“Đức tin Công Giáo luôn là một phần của câu chuyện nước Mỹ. Buổi lễ Kitô giáo đầu tiên trên đất nước chúng ta là Thánh lễ Công Giáo.”

Tạp chí National Catholic Register, trong bản tin ngày 12 tháng 5 năm 2026, cho hay: Ngoại trưởng Marco Rubio đã có bài phát biểu trực tuyến vào ngày 9 tháng 4 trong hội nghị “Được ban tặng bởi Đấng Tạo Hóa: Công Giáo, Tuyên ngôn Độc lập và Thí nghiệm nước Mỹ nhân kỷ niệm 250 năm”.
Được tổ chức bởi Trung tâm Hiến pháp và Truyền thống Trí thức Công Giáo (CIT) tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ, cùng với Trung tâm Công dân và Chính phủ Hiến pháp của Đại học Notre Dame và Diễn đàn Carroll về Công dân và Đời sống Công cộng của Đại học Công Giáo, hội thảo này đã kỷ niệm 250 năm thành lập quốc gia.
Dưới đây là toàn văn bài phát biểu của Bộ trưởng Rubio, được đăng tải với sự cho phép.
Năm 1895, Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã viết một thông điệp gửi đến Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ.
Ngài viết: “Tất cả những người thông minh đều đồng ý rằng nước Mỹ dường như được định sẵn cho những điều vĩ đại hơn. Giờ đây, chúng tôi mong muốn Giáo Hội Công Giáo không chỉ chia sẻ mà còn giúp hiện thực hóa viễn cảnh vĩ đại này.” Nhưng như Đức Thánh Cha đã lưu ý, Giáo hội đã hiện diện ở đây ngay từ đầu.
Bốn thế kỷ trước đó, một nhà thám hiểm Công Giáo đã mạo hiểm tiến vào vùng đất chưa được biết đến và trở về nhà với câu chuyện, như ông đã viết trong một bức thư, về một “vùng đất được ban tặng nhiều hơn những gì tôi biết hoặc tôi có thể nói.”
Ít khoảnh khắc nào trong lịch sử lại mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Christopher Columbus đã khôi phục niềm tin của phương Tây vào chính mình và khởi đầu thời đại vĩ đại của khám phá, thám hiểm và bành trướng, từ đó nước Mỹ ra đời.
Một số người cho rằng đức tin Công Giáo là một thứ du nhập từ nước ngoài vào đất nước chúng ta. Chỉ có một trong số 56 người ký Tuyên ngôn Độc lập là người Công Giáo: Charles Carroll của Maryland, người mà một trong những người chủ trì hội nghị này được đặt tên theo. Chỉ có hai cái tên Công Giáo xuất hiện trên chính Hiến pháp của chúng ta, nhưng đức tin Công Giáo luôn là một phần của câu chuyện nước Mỹ. Lễ nghi Kitô giáo đầu tiên trên đất nước chúng ta là một Thánh lễ Công Giáo.
Khu định cư lâu đời nhất ở Hoa Kỳ là thị trấn St. Augustine, được những người Công Giáo Tây Ban Nha thành lập trên bãi cát ven biển của tiểu bang Florida quê hương tôi. Các vị thánh Công Giáo đã tử đạo trên đất Mỹ hơn một thế kỷ trước khi cuộc cách mạng bắt đầu. Trong các giáo xứ và khu định cư, các pháo đài hoang dã và các trạm giao dịch trải dài từ các thuộc địa đầu tiên đến vùng biên giới xa xôi, các nhà thám hiểm, binh lính, linh mục và những người tiên phong Công Giáo đã thánh hiến thế giới mới này cho đức tin cổ xưa của họ và đặt tên Công Giáo cho vùng đất này.
