Cha Raymond J. de Souza, Thứ Bảy, ngày 25 tháng 7 năm 2026, trên tạp chí The Catholic Thing có bài phân tích với tiêu đề như trên. Theo Cha: Ba Lan là một quốc gia trường tồn nhờ ký ức, một vùng đất nơi các ngày kỷ niệm được đánh dấu với sự trân trọng đặc biệt. Đó là nơi tôi học được cách kỷ niệm các ngày lễ như một phương tiện để giữ cho những bài học lịch sử luôn sống động. Ngày kỷ niệm, với sự lặp lại hàng năm, có chronos (“thời gian”) làm tham chiếu, nhưng nó làm hiện diện lại những khoảnh khắc kairos (thời điểm “thích đáng”) trong quá khứ. Bản thân phụng vụ cũng mang tính chất kỷ niệm.
Trong hơn ba mươi năm, George Weigel đã dẫn dắt một hội thảo kéo dài ba tuần tại Kraków về xã hội tự do, được thành lập vào năm 1992 cùng với các đồng nghiệp quá cố của ông là Michael Novak, Cha Richard John Neuhaus và Cha Maciej Zięba, OP. Từ khi Cha Richard qua đời năm 2009, tôi đã là một phần của đội ngũ giảng viên ở đây, mặc dù chắc chắn tôi không thể thay thế vị trí của ngài.
Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một người con của Ba Lan, đã làm sâu sắc thêm trực giác lâu đời của Giáo hội về các ngày kỷ niệm, tuyên bố trong những lời đầu tiên của thông điệp đầu tiên của ngài rằng triều đại giáo hoàng của ngài sẽ hướng tới Đại Năm Thánh 2000. Ngài đã sống trong thiên niên kỷ Ba Lan được rửa tội năm 1966 như một thời kỳ đổi mới tinh thần, thống nhất dân tộc và kháng chiến văn hóa chống lại chủ nghĩa Cộng sản.
Ở Ba Lan, các ngày kỷ niệm được ghi nhớ dễ dàng hơn. Năm nay tôi đã suy nghĩ về bốn vị Hồng Y người Ba Lan đã định hình cuộc đời và sứ vụ của vị giáo hoàng người Ba Lan.
Ngày 3 tháng 8 đánh dấu kỷ niệm 125 năm (“quasquicentennial”) ngày sinh của Hồng Y Stefan Wyszyński, người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Ba Lan trong ba mươi ba năm, từ năm 1948 đến năm 1981. Theo đánh giá của Weigel, ông là “lãnh đạo không thể tranh cãi của một Giáo hội đã trở thành nơi lưu giữ an toàn bản sắc dân tộc Ba Lan trong suốt bốn thập niên nỗ lực của chế độ Cộng sản nhằm tạo ra Con người Xô Viết Mới”.
Được phong chân phước năm 2021, Đức HY Wyszyński được biết đến rộng rãi với danh hiệu “Giáo chủ của Thiên niên kỷ”. Ngài bị bắt tại nhà riêng ở Warsaw và bị giam cầm ở vùng nông thôn Ba Lan trong ba năm, từ năm 1953 đến năm 1956. Sau khi được thả, ngài tuyên bố Đại Cửu Nhật, chín năm chuẩn bị cho lễ kỷ niệm nghìn năm Ba Lan trở thành một quốc gia Kitô giáo với lễ rửa tội của Mieszko I vào Thứ Bảy Tuần Thánh năm 966.
Lễ kỷ niệm thiên niên kỷ đã chứng minh một cách dứt khoát rằng Công Giáo Ba Lan mạnh hơn chủ nghĩa Cộng sản Xô Viết. Karol Wojtyła được thụ phong giám mục và được bổ nhiệm làm tổng giám mục Kraków trong Đại Cửu Nhật; từ Wyszyński, ngài đã học được cách đối phó với những kẻ độc tài.
Cách tiếp cận của Wyszyński đã khiến ngài bị nghi ngờ ở Rome. Dưới thời Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII, ngài bị cho là quá dễ dãi với chế độ Stalin mới bằng cách tìm kiếm không gian để xoay sở; dưới thời Thánh Phao-lô VI, ngài lại quá chống đối chính sách Ostpolitik (dễ dãi hơn) của Đức Giáo Hoàng.
Nhân vật có ảnh hưởng lớn trong quá trình hình thành nhân cách của Wojtyła là giám mục đã phong chức linh mục cho ngài vào năm 1946, Adam Sapieha, tổng giám mục của Kraków. Là người kế nhiệm Thánh Stanisław lâu nhất, Đức HY Sapieha trong bốn mươi năm (1911-1951) đã phải chịu đựng những thảm họa khủng khiếp nhất có thể tưởng tượng được – hai cuộc chiến tranh thế giới, cuộc xâm lược Ba Lan của Đức Quốc xã (trại Auschwitz nằm trong giáo phận của ngài), và Liên Xô, những người sẽ "giải phóng" Ba Lan sau chiến tranh.
