận thật đáng kinh ngạc. “Mặc dù các tiêu đề tập trung vào vấn đề linh mục ấu dâm trong Giáo Hội Công Giáo Rô-ma, hầu hết các nhà thờ Mỹ bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em đều là Thệ Phản, và hầu hết những kẻ bị cáo buộc lạm dụng không phải là giáo sĩ hay nhân viên, mà là các tình nguyện viên của nhà thờ.” (16) Giáo sư Philip Jenkins, tác giả của một cuốn sách về vụ tai tiếng Công Giáo, đã xác định rằng từ 0.2 đến 1.7% linh mục là những kẻ ấu dâm. Tỷ lệ này trong giới giáo sĩ Thệ Phản dao động từ 2 đến 3 phần trăm. (17)

Năm 2018, tờ Fort Worth Star-Telegram đã điều tra về lạm dụng tình dục tại các nhà thờ Baptist theo chủ nghĩa chính thống độc lập. Tờ báo này phát hiện 187 nhà thờ bị cáo buộc lạm dụng, liên quan đến 412 trường hợp hành vi sai trái tình dục. (18) Các nhà thờ hoạt động độc lập, nhưng một số thống thuộc các trường đại học. “Bạn không báo cáo với cảnh sát vì mục sư là người có thẩm quyền tối cao, chứ không phải chính phủ”, một người đi nhà thờ cho biết. Một tín hữu khác, người đã hai lần thoát khỏi việc trở thành nạn nhân của hành vi lạm dụng tình dục, nói rằng, “Trong chủ nghĩa chính thống cực đoan, phương thức hành động là các mục sư, nhà thờ và các tổ chức tôn giáo thường che đậy và giấu nhẹm những chuyện nghiêm trọng đến mức kinh khủng”. Điều gì xảy ra cho các mục sư che đậy hành vi lạm dụng? Không những hậu quả “hiếm khi xảy ra”, mà trong một số trường hợp, “người bị lạm dụng thậm chí còn bị buộc phải xin lỗi trước toàn thể giáo đoàn.” (19)

Các phóng viên phát hiện ra rằng các nhà thờ này sử dụng ba chiến thuật chính: “Các mục sư chuyển những người bị nghi ngờ lạm dụng đến các nhà thờ khác hoặc các trường học liên kết với nhà thờ”; “các mục sư giới thiệu một người bị nghi ngờ lạm dụng cho một công việc mới mà không thông báo cho nhà thờ hoặc trường học về các cáo buộc”; “các mục sư gây áp lực buộc nạn nhân giữ im lặng, nói với họ rằng họ sẽ hủy hoại chức vụ của người bị cáo buộc lạm dụng hoặc các mục sư đơn giản là không tin vào những lời buộc tội.” (20) Một số thành viên của hàng giáo sĩ Công Giáo cũng làm chính những điều tương tự, nhưng sự phán đoán tồi tệ của họ đã được phát sóng khắp cả nước, và trong nhiều năm liền.

Hội thánh Baptist miền Nam là giáo phái Thệ Phản lớn nhất trong cả nước. Một cuộc khảo sát năm 1993 của Tạp chí Chăm sóc Mục vụ cho thấy 14% mục sư Baptist miền Nam cho biết họ đã tham gia vào “hành vi tình dục không phù hợp”, và 70% cho biết họ biết một mục sư đã có liên hệ như vậy với một thành viên nhà thờ. (21)

Năm 2019, một cuộc điều tra của Houston Chronicle và San Antonio Express News phát hiện ra rằng hơn bảy trăm người, hầu hết là trẻ em, đã bị lạm dụng tình dục bởi các mục sư, nhân viên nhà thờ hoặc tình nguyện viên của Hội Thánh Baptist miền Nam trong hai thập niên qua. (22) Các tờ báo cũng tiết lộ rằng gần bốn trăm nhà lãnh đạo Hội Thánh Baptist miền Nam đã nhận tội hoặc bị kết án về tội phạm tình dục. Các phóng viên cho biết một số nhà thờ này sử dụng các thỏa thuận bằng văn bản cung cấp sự bảo vệ pháp lý cho tổ chức và cấm các thành viên kiện nhà thờ. Tệ hơn nữa, một công ty phòng chống lạm dụng có tổ chức, MinistrySafe, được cho là người bênh vực nạn nhân, lại do các cố vấn pháp lý của một số nhà thờ điều hành. (23)

Nhân Chứng Giê-hô-va cũng có lịch sử lạm dụng tình dục. Tờ New York Times phát hiện ra rằng hầu hết các nạn nhân được báo cáo là nữ và “nhiều cáo buộc liên quan đến loạn luân”. (24) Một người đàn ông trưởng thành đã lên tiếng vào năm 2019 để kể về việc anh ta bị một trưởng lão nhà thờ lạm dụng tình dục khi anh ta hai hoặc ba tuổi. Điều này diễn ra, “khoảng bốn đến sáu lần một tuần”, trong bốn năm. Kẻ lạm dụng đã thụ án ba năm rưỡi trong tù và sau đó trở lại làm mục sư. Một “văn hóa bí mật” đã ngăn cản các tín hữu mới biết về quá khứ của ông ta. (25)

Không có nhiều thông tin về lạm dụng tình dục trong cộng đồng Hồi giáo, nhưng tình hình đủ tồi tệ để dẫn đến việc thành lập Facing Abuse in Community Environments (FACE). Tổ chức này được thành lập bởi các nhà hoạt động và luật sư nữ Hồi giáo để truy bắt những kẻ săn mồi.