Maryland, St. Louis, San Francisco, Santa Fe, hầu hết mọi vùng của nước Mỹ ngày nay đều được người Công Giáo khám phá và lập bản đồ đầu tiên. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Kitô giáo đã dạy phương Tây suy nghĩ theo lục địa và thế kỷ chứ không phải theo làng mạc và mùa vụ. Giáo hội kêu gọi chúng ta, như Chúa Kitô đã nói với Thánh Phêrô Duc in Altum, hãy ra khơi. Từ những khu rừng của châu Âu ngoại giáo đến vùng hoang dã của Bắc Mỹ, người Công Giáo đã đáp lại lời kêu gọi để mang những thế giới mới đến với Chúa Kitô.
Đây là di sản đã định hình nên quốc gia tiên phong của chúng ta. Tinh thần bành trướng và khám phá đã chinh phục các lục địa, mở khóa những bí ẩn của vũ trụ, và cuối cùng vượt qua giới hạn của chính trái đất. Đó cũng chính là tinh thần đã dẫn dắt 56 người Mỹ cam kết hiến dâng cuộc sống, tài sản và danh dự thánh thiêng của mình cho nhau trong sự nghiệp độc lập cách đây hai thế kỷ rưỡi.
Người Công Giáo và các thuộc địa đã đổ xô tham gia cùng họ, gia nhập quân đội để chiến đấu cho những người yêu nước với tỷ lệ vượt xa tỷ lệ dân số của họ. Năm 1790, George Washington đã viết thư cho người Công Giáo Rô-ma ở Mỹ để đích thân cảm ơn họ về phần đóng góp yêu nước của họ trong những thành tựu của cuộc cách mạng. Ngày nay, người ta thường cho rằng sự thành lập quốc gia chỉ là sản phẩm trí tuệ của thời kỳ Khai sáng, nhưng cuộc cách mạng không phải là một sự đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ. Đó là sự đổi mới một di sản lâu đời phù hợp với trải nghiệm độc đáo của một dân tộc Kitô giáo tự do ở thế giới mới. Di sản đó dựa trên những quyền tự do cổ xưa của Hiến pháp Anh và thường luật [commmon law], nhưng nó đặt nền móng cho những truyền thống này trên một trật tự đạo đức cố định và bất biến được chi phối bởi luật tự nhiên và Thiên Chúa của tự nhiên. Chân lý cơ bản này ban cho con người không chỉ quyền mà còn cả nghĩa vụ.
Nó quan niệm tự do và nhân đức như gắn bó không thể tách rời. Chúng ta thấy điều này trong cấu trúc của trật tự chính trị của chúng ta, được xây dựng không phải để dung túng sự phóng túng, mà để kiềm chế đam mê, kiểm soát tham vọng bằng tham vọng và bảo đảm lợi ích chung. Tất nhiên, đúng là hầu hết những người viết nên các văn kiện lập quốc của chúng ta không phải là người Công Giáo, nhưng hệ thống đã mang lại cho chúng ta thuộc cùng một truyền thống văn minh đã tạo nên những nhà thờ nguy nga của Rome và triết học của Augustine và Aquinas.
Nước Mỹ là một hồng phúc, nơi Giáo hội và nền văn minh mà nó tạo ra được tái sinh, tự khám phá lại chính mình trong vùng đất hoang sơ. Nó vừa hiện đại vừa cổ kính. Những người đã định cư và thành lập đất nước chúng ta là những kiến trúc sư của một cuộc tái sinh vĩ đại, làm mới những giấc mơ bị trì hoãn của thế giới cũ và những khả năng của một lục địa còn nguyên sơ. Đã 250 năm kể từ khi dân tộc mới tuyên bố mình với thế giới.
Vào thời điểm đó, chưa đến 2% là người Công Giáo, nhưng quốc gia mà họ xây dựng sẽ trở thành một trong những minh chứng đáng tự hào và bền vững nhất cho chân lý vĩnh cửu của đức tin chúng ta. Nhìn vào lịch sử của vùng đất vàng này là nhìn thấy dung mạo của Chúa.