Trong khi giáo chủ Ba Lan, Đức Hồng Y August Hlond, phải sống lưu vong trong Thế chiến II, Đức HY Sapieha vẫn ở lại. Nhà thờ chính tòa của ngài nằm đối diện quảng trường trên đồi Wawel với cung điện hoàng gia nơi thống đốc Đức Quốc xã Hans Frank từng cư trú. Đức HY Sapieha, xuất thân từ tầng lớp quý tộc, là “hoàng tử bất khuất” của phong trào kháng chiến Ba Lan, che giấu các chủng sinh bí mật của mình trong dinh thự riêng. Trong số đó có Wojtyła, người mà ngài sẽ phong chức linh mục trong nhà nguyện riêng của mình.

Bảy mươi lăm năm sau khi ngài qua đời vào ngày 23 tháng 7 này, Đức HY Sapieha không nổi tiếng bằng Wyszyński, nhưng ngài là nhân vật quan trọng hơn trong cuộc đời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
Đức HY Wyszyński và Đức HY Sapieha được Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII phong Hồng Y; Đức HY Sapieha sau một thời gian dài trì hoãn do không được lòng Giáo hoàng Pi-ô XI. Đức HY Marian Jaworski, người có kỷ niệm 100 năm ngày sinh vào ngày 21 tháng 8, lần đầu tiên được người bạn của mình, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, phong làm Hồng Y danh dự vào năm 1998 và sau đó được tấn phong vào năm 2001.
Đức HY Jaworski sinh ra ở Lviv, nay thuộc Ukraine, vào năm 1926 khi đó là một phần của Ba Lan. Lviv là một thành phố chị em về mặt tinh thần với Kraków; thậm chí kiến trúc vật chất của chúng cũng tương tự nhau. Nơi đây từng là trụ sở của người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine, nay đã chuyển đến Kiev. Đây cũng là trung tâm của Giáo Hội Công Giáo Rôma ở Ukraine. Bản thân Đức HY Sapieha đã được thụ phong linh mục ở Lviv vào năm 1893.
Năm 1945, khi Liên Xô đàn áp dã man người Công Giáo Ukraine, tổng giám mục Latinh của Lviv, Eugeniusz Baziak, đã chạy trốn về phía tây sang Ba Lan cùng với các chủng sinh của mình, trong đó có Jaworski. Họ cư trú đầu tiên tại đền thờ Kalwaria Zebrzydowska, gần quê hương Wadowice của Đức HY Wojtyła. Đức TGM Baziak đã phong chức linh mục cho Jaworski tại đó.
Sau đó, Đức TGM Baziak chuyển đến Kraków, kế nhiệm Đức HY Sapieha làm tổng giám mục. Ngài đã phong chức Giám Mục Phụ Tá cho Wojtyła vào năm 1958. Trong khi đó, Đức HY Jaworski được giao nhiệm vụ giảng dạy triết học và thần học tại các chủng viện, và có thời gian sống cùng Giám mục Wojtyła trong cùng một dinh thự dưới chân núi Wawel.
Năm 1967, Đức HY aworski thay thế người bạn của mình thuyết trình. Chuyến tàu ngài đi bị tai nạn, và một phần cánh tay trái của ngài phải bị cắt cụt. Đức HY Wojtyła cho rằng người bạn của mình đã chịu đựng vì sứ mệnh của mình.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm Đức HY Jaworski làm tổng giám mục Lviv năm 1984, mặc dù Liên Xô ngăn cản ngài vào Ukraine cho đến năm 1991. Ngài có nhiệm vụ tái thiết Giáo hội Latinh Ukraine sau khi Ukraine giành lại độc lập. Ngài vẫn là một người bạn thân thiết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho đến cuối đời. Trên giường bệnh năm 2005, ngài đã ban Bí tích Thánh Thể cho vị Giáo hoàng đang hấp hối. Đức HY Jaworski qua đời năm 2020 và được chôn cất tại Kalwaria, thánh địa mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viếng thăm vô số lần.
Đức Hồng Y Andrzej Maria Deskur không có cột mốc kỷ niệm nào trong năm nay, nhưng tôi vẫn đưa ngài vào danh sách vì ngài được thụ phong linh mục cùng năm với Đức Hồng Y Jaworski vào năm 1950. Là giám mục người Ba Lan cao cấp nhất trong Giáo triều La Mã những năm 1970, ngài đã kết bạn với Đức Hồng Y Wojtyła khi ngài làm việc tại Rome. Một ngày trước Mật nghị Hồng Y lần thứ hai năm 1978, Đức Hồng Y Deskur bị đột quỵ nghiêm trọng.
Đức Hồng Y Wojtyła đã đến thăm ngài tại bệnh viện và sau đó trực tiếp đến Mật nghị. Ngài trở lại bệnh viện sau khi được bầu chọn, và Đức Hồng Y Deskur nói với ngài rằng ngài sẽ dâng hiến những đau khổ của mình cho vị Giáo hoàng mới và sứ vụ của ngài. Ngài bị liệt, phải ngồi xe lăn suốt phần đời còn lại. Ngài sống lâu hơn cả Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, qua đời năm 2011, và được chôn cất tại đền thờ Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ở Kraków gần Vương cung thánh đường Lòng Thương Xót Chúa. Trên mộ ngài không phải là khẩu hiệu giám mục của ngài, mà là “Salvifici doloris”, tiêu đề bức thư của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về sự đau khổ cứu chuộc.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II coi Ba Lan là một vùng đất "có trách nhiệm đặc biệt trong việc làm chứng". Trong số các Hồng Y người Ba Lan sống cùng thời với ngài có bốn vị cao quý.