Trong một trường hợp gây xôn xao dư luận năm 2019, một imam từ Texas bắt đầu tư vấn cho một cô gái mười ba tuổi, và năm năm sau, ông ta tự xưng là chồng tiềm năng của cô. Vào thời điểm đó, ông ta đã có hai vợ và không có ý định kết hôn với cô gái, “Jane Doe”. Ông ta bắt đầu “dụ dỗ Jane trở nên gợi cảm hơn và cuối cùng tham gia vào các hành vi tình dục bất hợp pháp với ông ta”. FACE chịu trách nhiệm đưa ông ta ra trước công lý. (26)

Năm 2020, Dự án Hurma được ra mắt để chống lại lạm dụng tình dục trong cộng đồng Hồi giáo. Theo người sáng lập người Canada, Ingrid Mattson, thuật ngữ hurma có nghĩa là sự bất khả xâm phạm thiêng liêng khỏi sự bóc lột và lạm dụng. Mattson, người phụ nữ đầu tiên, người cải đạo đầu tiên và người Bắc Mỹ đầu tiên giữ chức chủ tịch của Hiệp hội Hồi giáo Bắc Mỹ, đã tổ chức một hội nghị tại Trường Cao đẳng Hồi giáo Hoa Kỳ vào năm 2020 để thu hút sự chú ý đến vấn nạn lạm dụng tình dục trong cộng đồng Hồi giáo. Họ được tổ chức để đưa “vấn nạn lạm dụng tình dục của các sheikh ra khỏi bóng tối”. (27)

Người Do Thái cũng gặp phải vấn đề lạm dụng tình dục. Năm 2019, gần một năm sau khi một cuộc điều tra độc lập kết luận giám đốc điều hành của tổ chức cắm trại lớn nhất Bắc Mỹ phạm tội lạm dụng hoặc quấy rối tình dục, toàn bộ hội đồng quản trị của NJY Camps, một hiệp hội Do Thái ở New Jersey, đã từ chức. Hội đồng gồm sáu mươi thành viên đã bỏ phiếu giải tán sau khi biết rằng ban lãnh đạo cấp cao đã biết về hành vi sai trái tình dục trong nhiều năm nhưng không làm gì cả. (28)

Khi một thành viên của giáo sĩ Công Giáo bị nghi ngờ lạm dụng tình dục, người đó sẽ bị đưa ra trước tòa án để điều tra. Nếu vụ việc được coi là đáng tin cậy, các nhà chức trách sẽ được liên hệ, trong khi chờ điều tra. Trong giới Do Thái Chính thống, một tòa án giáo sĩ, hay beth din, tiến hành điều tra, và chính quyền không bao giờ được thông báo. Ngay cả giới truyền thông cũng không được biết. “Không ai được phép cung cấp cho bất cứ phương tiện truyền thông nào thông tin về bất cứ cư dân nào mà nếu được công khai, có thể dẫn đến một cuộc điều tra hoặc truy tố mạnh hơn bởi bất cứ cơ quan thực thi pháp luật nào.” Đó là cách một beth din ở Brooklyn xử lý các vấn đề. (29)

David Zwiebel, một luật sư nổi tiếng ở New York chuyên xử lý các vụ lạm dụng tình dục cho người Do Thái Chính thống, nói rõ rằng theo luật tôn giáo, nếu một giáo sĩ nói với một trong những người theo ông ta không được báo cảnh sát, người này phải tuân theo phán quyết đó. Zwiebel, một lãnh đạo của Agudath Israel, không ngần ngại lên án những người bất đồng chính kiến Chính thống lên tiếng về lạm dụng tình dục. Ông cáo buộc họ buôn bán “tin đồn ác ý, lời lẽ xấu xa và lãng phí thời gian”, tất cả đều bị Tô-ra cấm. (30) Giới truyền thông xử lý những trường hợp như vậy một cách qua loa, như thể đó là một câu chuyện về con người. Tuy nhiên, nếu các giám mục Công Giáo nói với giáo dân rằng theo luật Giáo hội, họ không được phép liên hệ với chính quyền dân sự khi nghi ngờ có tội phạm, họ sẽ trở thành tâm điểm của những bài báo gây chấn động.

Còn tiếp